danvienxitochauthuy

Dẫn Vào Thư Gửi Tín Hữu Galát (Raymond E. Brown)

Chuyển ngữ: Lm.nađô Trần Nghiêm, O.Cist.

Nguyên tác: An Introduction to the New Testament

Ở một khía cạnh nào đó, thư này được coi là có tính cách Phaolô nhất so với các thư khác. Trong thư này, chính sự tức giận khiến Phaolô nói ra những gì ngài thực sự suy nghĩ. Xét về cơn giận thì chỉ có một vài phần Phaolô tỏ ra như thế này trong 2 Côrintô; vì với lòng nhiệt thành như ngôn sứ Amốt, Phaolô từ bỏ ngôn ngữ ngoại giao khi thách thức các tín hữu Galát. Không có gì ngạc nhiên khi những nhà canh tân hay cải cách Kitô giáo nóng lòng muốn hội thánh lớn mạnh hơn bằng một cuộc đảo ngược tình thế 180 độ nên đã kêu gọi sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh mãnh liệt như trong thư Galát. Marcion đã biến sự tương phản của Phaolô giữa đức tin và việc làm của Lề Luật[1] thành sự tương phản giữa Thiên Chúa tạo dựng và Thiên Chúa cứu chuộc.[2] Luterô gọi nó là “lá thư cưng” (pet epistle) của riêng mình vì ông thấy nơi Phaolô một sự phủ nhận ơn công chính hóa nhờ làm những việc Luật dạy để hỗ trợ cho việc phủ nhận của ngài đối với ơn cứu độ nhờ những việc thiện. Thực sự, những cuộc đối chất giữa Luterô với các đặc phái viên Giáo hoàng được xem như là bàn lại luật của Phaolô khi ngài kết án công khai Kepha (Phêrô) nhân danh chân lý của Tin Mừng. Một bài giảng về thư Galát đã mang lại sự bình an trong tâm hồn cho Gioan Wesley. Vào thế kỷ 19, sự đối kháng giữa Thánh Phêrô và Phaolô được mô tả trong thư Galát là yếu tố then chốt trong việc tái cơ cấu Kitô giáo sơ khai của FC Baur. Tuy nhiên, những người khác đã cảm thấy hỗ thẹn bởi sự thô thiển trong cuộc bút chiến và thiếu vắng sắc thái mang di sản Dothái. Thời cổ đại, thư Galát có thể đã đóng góp một phần vào tình huống mà 2Pr 3,15-16 đã chọn để diễn tả theo lối ngoại giao: “Ông Phaolô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ngài… Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu; những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh, bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy hoạ diệt vong.” Có một điều chắc chắn là không ai có thể bắt lỗi Phaolô trong thư Galát vì đã làm cho thần học trở nên buồn chán.

Sau phần Bối cảnhPhân tích tổng quát, chúng ta sẽ lần lượt phân tích các phần phụ về: Hệ quả của thư Galát trong công việc mục vụ của Phaolô; Về địa điểm và thời gian; “Đức tin của Đức Kitô”; Các vấn đề đáng suy gẫm và Thư mục.

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

Ngày biên soạn: khoảng năm 54-55, viết ở Êphêxô; cũng có thể là năm 57, viết ở Makêđônia (Ngày biên soạn truyền thống; xem Bảng 6 trong Chương 16 ở trên về Ngày biên soạn theo thuyết xét lại).

Người nhận: Các hội thánh xung quanh Ancyra trong lãnh thổ bộ tộc Galát, tức là khu vực trung tâm phía bắc của tỉnh Galát Tiểu Á (được phúc âm hóa năm 50 và 54), hoặc ít có khả năng là các hội thánh tại Antiôkia, Lýtra và Đécbê ở phía nam của tỉnh (được phúc âm hóa năm 47-48 và 50).

Tính xác thực, thống nhất và toàn vẹn: Không có tranh luận nhiều.

BỐ CỤC THEO HÌNH THỨC:

A. Lời mở đầu: 1,1-5

B. Lời tạ ơn: Không

C. Nội dung: 1,6 – 6,10

D. Lời cuối thư: 6,11-18.

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG (và Phân tích văn hùng biện):

1,1-10: Giới thiệu:

1,1-5: Công thức mở đầu (đã phòng thủ khi mô tả chức vụ tông đồ và những gì Đức Kitô đã làm)

1,6-10: đoạn mào đầu hoặc phần giới thiệu (sự ngạc nhiên thay vì Lời tạ ơn), mô tả vấn đề, các đối thủ và tình tiết của vụ việc (sự tuyệt thông)

1,11 – 2,14: Phaolô kể lại việc giảng dạy để bảo vệ luận đề của mình về Tin Mừng được nêu trong 1,11-12

2,15-21: Tranh luận với các đối thủ, sự tương phản giữa Tin Mừng của mình với của họ: được nên công trạng nhờ tin vào Đức Kitô, không phải nhờ tuân giữ Lề Luật; các Kitô hữu sống nhờ đức tin.

3,1 – 4,31: Các bằng chứng để nên công chính nhờ đức tin chứ không phải nhờ Lề Luật: sáu luận cứ rút ra từ kinh nghiệm quá khứ ở Galát và từ Kinh Thánh, đặc biệt đặt trọng tâm nơi Ápraham.

5,1 – 6,10: Khuyên nhủ đạo đức (paraenesis) để họ gìn giữ sự tự do của mình, và bước đi     theo Thần Khí.

6,11-18: Kết luận: xác thực bản tái bút do chính tay Phaolô (khác với ký lục, người ghi chính tả); tóm tắt lại thái độ đối với luật cắt bì; lời chúc phúc.

BỐI CẢNH

Vào những năm 55 AD, Phaolô đã công bố Tin Mừng (có lẽ hai lần[3]) cho các Dân ngoại, những người lúc bấy giờ đã thành lập các hội thánh ở Galát (Chúng ta sẽ xét lại tính chính xác này sau). Mặc dù việc ngài sống giữa họ làm cho “thân xác bị đau ốm” (4,13),[4] những người Galát vẫn rất tử tế trong lúc Phaolô gặp đau khổ và đối xử với ngài như một thiên thần của Chúa. Dường như họ đã thấy ngài làm các phép lạ giữa họ (3,5). Ký ức quá khứ làm tăng sự tổn thương của ngài khi các tín hữu Galát giờ đây (4,16) coi ngài như kẻ thù, cách nào đó là kẻ đã lừa dối họ trong khi rao giảng về Đức Kitô. Làm sao điều này có thể xảy ra được?

Sau khi Phaolô rời Galát, các Kitô hữu gốc Dothái (6,13) từ Giêrusalem đến,[5] rao giảng một Tin Mừng khác (1,7), tức là hiểu những gì Thiên Chúa đã làm trong Đức Kitô khác với cách hiểu của Phaolô. (Họ đã đến Galát vì Phaolô đã từng đến đó, hay vì đây chỉ là điểm dừng chân trên hành trình rao giảng Tin Mừng mà vô tình đưa họ tiếp tục công việc vừa qua của Phaolô? Họ có thù địch rõ ràng với Phaolô như ngài đối với họ không?) “Tin Mừng” của họ cần phải được xây dựng lại như một chiếc gương phản chiếu sự khôn ngoan[6] từ lời phản bác đối nghịch của Phaolô về nó – một tiến trình được đánh dấu bởi những điều không chắc chắn và không phù hợp để sản sinh ra một sự hiểu biết cảm thông về một lời rao giảng mà hầu hết các tín hữu Galát đã nhanh chóng đánh giá là thuyết phục hơn những gì họ nghe từ nơi Phaolô.

Theo dòng lịch sử Kitô giáo sau này, ý thức về sự thánh thiêng của Kinh Thánh Tân ước và sự tôn trọng đối với Phaolô, như là vị tông đồ vĩ đại, nên đã khiến các Kitô hữu tin chắc rằng Tin Mừng của Phaolô là xác thực khi đối chiếu với Đức Giêsu Kitô còn Tin Mừng của những kẻ đối nghịch thì không. Tuy nhiên, vì không có lý do thuyết phục nào để nghĩ rằng “các nhà rao giảng” (như người ta gọi họ thế) là những kẻ ngu ngốc hoặc dối trá, nên tôi sẽ tìm cách giải thích tại sao Tin Mừng của họ (đến nay vẫn có thể được dựng lại) có vẻ như thuyết phục. Phaolô và các nhà rao giảng đã tức khắc công bố rằng những điều Thiên Chúa đã ban ngang qua Đức Giêsu, Đấng Mêsia, theo nghĩa ơn công chính hóa và ơn sủng của Thánh Thần dành cho cả dân Dothái lẫn Dân ngoại. Nhưng Dân ngoại đã lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa trong Đức Giêsu như thế nào? Theo lời rao giảng của Phaolô, Thiên Chúa ban ơn công chính nhờ “đức tin của / vào Đức Kitô” (xem phần tiểu mục bên dưới). Theo các nhà rao giảng, tin vào Đức Kitô có một vai trò nào đó, nhưng ơn công chính hóa không thể hoàn tất nếu không làm những điều Luật dạy – Đối với Dân ngoại, lời rao giảng có bảo vệ di sản vĩ đại Dothái giáo cùng với mọi hướng dẫn đạo đức của nó không?[7] Yếu tố chính yếu trong việc làm những gì Luật dạy là đòi hỏi giữ luật cắt bì theo nghi lễ (4,10). Như các nhà rao giảng giải thích, một Thiên Chúa thật duy nhất đã chúc lành cho mọi dân tộc trên thế giới qua Ápraham, kẻ tin (St 15,6), và sau đó, như một phần của giao ước, đã truyền lệnh cho Ápraham phải cắt bì (St 17,10) và nghi lễ từ trời. Người Dothái chính là con cháu của Ápraham qua Xara (người vợ tự do) và đã giữ giao ước cắt bì (St 17,14) và Lề Luật do các thiên thần trao cho Môsê (Gl 3,19); Dân ngoại là con cháu của Ápraham qua Haga (người vợ nô lệ). Qua các nhà rao giảng, công việc của Đức Giêsu, Đấng Mêsia, giờ đây được mở rộng sang Dân ngoại, những người hoàn toàn có thể được ở trong giao ước nếu họ chịu cắt bì, theo gương Ápraham và làm theo những gì Luật dạy. (Borgen khẳng định rằng nếu không cắt bì, các tín hữu gốc Dân ngoại trong Đức Kitô là những người mới trở lại, những người bị bó buộc phải giữ luật cắt bì nếu họ muốn thuộc về dân giao ước của Thiên Chúa).

Vậy thì Phaolô đã không mang Tin Mừng đến cho các tín hữu gốc Dân ngoại ở Galát hay sao? Có! Để nhanh chóng hoán cải họ, Phaolô đã rao giảng một Tin Mừng ngắn gọn mà không nói với họ rằng việc tham gia vào giao ước Ápraham phải dựa vào luật cắt bì. Phaolô đã bỏ họ lại mà không cần có hướng dẫn của Lề Luật, mồi nhử cho “Sự nghiêng chiều về điều xấu”[8] và những đam mê xác thịt; và đó là lý do tại sao tội lỗi vẫn lan tràn ở giữa họ. Đây là một thông điệp thuyết phục, đặc biệt nếu các nhà rao giảng chỉ ra cho thấy Phaolô, người đem Tin Mừng đến sau, không biết Đức Giêsu như các Tông đồ chính thức biết. Xét cho cùng, Đức Giêsu, Đấng đã chịu cắt bì, chưa bao giờ miễn luật cắt bì cho bất cứ ai; và các tông đồ chính thức tại Giêrusalem tuân giữ các nghi lễ và luật về của ăn thức uống. Làm thế nào Phaolô có thể trả lời cho các nhà rao giảng và khiến các tín hữu Galát nhận ra rằng ngài đã rao giảng chân lý? Khi sang phần phân tích thư của ngài, chúng ta nên nhớ rằng cuộc tranh luận của ngài với các nhà rao giảng đã định hình cách diễn đạt và kiểu nói của ngài. Rất thường “thần học” của Phaolô về ơn công chính hóa, quyền tự do và đức tin được trích từ thư Galát nhưng không nhận ra kiểu hộ giáo của ngài.[9]

Phân tích tổng quát về thông điệp

Trong Công thức mở đầu (1,1-5), không giống như 1 Thêxalônica, Phaolô tự coi mình là tông đồ, một chức vị không phải từ một người nào nhưng bởi Đức Giêsu Kitô (1,l và từ Thiên Chúa, 1,15).[10] Trong bảy thư-không-thể-tranh-luận của Phaolô, nếu chúng ta không kể thư Rôma, thư được gửi cho một cộng đoàn mà Phaolô không thành lập, thì Galát là thư duy nhất trong số sáu thư còn lại, trong đó Phaolô không nêu tên người cùng gửi thư.[11] Ngài tự ngỏ ý với “các hội thánh ở Galát,” tức là, một nhóm cộng đoàn trong vùng Galát hoặc trong một tỉnh lớn hơn của Galát (xem tiểu mục bên dưới). Phaolô là mục tiêu của cuộc tấn công ở Galát, và ngài đã tự mình đáp trả – một lời đáp trả trong lúc tức giận nên bỏ qua Lời Tạ ơn.

          PHẦN NỘI DUNG mở đầu bằng một lời mào đầu hoặc lời giới thiệu (1,6-10), với giọng điệu chua chát ngạc nhiên thất vọng,[12] ngài đã nhanh chóng đưa ra các vấn đề, các đối thủ và mức độ nghiêm trọng của vụ việc: Không có Tin Mừng nào khác hơn Tin Mừng mà Phaolô công bố khi ngài mời gọi các tín hữu Galát nhân danh ân sủng của Đức Kitô; khốn cho những ai rao giảng một Tin Mừng khác.[13] Sau đó, sử dụng lối nói hùng biện nơi tòa án, ngài viết theo kiểu thư Biện giải (1,11 – 2,21), giọng điệu bút chiến nhưng sử dụng một chuỗi hùng biện.[14] Trong bối cảnh ám chỉ tòa án, các nhà giảng thuyết được mô tả như là nguyên cáo, còn Phaolô là bị cáo, và các tín hữu Galát là quan tòa. Để đánh giá những điểm mà Phaolô đưa ra, chúng ta nên ghi nhớ những yêu sách của các nhà rao giảng như được dựng lại trong Bối cảnh ở trên. Luận đề chính của Phaolô là khẳng định Tin Mừng ngài rao giảng do Thiên Chúa mặc khải chứ không phải do con người (1,11-12). Mô thức để chuyển đổi[15] là: nại đến câu chuyện hoán cải và giáo lý của ngài, đề cập đến những điểm chính, chẳng hạn: sự mặc khải và ủy thác ban đầu của Thiên Chúa, không dựa trên các tông đồ ở Giêrusalem; thách thức đối với bè đảng đòi cắt bì cho Dân ngoại; sự đồng thuận đạt được giữa ngài với những vị lãnh đạo ở Giêrusalem đã bác bỏ thách thức đó; và chân nhận rằng ngài đã được Chúa giao phó Tin Mừng và đặt làm tông đồ trên những ai không cắt bì (1,13 – 2,10).

Khi mô tả về những người trong nhóm cắt bì, những người sau này từ Giêrusalem đến Antiôkia tuyên bố đại diện cho Giacôbê, Phaolô cho biết họ là những bậc tiền bối của những người đến Galát (từ Giêrusalem?); vì ngài đã hòa trộn việc bảo vệ Tin Mừng của mình tại Antiôkia chống lại những kẻ gây xáo trộn trước đó với sự đối thoại với các nhà rao giảng Kitô hữu gốc Dothái ở Galát (2,11-14 với 2,15-21). Có thể viết lại như sau: “Từ bẩm sinh, chúng ta đều là người Dothái và vì vậy chúng ta biết Lề Luật; tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng một người không thể được nên công chính nhờ làm các việc Luật dạy; thực sự khi tìm kiếm Đức Kitô, người Dothái đã cảm thấy mình là tội nhân. Và vì thế, tôi đã chết cho Lề Luật và được nên công chính nhờ đức tin của / vào Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì tôi và hiện đang sống trong tôi.”[16]

Sau đó, Phaolô gom sáu luận cứ lấy từ kinh nghiệm và từ Kinh Thánh để thuyết phục những người Galát ngu xuẩn đã để mình họ bị mê hoặc[17] (3,1 – 4,31) – những luận cứ đó giờ đây tôi muốn gói gọn lại. Thứ nhất (3,1-5): Trong khi ngài công bố Đức Kitô chịu đóng đinh vào thập giá, thì các tín hữu Galát nhận được Thần Khí mà không phải làm những gì Luật dạy, vậy thì làm sao những công việc đó có thể trở nên cần thiết? Thứ hai (3,6-14): Khi chống lại sự đòi hỏi của các nhà rao giảng về việc cắt bì theo giao ước của Ápraham (St 17,10.14), Phaolô đã trích dẫn lời hứa của Thiên Chúa với Ápraham rằng: tất cả các dân tộc sẽ được chúc phúc (St 12,3) – một lời hứa không phụ thuộc vào luật cắt bì – để có thể ban Thần Khí cho Dân ngoại không cắt bì qua đức tin, nên Thiên Chúa đang thực hiện lời hứa với Ápraham, một người có đức tin được coi là công chính (St 15,6).[18] Thứ ba (3,15-25): Di chúc đã được phê chuẩn thì không thể bị hủy bỏ bởi một sự bổ sung sau này. Lề Luật ra đời sau lời hứa với Ápraham 430 năm; vậy thì làm thế nào để quyền thừa kế do lời hứa đó lại có thể phụ thuộc vào việc tuân giữ Lề Luật? Lề Luật chỉ là một người quản giáo tạm thời cho đến khi Đức Giêsu Kitô đến. Thứ tư (3,26 4,11): Các tín hữu Galát, những người từng là nô lệ cho những yếu tố của vũ trụ, đã cảm nghiệm được giá chuộc của Con Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban quyền tự do làm “con” (= con cái) của Thiên Chúa; tại sao họ lại muốn trở thành nô lệ một lần nữa trước sự đòi hỏi của Lề Luật? Thứ năm (4,12-20): Các tín hữu Galát đối xử vô cùng tốt với Phaolô, như một thiên thần, thì làm sao ngài có thể trở thành kẻ thù của họ, không như những người rao giảng đã làm với ngài? Thứ sáu (4,21-31): Các nhà rao giảng nại tới Ápraham, Haga và Xara nhưng đã rút ra một bài học sai lầm.[19] Haga, người phụ nữ nô lệ, không thể đại diện cho con cháu của Dân ngoại mà đại diện cho Giêrusalem hiện tại trên thế gian này và là giao ước nô lệ cho Lề Luật được ban trên Núi Sinai; Xara, người phụ nữ tự do, đại diện cho Giêrusalem trên trời và đại diện cho giao ước lời hứa của Thiên Chúa với Ápraham – bà là mẹ của tất cả những người đã được giải thoát trong Đức Kitô.

Sau khi đưa ra các luận cứ, Phaolô kết thúc phần Nội dung thư Galát với một lời khuyên nhủ nhiệt huyết (5,1 – 6,10) chống lại những người rao giảng và cảnh báo rằng Lề Luật sẽ không giúp ích cho ngườ1Galát chống lại những việc làm của xác thịt (trái ngược với công việc của Chúa Thánh Thần trong 5,19-26).[20] Một lời xác quyết mạnh mẽ trong 5,6: “Quả thật, trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái.” Qua đó, nó cho thấy rõ rằng Phaolô không coi việc cắt bì là điều gì đó xấu xa nhưng đúng hơn là một điều không có khả năng đem lại sự công chính cho Dân ngoại. Điều đó cũng gợi ý rằng Phaolô coi đức tin như là hiệu quả của những điều Đức Kitô đã làm, như một điều gì đó phải được thấy qua sự bày tỏ tình yêu được thể hiện trong đời sống của người tín hữu. (Ngài thấy Thiên Chúa hoạt động trong cả đức tin và tình yêu, không chỉ là lời đáp trả của con người.) Những nhà rao giảng có thể nói về “Luật của Đức Kitô”; Tuy nhiên, đó không phải là Luật được ban trên núi Sinai mà là nghĩa vụ phải mang gánh nặng cho nhau (6,2).

Sau đó, Phaolô dừng việc của ký lục lại và viết phần Kết luận (6,11-18) bằng chữ lớn để chống lại luật cắt bì qua chính bàn tay của mình, để các tín hữu Galát không bỏ sót điểm nào. Nếu những người rao giảng ca ngợi sự ưu việt của Ítraen, thì Phaolô lại tuyên bố “dân Ítraen là của Thiên Chúa”, trong đó việc cắt bì hay không cũng không có gì khác biệt. Đối với những lời công kích của các nhà giảng đạo đối với ngài, “Từ nay, xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giê-su.” Những gì Phaolô đã phải chịu vì danh hiệu tông đồ thì quan trọng hơn những dấu tích của sự cắt bì!

Hậu quả của thư Galát trong sứ vụ Phaolô

Chúng ta chỉ có thể suy đoán về những gì đã xảy ra khi thư này được đọc trong các hội thánh ở Galát. Một số người sẽ bị tổn thương bởi cách dùng ngôn ngữ thô bạo của Phaolô khi ngài gọi họ là những kẻ ngu xuẩn (3,l). Có thích hợp cho một vị tông đồ Kitô giáo thích sự thô lỗ khi ước cho những người ủng hộ cắt bì tự thiến cho xong không (5,12)? Điều gì khiến Phaolô không được coi là “những cột trụ” của hội thánh giống như các thành viên trong Nhóm Mười Hai đã ở với Đức Giêsu và Người được vinh dự gọi là “anh em của Chúa” (2,9)? Cuộc bút chiến đó không phải là dấu hiệu cho thấy sự yếu kém trong lập trường của ngài sao? Những người từng phản bội Phaolô, khi nhớ đến ngài là người đã mang Đức Kitô đến cho họ và nhận ra rằng dưới dáng vẻ bên ngoài của cuộc bút chiến của vị tông đồ còn có một sự quan tâm dịu hiền (4,19), có lẽ đã đi đến xét lại những gì họ đã làm xem có đúng hay chưa khi nghe những vị giảng thuyết khác. Cuối cùng thì thư của Phaolô có chiếm được sự ủng hộ của đa số người trong thời đó không? Rốt cuộc thì thư đã được giữ lại; và 1 Cr 16,1 (viết sau đó?) nói cho chúng ta biết rằng ngài đã lên kế hoạch quyên tiền từ các hội thánh ở Galát. Do đó, thư của ngài có lẽ đã thành công.

Có thể như vậy, chắc chắn một số yếu tố trong thư đã gây tổn hại cho Phaolô. Ngài đã thể hiện mình một cách không đúng mức. (Vị thư ký có đủ can đảm để hỏi ngài xem ngài thực sự có muốn viết câu 5,12 như cách ngài đã làm không?) Các nhà rao giảng, thành thật tin rằng họ đang phục vụ Đức Kitô bằng cách khuyên Dân ngoại về sự cần thiết của luật cắt bì, chắc chắn sẽ không bao giờ quên những cuộc tấn công cá nhân của Phaolô, bao gồm một cuộc tấn công về tính chính trực và động cơ của họ (6,12-13).[21] Nếu Pl (3,2ff) được viết ngay sau thư Galát, thì chúng ta có thể thấy những người rao giảng tiếp tục theo đuổi sứ mạng sửa lại giáo huấn khiếm khuyết của Phaolô! Những lời nhận xét của ngài: về các đấng được gọi là những cột trụ của hội thánh Giêrusalem, về cuộc bút chiến của ngài chống lại Thánh Phêrô vì ngài không đi đúng con đường chân lý của Tin Mừng (Gl 2,14), và về ngay cả cuộc tranh luận không cân xứng của ngài vì coi giao ước Sinai đã dẫn đến nô lệ ( 4,24-25), điều này gần như đụng đến các vị lãnh đạo ở Giêrusalem, những người có thiện cảm với di sản Dothái. Không có gì ngạc nhiên khi ngài lên kế hoạch sau đó để trở về Giêrusalem cùng với tiền quyên góp để xoa dịu nỗi lo lắng về việc có thể gây xung đột (Rm 15,22-32; cũng xem các trang 554 và 564 dưới đây). Vào thế kỷ thứ 2, luận đề chống đối mãnh liệt của thư Galát hỗ trợ cho luận đề của Marcion rằng: nên phải loại bỏ Cựu Ước vì nó là tác phẩm của một Thiên Chúa thấp kém (demiurge) – một luận đề mà Phaolô chắc chắn đã bác bỏ.

Người Nhận và Ngày Biên Soạn?

Hai vấn đề này có liên quan với nhau. Thư này gửi “các hội thánh miền Galát” (1,2) và “những người Galát” (3,1), Phaolô nói rằng ngài loan báo Tin Mừng lần đầu tiên trong vùng đó là khi thân xác đau ốm (dường như nó đã làm gián đoạn cuộc hành trình một cách đột ngột) và rằng ngài đã được tiếp đón và đối xử tốt (4,13-15). Các tín hữu Galát sống ở đâu? Nếu cuộc gặp gỡ ở Giêrusalem được mô tả trong Gl 2,1-10 giống như cuộc gặp gỡ ở Giêrusalem sau “Cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất” của Phaolô được mô tả trong Cv 15, thì hầu hết các học giả nghĩ rằng thư này được viết sau năm 50 (theo niên đại truyền thống). Khi viết thư trong lúc giận dữ này, Phaolô bày tỏ ước muốn (rõ ràng đã không thực hiện được) được đến với các tín hữu Galát (4,20). Đó có phải chỉ là một kiểu nói cường điệu và giả vờ quan tâm không? Hay đó là một kiểu nói từ chối đến thăm? Vì ngài ở quá xa? Vì ngài đang bị tù tội? Hay bởi vì ngài đang quá bận rộn với hội thánh khác, chẳng hạn như đang thương lượng với các tín hữu Côrintô? Những gợi ý này có giúp xác định thời điểm Phaolô viết thư không? Chúng ta hãy xem xét chi tiết hơn về các vấn đề liên quan.

Người Galát thuộc chủng tộc Ấn-Âu, có liên quan đến người Xentơ và Gaul, những người đã xâm lược Tiểu Á khoảng năm 279 AD. Trong vòng 50 năm, sau khi bị vương quốc Pergamum đánh bại, lãnh thổ của họ bị giới hạn ở một khu vực miền núi trung bộ bao quanh Ancyra (Ankara ngày nay). Rôma coi họ là đồng minh trong nhiều cuộc chiến khác nhau; và khi vị vua người Galát cuối cùng qua đời vào năm 25 AD, quê hương sắc tộc thiểu số của họ bị sáp nhập vào “Tỉnh Galát” rộng lớn, thuộc địa Rôma, kéo dài đến  phía Nam, hướng về Địa Trung Hải, bao gồm: Pixiđia Antiôkia, Icôniô, Lýtra, và Décbê.[22] Các Kitô hữu ở các thành phố đó có thuộc dân phía Nam của tỉnh Galát được đề cập trong thư Galát không (thuyết Nam Galát)? Hay thuộc sắc tộc thiểu số Galát ở khu vực bắc trung bộ (thuyết Bắc Galát)? Vấn đề (đang được tranh luận gay gắt giữa các học giả trong suốt 250 năm qua) không thực sự quan trọng trong ý nghĩa của thư Galát; vì vậy, phần thảo luận sau đây sẽ được trình bày ngắn gọn. Mặc dù cố tình tập trung nhiều vào việc so sánh thông tin giữa thư Galát và sách Công vụ, nhưng độc giả nên nhớ rằng thông tin Công vụ có lẽ đã lẫn lộn và chắc chắn là không đầy đủ, đã không liệt kê tất cả các cuộc hành trình của Phaolô.

THUYẾT NAM GALÁT (được đề xuất suốt hai thế kỷ qua và được các học giả như W.M. Ramsay và F.F. Bruce giới thiệu). Có bằng chứng rõ ràng trong sách Công vụ cho rằng Phaolô đã rao giảng Tin Mừng ở vùng phía Nam của tỉnh Galát, cụ thể là Antiôkia, Icôniô, Lýtra, và Đécbê (trong “Hành trình truyền giáo thứ nhất” năm 46-49 và sau đó một lần nữa trong thời gian ngắn trong “Hành trình truyền giáo thứ hai,” khoảng năm 50). Tuy nhiên, bằng chứng đó để lại một lỗ hỏng nhỏ vì khi Phaolô đang bị bệnh, ngài có đến thăm cộng đoàn đó lần đầu. Hơn nữa, sách Công vụ không bao giờ đề cập rõ ràng vùng phía Nam là Galát. Thật vậy, sách Công vụ đặt các thành phố phía Nam vào các miền của chúng, không phải tỉnh: Antiôkia miền Pixiđia (13,14), Lýtra và Đécbê miền Lycaonia (14,6). Sách Công vụ ghi rõ rằng, sứ vụ của Phaolô tại các thành phố phía Nam là đến với những người Dothái cũng như Dân ngoại, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy trong thư Galát có tín hữu nào là người Dothái mới trở lại. Các luận cứ để bảo vệ thuyết Nam Galát là dùng thói quen của Phaolô để nói ngài thường (nhưng không phải luôn luôn) sử dụng các địa danh của các tỉnh Rôma (chẳng hạn: Makêđônia và Akhaia), và việc tham chiếu đến tên Banaba trong Gl 2,1 như thể ngài đã được các tín hữu biết đến – ngài đã đồng hành cùng Phaolô trong “Hành trình Truyền giáo thứ nhất” nhưng không phải sau đó. Tuy nhiên, tên của Banaba chỉ được các Kitô hữu ngài đích thân rao giảng cho biết đến hay sao? Chẳng phải sự hiện diện của ngài tại cuộc họp nổi tiếng ở Giêrusalem đã làm cho nhiều người biết đến hay sao?

THUYẾT BẮC GALÁT (cách tiếp cận cổ xưa và vẫn là lý thuyết đa số). Mặc dù thuật ngữ “Galát” có thể không rõ ràng, nhưng cách nói “những người Galát” trong 3,1 ít hơn thế nhiều. Nó thích hợp hơn cho những người thuộc dân tộc thiểu số có gốc gác ở đó hơn là cho những người dân thành phố Hy Lạp ở phía Nam. Khi nào thì Phaolô đến vùng dân tộc thiểu số Galát? Trong “Hành trình Truyền giáo thứ hai,” sau khi Phaolô về thăm lại phía Nam của tỉnh (khoảng 50), Cv 16,6-7 tường thuật rằng: “Các ông [Phaolô, Xila, Timôthê] đi qua miền Phy-ghi-a và Ga-lát, vì Thánh Thần ngăn cản không cho các ông rao giảng lời Chúa ở A-xi-a. Khi tới sát ranh giới My-xi-a, các ông thử vào miền Bi-thy-ni-a, nhưng Thần Khí Đức Giê-su không cho phép.” Sách Công vụ muốn nói là họ di chuyển về phía Tây qua vùng Phyghia của tỉnh Galát (do đó vẫn chưa vào Bắc Galát), hay nó muốn nói là họ di chuyển về phía Bắc qua Phyghia vào lãnh thổ Galát (phía Bắc)? Giả thuyết thứ nhất có vẻ hợp lý hơn về mặt địa lý; nhưng nếu người ta chấp nhận cách giải thích thứ hai, thì bình luận đó khó hiểu đối với việc bị “Chúa Thánh Thần ngăn cản,” điều này có lẽ có liên quan đến việc Phaolô bị bệnh ở Galát (Gl 4,13) và do đó nó cản trở công việc truyền giáo của ngài. Dù “Phyghia và miền Galát” muốn nói gì trong sách Công vụ, thì Phaolô chắc chắn đã rao giảng ở đó, vì theo 18,23, vào đầu “Hành trình truyền giáo thứ ba” (54 AD), Phaolô đã đi từ nơi này sang nơi khác qua miền Galát và Phyghia “làm cho tất cả các môn đệ được vững mạnh”, tức là, theo ám chỉ, các môn đệ đã có hành trình sớm hơn ngài.[23] (Sự đảo ngược thứ tự hai địa danh cho thấy khó có thể biết được chính xác khi dựa vào sách Công vụ, vì có lẽ tác giả không biết chính xác nơi Phaolô ra đi.) Dù không dễ lượng giá, nhưng nhìn chung các lập luận ủng hộ thuyết Bắc Galát có vẻ thuyết phục hơn.

NGÀY BIÊN SOẠN. Theo thuyết Nam Galát, Phaolô có thể viết thư Galát vào một ngày sau khi trở lại thăm các thành phố phía Nam vào năm 50 (“Hành Trình Truyền Giáo Thứ Hai”).[24] Theo thuyết Bắc Galát, người ta chọn ngày nào hơn? Có hai gợi ý: (1) Sau khi ngang qua vùng (dân tộc thiểu số) Galát và Phyghia lần thứ hai, Phaolô đến Êphêxô (Cv 19,1) và lưu trú tại đó ba năm (54-56). Tin tức có thể đã đến tai ngài nói rằng các thầy dạy đã đến và “mau lẹ” (Gl 1,6) thuyết phục được các tín hữu Galát tin vào “một Tin Mừng khác” – các tin tức báo về khiến ngài viết thư Galát trong giận dữ vào năm 54 hoặc 55.[25] Nếu thư này đạt được thành công (hoặc ít nhất nếu Phaolô hy vọng nó thành công) thì nỗ lực làm hòa được báo hiệu qua kế hoạch của ngài trong 1 Cr 16,1, lúc ngài chuẩn bị rời Êphêxô vào năm 57, đồng thời xin hội thánh Galát quyên góp tiền hỗ trợ cho Giêrusalem. (2) Một số học giả nghĩ rằng không thể có sự làm hòa nào sau khi thư Galát nói rằng kế hoạch trong 1 Cr 16,1 đã được lập ra trước khi Phaolô biết điều gì đã xảy ra với những người mới theo đạo ở Galát. Ngài đã được thông báo về điều đó khi ngài rời Êphêxô hoặc ngay sau đó; và khi từ bỏ kế hoạch quyên góp ở Galát,[26] ngài viết thư Galát ở Makêđônia vào cuối năm 57 (xen giữa thư 2 Cr và Rôma) như một lời trách móc nặng lời. Thư Galát được viết gần với thư Rôma (được viết ở Côrintô vào năm 58) cũng được phát triển như một luận cứ biện minh cho việc xác định ngày viết thư sau đó. Việc xác định ngày viết vào giữa năm 50 thì có khả năng hơn, và tôi cho rằng nó chắc chắn xảy ra hơn; nhưng vẫn bỏ ngỏ cho việc tìm bằng chứng.

“Đức Tin [pistis] của Đức Kitô” (2,16, v.v.)

Một cuộc thảo luận chủ yếu tập trung vào điều Phaolô muốn nói khi ngài tranh luận về việc được nên công chính hay được ơn công chính hóa (xem tiểu mục trong Chương 24 dưới đây), không phải do làm những gì Luật dạy nhưng nhờ / qua đức tin của (Đức Giêsu) Đức Kitô (2,16; 3,22; cũng Rm 3,22.26; Pl 3,9). Cấu trúc “nhờ / qua đức tin của Đức Kitô” (ek/dia pisteōs Christou) có thể được hiểu như là một túc từ sở hữu (objective genitive), nghĩa là đức tin của người Kitô hữu vào Đức Kitô, hoặc như một sở hữu chủ (subjective genitive), nghĩa là đức tin được Đức Kitô chiếm hữu hay bày tỏ.[27] Cuộc tranh luận cũng ảnh hưởng đến cách trình bày đơn giản và phổ biến hơn: “nhờ đức tin” (ek pisteōs).[28] Cả hai lối giải thích đều cần có bình luận.

Tin vào Đức Kitô có lẽ là cách giải thích phổ biến hơn và được Gl 3,26 hỗ trợ khi nó sử dụng giới từ “trong.” Tuy nhiên, theo cách giải thích đó, dù tin vào những gì Thiên Chúa đã làm trong Đức Kitô, đặc biệt là qua việc Người chịu đóng đinh vào thập giá và đã phục sinh, có thể được coi là một lời đáp trả mang lại ơn công chính hóa, nhưng chúng ta cần nhấn mạnh rằng Thiên Chúa cũng có thể tạo ra lời đáp trả như vậy – ân sủng của Thiên Chúa được ban để tin, đáp lại ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô. Đức tin của Đức Kitô đôi khi được hiểu là sự trung thành của Người với kế hoạch của Thiên Chúa, một sự trung thành mang lại ơn công chính hóa. Những người khác thấy cách giải thích này khá yếu và thích nghĩ đến đức tin được Đức Giêsu biểu lộ khi Người chịu đóng đinh vào thập giá mà không có sự giúp đỡ của Thiên Chúa, một mô tả có thể được biện minh nhờ các trình thuật về cuộc khổ nạn trong Tin Mừng Maccô và Matthêu và trong Hr 5,8. Martyn cho rằng Gl 2,20-21 cho thấy đức tin của Đức Kitô là cái chết trung thành của Đức Kitô. Cũng có những người khác kết hợp hai cách tiếp cận và gợi ý rằng đức tin của Đức Kitô được biểu lộ qua cái chết của Người được ban cho những ai bước theo Người qua việc tin vào Đức Kitô.[29] Khảo sát các cuộc tranh luận giữa các học giả[30] và chất vấn về tất cả những điều này thì có ý nghĩa để hiểu Phaolô, một thực tập cơ bản khi nghiên cứu thần học của ngài.

Các Vấn Đề Cần Suy Tư Thêm

(1) Có một áng văn chương quan trọng nói về các đối thủ của Phaolô ở Galát[31], liên quan đến các đề xuất khác nhau để xác định các đối thủ. Kể từ đầu thế kỷ 20, một số học giả đã cho rằng Phaolô cùng một lúc chiến đấu chống lại hai nhóm: các Kitô hữu gốc Dothái từ Giêrusalem, những người bắt Dân ngoại phải cắt bì và (hoặc người Dothái hoặc Dân ngoại), các đối thủ của Thánh Thần, những người sống tự do phóng đãng, những người tuyên bố rằng các tín hữu có thể thỏa mãn những ham muốn của xác thịt.[32] Cũng có thể là nhóm thứ hai được Phaolô hướng dẫn: 5,16-26. Một đề xuất khác là những người rao giảng không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong cộng đoàn Galát, chẳng hạn: những Kitô hữu gốc Dothái đòi hỏi các thành viên Dân ngoại chưa cắt bì trong cộng đoàn. Vẫn còn một đề xuất khác (Schmithals, Paul 13-64) cho rằng các nhà rao giảng là những người theo thuyết ngộ đạo ủng hộ việc cắt bì như một nghi lễ thần bí sẽ đưa dân Galát lên một trạng thái hoàn hảo cao hơn, dù có hay không có Lề Luật (6,13). Theo nhận định của đa số, những đề xuất này đưa ra những điều phức tạp không cần thiết và bỏ qua bằng chứng chủ yếu cho thấy một nhóm các nhà truyền giáo Kitô hữu gốc Dothái đã đến Galát, đòi cắt bì cho Dân ngoại, những người theo Đức Kitô.

(2) Chúng ta đã thấy ở trang 469, 472 ở trên rằng Phaolô và các nhà truyền giáo không đồng thuận với nhau về cách giải thích câu chuyện Ápraham / Xara / Haga, điều đó dựa vào cách họ kết hợp các mô típ của St 12,15 và 17 (Thiên Chúa thực hiện lời hứa trong Ápraham rằng Dân ngoại sẽ được chúc phúc; nhờ đức tin, Ápraham được coi là công chính; và giao ước cắt bì). Giờ đây, cả Phaolô và các nhà truyền giáo đều sử dụng một văn phong giải thích Cựu Ước khá khác với nhiều nhà chú giải hiện đại, thường vì việc chú giải của họ, dù trong nội bộ đạo Dothái thời đó, nhưng rất tự do và theo nghĩa đen hơn tiêu chuẩn của chúng ta (xem Chương 2, mục D ở trên). Giả dụ có sự khác biệt giữa cách chú giải thời xưa và hiện đại, thì chúng ta nên xem xét câu hỏi này: cách giải thích nào thuyết phục hơn so với các độc giả hiện đại dựa trên nghĩa đen của Cựu Ước? Phaolô hoặc các nhà giảng thuyết áp dụng câu chuyện Ápraham vào vấn đề các tín hữu gốc Dân ngoại trong Đức Kitô có nên được cắt bì hay không nếu họ muốn hoàn toàn được nên công chính như con cháu Ápraham?

(3) Đôi khi, theo các tiêu chuẩn hiện đại, thì cách sử dụng Cựu Ước của Phaolô là có vấn đề vì cách đọc bản văn ẩn chứa dưới cách giải thích của ngài. Một mẫu giải thích nổi tiếng đáng được xem xét, liên quan đến đức tin trong Hr 2,3-4, có một đoạn văn khó hiểu xuất hiện với sự đa dạng nổi bật trong bản Kinh Thánh Cựu Ước Dothái, Cựu Ước Hy Lạp, Tài Liệu Biển Chết, Thư gửi tín hữu Dothái, được Phaolô trích dẫn trong thư Galát và Rôma. (a) Theo văn bản Dothái Masoret, Ngôn sứ, khi than phiền về sự bất công chống lại cuộc chinh phục của dân Tân Babylon (Canđê) khoảng năm 600 AD, được cho là đang chờ đợi một thị kiến đảm bảo sẽ đến dù nó còn bị trì hoãn. Trái với người kiêu căng đắc thắng, không công chính: “Người công chính nhờ đức tin / lòng trung thành của mình sẽ được sống,” có lẽ vì sự trung thành hoặc trông cậy vào Thiên Chúa của giao ước. (b) Bản dịch LXX của ngôn sứ Khabacúc, dù nó có nói về một thị kiến, nhưng lại nói rằng ngay cả khi ngài chậm đến, thì cứ đợi chờ, vì ngài chắc chắn sẽ đến; do đó, nó hiểu thị kiến thuộc về một người đến, có lẽ là vua Canđê như là công cụ của Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ không hài lòng nếu người trong thị kiến rút lui, nhưng “người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình“, tức là sự thành tín của Thiên Chúa với những lời hứa đã được thực hiện. (c) Trong phần bình luận của Tài Liệu Biển Chết về Khabacúc (1QpHab 7,5 – 8,3), thị kiến được giải thích bởi vị Tôn sư Công Chính, và nó áp dụng cho cộng đoàn của những người tuân giữ Lề Luật. Họ sẽ được giải thoát khỏi sự bách hại “vì những hành vi và vì lòng trung tín của họ với Tôn sư Công Chính”, tức là vì họ tuân theo cách giải thích Lề Luật của vị Tôn sư đó. (d) Tác giả của thư Hr 10,37-39 theo bản LXX với một vài thay đổi, dường như giải thích người sắp đến trong thị kiến chính là Đức Giêsu trong lần tái lâm của Người. “Người công chính của Ta nhờ lòng tin sẽ được sống,” tức là, nhờ trung thành cho đến khi Đức Giêsu đến. (e) Trong Gl 3,11 (Rm 1,17), Phaolô viết: “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống,” để giải thích Kb 2,3-4 muốn nói người Công chính sống nhờ tin vào hoặc trung thành với Đức Giêsu Kitô.

(4) Đoạn trên gợi ý rằng một số lập luận của Phaolô trong lập trường của ngài về đức tin và Lề Luật có thể không thuyết phục lắm. Mặc dù ngài cung cấp cho chúng ra, nhưng chúng ta sẽ sai lầm khi nghĩ rằng ngài lấy lập trường của mình từ các luận cứ đó. Lập trường của ngài là nói rằng Tin Mừng không đến từ các thầy dạy con người mà đến từ một sự mặc khải (apokalypsis, vén màn) của Đức Giêsu Kitô (1,12).[33] Sự mặc khải đó đã làm cho Phaolô có một cái nhìn mới, nhờ đó ngài có thể thấy Thiên Chúa biến đổi thế giới như thế nào nhờ Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá, và trong 3,23,25, ngài đưa ra một vị dụ về cách nhìn thay đổi của ngài. Vì vậy, mặc dù ngài đã hình thành một số từ vựng và lý luận trong thư Galát theo sự lưu truyền của các nhà giảng thuyết, nhưng nhiều điều trong đó ngài xác quyết rằng Đức Kitô, đức tin và tự do có thể đã được rao giảng ngay cả khi những nhà giảng thuyết chưa đến. Cùng nhau chắt lọc ra thông điệp tích cực của thư Galát, không phụ thuộc vào các cuộc bút chiến của ngài, thì sẽ rất hữu ích cho việc hiểu rõ Phaolô. Hãy lưa ý đặc biệt đến lời khẳng định nổi tiếng về Kitô học trong 4,4-7.

(5) Thư Galát chống lại Lề Luật (32 lần) và tự do (11 lần với các phần phụ). Một trong những điểm hấp dẫn trong thông điệp của các nhà giảng thuyết có lẽ là các chỉ thị đạo đức rõ ràng có trong Luật. Tự do thì hấp dẫn nhưng cần có giới hạn đi kèm, như chúng ta thấy trong bảng liệt kê: tự do thoát khỏi tội lỗi, tự do giải thoát khỏi Lề Luật, tự do giải thoát khỏi điều bắt buộc và sự kiểm soát, tự do làm những gì người ta muốn, tự do để yêu và phục vụ. Tự do có thể mở cánh cửa cho sự phóng túng, dường như nó đã từng xảy ra ở Galát. Phaolô phản công bằng cách chỉ trích sự hiểu lầm đối với sự tự do (5,13) và đưa ra lời cảnh báo cho những người bước đi trong Thần Khí, không được phép tham gia vào “những đam mê của xác thịt” trong bảng liệt kê (5,17-21). Thật là mỉa mai khi chính những lời nói của ngài đã trở thành một thứ luật hướng dẫn các Kitô hữu dựa trên những quan điểm này. Trong thực hành mục vụ, đâu là tác động qua lại giữa sự tự do có trách nhiệm và các chỉ thị rõ ràng tạo nên biên giới với Lề Luật?

(6) Trong đầu Phaolô luôn suy nghĩ về ngày cánh chung, thì ngài có rất ít thời giờ để có ý thay đổi cấu trúc xã hội của thế giới này. Do đó, loại bỏ sự khác biệt nổi tiếng giữa Dothái và Hy Lạp, nô lệ và tự do, đàn ngài và đàn bà (Gl 3,28) chắc chắn không phải là một tuyên bố về quyền bình đẳng xã hội hay chính trị của ngài. Đó là lời tuyên bố về sự bình đẳng qua Đức Kitô trong công trình cứu độ của Thiên Chúa: “Tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô.” Chính Phaolô, người nói điều đó, có thể qui định luật thưởng phạt về sự bất bình đẳng giữa các Kitô hữu: Dân ngoại chỉ là một cành ôliu dại được ghép vào cây ôliu thuần chủng Ítraen; những người từng là nô lệ khi được Đức Kitô kêu gọi nên ở trong địa vị đó; Phụ nữ không được phép lên tiếng trong các hội thánh và phải là người đóng vai phụ (Rm 11,24; 1 Cr 7,20-21; 14,34). Tuy nhiên, nhiều Kitô hữu nhận ra tính năng động của Tin Mừng trong lời khẳng định của Phaolô có thể hay thậm chí vượt ra ngoài tầm nhìn của ngài. Xét về mặt thần học, điều đó có bị ảnh hưởng chính đáng thế nào để làm cho 3,28 trở thành một lời tiên báo lý tưởng Cách mạng Pháp về égalité (quyền bình đẳng) không?

(7) Quy điển Tân ước của Marcion mang nặng đặc tính Phaolô: Tin Mừng Luca và 10 bức thư Phaolô (bắt đầu từ thư Galát!). Việc ngài phủ nhận Cựu Ước và toàn bộ di sản của Dothái giáo nhìn chung được coi là một tư tưởng phái sinh cực đoan từ thuyết Phaolô. Martyn, TBOB 2.283, trích dẫn một câu đáng nhớ của F. Overbeck: “Phaolô chỉ có một sinh viên hiểu ngài, Marcion – và sinh viên này đã hiểu lầm ngài.” Mặt khác, các Kitô hữu gốc Dothái trong thế kỷ thứ 2 trở nên căm ghét Phaolô vì coi ngài là một người đã bóp méo di sản của Dothái và cản trở sự thành công của Tin Mừng giữa những người Dothái. Lưới qua thư Galát để khám phá ra các tuyên bố đối với Lề Luật có thể nuôi dưỡng chủ nghĩa chuyên chế Marcion và sự đối kháng giữa Kitô giáo và Dothái giáo sau này cho phép người ta thấy Kinh Thánh được đọc theo những cách mà tác giả Phaolô chưa bao giờ nghĩ tới.

[1] Ở đây tất cả vì các mục đích mang tính thực tế, nên Phaolô nói về Luật Môsê, tuy nhiên xin xem trang 470, 578-80 dưới đây.

[2] J. L. Martyn, “Galatians”, TBOB 2.283, cho biết thêm rằng Marcion đã biến dị thuyết khải huyền thành thuyết bản thể học. Hãy xem “Apocalyptic Antinomies in Paul’s Letter to the Galatians”, NTS 31 (1985), 410-24.

[3] Trong 4,13, ngài mô tả cách rao giảng Tin Mừng ở đó “đầu tiên” hoặc “lúc đầu”.

[4] Ngài khẳng định các tín hữu Galát sẽ móc mắt hiến cho ngài (4,15) và việc viết thư bằng “chữ to” (6, 11) đã làm nảy sinh suy đoán ngài bị bệnh về mắt khiến ngài không có khả năng.

[5] Xem vấn đề 1 dưới đây. Việc họ thách thức Tin Mừng Phaolô rao giảng trong việc đòi cắt bì thì tương tự như viễn cảnh của một nhóm người đã thách thức Tin Mừng của ngài tại Giêrusalem khoảng năm 49 (Gl 2,1-5; Cv 15,1). Xin lưu ý rằng sau này “một số người của Giacôbê [từ Giêrusalem],” mà Phaolô gọi là “người được cắt bì” (2,12), không bỏ cuộc trước thành công của ngài trong lần gặp mặt ở Giêrusalem, nên đã theo ngài đến Antiôkia và gây náo loạn. Mặc dù những người này tấn công ngài ở Galát có lẽ đã tuyên bố họ có các vị chức trách ở Giêrusalem ủng hộ (từ khi “những người của Giacôbê” và Thánh Phêrô đã cho thấy họ nhạy cảm với luật ăn uống của người Dothái [Gl 2,11-14]), nhưng sự đòi hỏi Dân ngoại cắt bì của họ chắc chắn đã vượt xa quan điểm của Giacôbê, Phêrô và Gioan như được diễn tả trong Cv 15,1-29 và Gl 2,1-10.

[6] Đối với các tiêu chuẩn này, xin xem J.M.G. Barclay, JSNT 31 (1987), 73-93; cũng là Martyn, Galatians (AB).

[7] Nếu điều này có vẻ kỳ lạ, thì xin nhớ rằng Đức Giêsu trong Mt 5,17-18 nhắc lại rằng ngài không đến để bãi bỏ Lề Luật mà để kiện toàn và không một chấm một phết nào của Lề Luật sẽ bị bỏ qua. Những giằng co trong truyền thống Đức Giêsu tương tự như những gì chúng ta thấy trong Matthêu có lẽ đã in sâu vào tư tưởng Kitô học và ngữ vựng của các nhà rao giảng. Thật vậy, Betz thấy trong Mt 5,19 là lời kết án Phaolô, khi ngài dạy người khác loại bỏ các giới răn.

[8] Xem J. Marcus, IBS 8 (1986), 8-21.

[9] Hong, trong cuốn Law, nói rằng, thật có ích khi nhắc chúng ta lưu ý đến cách nói của Phaolô trong từng bức thư trước khi khái quát hóa nó. Tranh luận giữa Dunn và Räisänen cũng phù hợp: Dunn cho rằng Phaolô không tấn công Lề Luật như thế nhưng chỉ phân tích từ một góc nhìn nào đó của ngài; Räisänen đặt ra điểm tách biệt triệt để hơn giữa Phaolô và Dothái giáo. Mặc dù Phaolô và các nhà rao giảng Kitô hữu gốc Dothái đang suy tư về Luật Môsê, nhưng thật thú vị khi hỏi Dân ngoại ở Galát xem họ đã có kinh nghiệm gì khi nghe các ngài tranh luận về “Lề Luật”! Xem M. Winger, “By the Law?” (SBLDS 128; Atlanta: Scholars, 1992).

[10] Đó có lẽ một phần là do sự tự vệ, chống lại các nhà rao giảng thù địch được đề cập trong thư. Tuy nhiên, mục tiêu chính của ngài không phải là để bảo vệ quyền tông đồ của mình mà là tính chính thực của Tin Mừng mà ngài đã rao giảng cho các tín hữu Galát. (Xem B. C. Lategan, NTS 34 [1988], 411-30.) Các “trụ cột” ở Giêrusalem đã thừa nhận thẩm quyền tông đồ của ngài (2,8), và thẩm quyền đó được sử dụng trong việc giải thích Kinh Thánh trong các chương 3 và 4 để bảo vệ cho Tin Mừng của mình.

[11] Ngài đề cập đến “mọi anh em đang ở với tôi” (1,2); nếu nơi ngài viết là Êphêxô, thì có lẽ Timôthê đã đang ở với ngài.

[12] Trong các bài giảng hội thảo không được xuất bản về thư Galát, N. A. Dahl chỉ ra rằng: trong các thư châm biếm ngày xưa, một diễn tả kinh ngạc như được thấy trong Gl 1,6, có thể thay thế cho diễn tả lời tạ ơn.

[13] Cũng xem lời nguyền rủa trong 3,10 và K.A. Morland, The Rhetoric of Curse in Galattians (Atlanta: Scholars, 1995).

[14] Thuật hùng biện tòa án hay pháp lý được Betz giải thích trong Galatians 2,14-21, dường như giống với Platon, Demosthenes và Cicero. Dàn bài hùng biện của Betz làm nền tảng cho những đề xuất của Fitzmyer, Puskas và các học giả khác; xem thêm J. D. Hesler, JBL 103 (1984), 223-33; T. W. Martin, JBL 114 (1995), 437-461. Một kiểu hùng biện khác, có chủ ý hoặc mang tính sử thi (trang 412 ở trên), đã được phát hiện trong thư Galát của R. G. Hall, JBL 106 (1987), 277-87; J. Smil, NTS 35 (1989), 1-26, và Matera, Galatians 11-13 – một nỗ lực để thuyết phục các tín hữu Galát không chấp nhận Tin Mừng của các nhà rao giảng buộc phải cắt bì. Boers, trong Justification, đã đưa ra một cách tiếp cận ký hiệu học đối với thư Galát; và L.L. Belleville, JSNT 26 (1986), 53-78, một phân tích cấu trúc thư Gl 3,21-4,11. Vấn đề là liệu một số điều tinh tế thuộc cấu trúc và thuật hùng biện được đưa ra có làm tăng đáng kể sự hiểu biết của chúng ta về thông điệp của Phaolô hay không. R. G. Hall, NTS 42 (1996), 434- 53, cho rằng thuật hùng biện trong khải huyền của người Dothái phù hợp với thư Galát hơn thuật hùng biện của thế giới Hy-Mã.

[15] B. R. Gavenla, NovT 28 (1986), 309-326. Việc Phaolô kể lại “chuyện hoán cải” được Chúa linh hứng có phải được thúc đẩy phần nào nhờ cuộc tấn công của các nhà rao giảng vào sự bất nhất của ngài không: từng là người ủng hộ mạnh mẽ phái Pharisêu nghiêm nhặt (rõ ràng có cả việc cắt bì) mà bây giờ lại bỏ qua nó (x. 5,11)? Trình thuật về quá khứ cuộc đời của Phaolô được so sánh giữa thư Galát và sách Công vụ được trình bày ở các trang 298, 306-309, 323 ở trên. Một điểm khác biệt chính yếu trong trình thuật về cuộc họp tại Giêrusalem trong Cv 15: đề cập đến vấn đề thức ăn không thanh sạch chiếu theo nghi lễ, điều mà theo Gl 2,11-14 thì mãi đến sau này mới xuất hiện. X. P. J. Achtemeier, CBQ 48 (1986), 1-26.

[16] Về việc đặt câu hỏi hùng biện liên quan đến Đức Kitô như là tác nhân của tội lỗi trong 2,17, xin xem M.L. Soards trong Marcus, Apocalyptic 237-254.

[17] J.H. Neyrey, CBQ 50 (1988), 72-100: nghiên cứu về tội bị phù thủy mê hoặc chính thức trong đoạn văn này.

[18] IHJ.D.G. Dunn, NTS 31 (1985), 523-42: suy đoán rằng “những việc Luật dạy phải làm” trong 3,10 là phép cắt bì và luật thức ăn, trong đó tóm tắt vai trò của Lề Luật như một cột mốc phân biệt ranh giới với dân Dothái.

[19] Martyn, “Galatians”, TBOB 277-278: sử dụng hai bảng biểu, đưa ra một sự tương phản hấp dẫn giữa hai nhà chú giải về câu chuyện Ápraham. Xem thêm “Covenants of Hagar và Sarah,” trong Faith and History. eds. J. T. Carroll et al. (Festschrift P. W. Meyer; Atlanta: Scholars, 1990), 160-190. Martyn nhắc chúng ta rằng cách giải thích bút chiến của Phaolô chống lại sự áp đặt Lề Luật lên Dân ngoại, và nó sẽ bị hiểu nhầm một cách nguy hiểm khi bị coi là phủ nhận Dothái giáo, như thể đó là một tôn giáo làm nô lệ cho con người trong khi Kitô giáo làm cho con người được tự do. Việc chú giải mang tính ngụ ngôn và hướng tới kinh nghiệm của các tín hữu Galát, xem S. E. Fowl, JSNT 55 (1994), 77-95; Hays, Echoes.

[20] Rất bất thường với luận đề của J.C. O’Neill, ETL 71 (1995), 107-20, cho rằng “tinh thần”, giống như “xác thịt,” là một thành phần của con người, không phải Chúa Thánh Thần, và rằng 5,13- 6,10 ban đầu là một bộ sưu tập các câu cách ngôn đạo đức của người Dothái, sau đó được kết hợp vào thư của Phaolô.

[21] Phaolô cáo buộc họ xúc tiến việc cắt bì để tránh bị bắt bớ, có lẽ là bởi những người Dothái không theo Kitô giáo, những người vì điều này sẽ không coi họ là những kẻ phản bội. Hoặc có thể là do các nhà chức trách Dân ngoại coi những người trở lại được cắt bì như những người Dothái và do đó họ được chính sách của đế quốc bảo vệ, thay vì thuộc về một thứ mê tín bất chính.

[22] Về những gì được biết về Galát thuộc Rôma từ năm 25 BC đến năm 114 AD, hãy xem các bài báo của R. K. Sherk và S. Mitchell, ANRW V11 / 2, 954-1081.

[23] Về mặt lý thuyết, Phaolô có thể đã viết thư Galát cho các môn đồ đó trước khi ngài trở lại trong “Hành Trình Truyền Giáo Lần Thứ Ba; nhưng sách Công vụ không cho thấy sự thù địch đã nổi lên với Phaolô giữa hai lần viếng thăm Galát. Liên quan đến lộ trình của cuộc hành trình này, xin xem Chương 27 dưới đây, ghi chú số 3.

[24] Một số thậm chí còn cho rằng thư Galát được viết ở Antiôkia khoảng năm 48 sau “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất” với lý do Gl 2,1 không mô tả chuyến viếng thăm Giêrusalem do sách Công vụ 15 tường thuật mà mô tả chuyến viếng thăm dịp nạn đói trước đó trong Cv 11,30; 12,25. Tuy nhiên, sách Công vụ không đưa ra nhiều chi tiết về cuộc viếng thăm dịp nạn đói đó, và vì vậy khá khó hiểu. Rất có thể Phaolô đã ở Galát trước cuộc họp tại Giêrusalem được nói trong Gl 2,1 hoặc ngài đã đề cập đến Galát trong 1,21 cùng Xyri và Kilikia. Hơn nữa, Gl 2, 11-14 gợi ý rằng Galát được viết sau khi Phaolô đoạn tuyệt với cộng đoàn Antiôkia.

[25] Galát có thể là bức thư đầu tiên của Phaolô được viết ở Êphêxô. “Mau lẹ,” nếu nó không hoàn toàn nói theo kiểu hùng biện, thì không thích hợp với một ngày xác định ba hoặc bốn năm sau khi Phaolô ở Makêđônia hoặc Côrintô. Êphêxô cách Ancyra khoảng 350 dặm, và do đó nó gần Makêđônia hoặc Côrintô hơn lãnh thổ dân tộc Galát.

[26] Người ta chỉ ra rằng: Rm 15,26 được viết ở cuối bộ sư tập của Phaolô, ngài chỉ đề cập đến số tiền quyên góp được ở Achaia và Makêđônia. Tuy nhiên, khi viết thư gửi các tín hữu Rôma, Phaolô có thể có một lý do khác khi không đề cập đến các tín hữu Galát, nghĩa là, tường thuật những gì ngài viết trong thư Galát, nguyên nhân gây ra thù địch ở Giêrusalem và ngài sợ những điều đó bị truyền sang các tín hữu Rôma.

[27] Tiếng Hylạp không có mạo từ nào giữa giới từ và pisteōs để chỉ Đức Kitô. Trong tiếng Anh, người ta có thể đặt túc từ sở hữu mà không cần có mạo từ giữa giới từ đứng trước và danh từ đứng sau (“from faith in Christ”), nhưng sở hữu chủ đòi hỏi phải có một mạo từ (“from the faith of Christ”).

[28] Gl 3, 7,8,9, 11, 12,24; 5, 5; cũng trong “through [dia] faith” (3, 14); “from the hearing of [with] faith” (3, 2,5); hay đơn giản là “faith” (1,23; 3,23.25; 5,6.22; 6,10).

[29] Xem thêm A. J. Hultgren, ngày 22 tháng 11 (1980), 248-63; B. Dodd, JBL 114 (1995), 470-473.

[30] Về “faith of”: Hays, Faith; MD Hooker, NTS 35 (1989), 32 1-42; SK Williams, CBQ 49 (1987), 431-47; DA Campbell, JBL 113 (1994), 265- 85. Về “faith in”: Fitzmyer, Romans 345-46 (với thư mục); RA Harrisville, NovT 36 (1994), 233-241.

[31] x. Brinsmead, Howard, Jewett, Martyn (“Law-Observant”), Munck, Russell (một tổng hợp hữu ích), và Wilson trong thư mục dưới đây.

[32] x. J. H. Ropes, The Singular Problem of the Epistle to the Galatians (Cambridge, MA: Harvard, 1929).

[33] DM. Winger, JSNT 53 (1994), 65-86, cho thấy rằng chính Tin Mừng không phải là vấn đề truyền thống được Phaolô tiếp nhận như những mô tả về nó, điều này có thể thay đổi (Rm 1, 3-4). Khi Phaolô công bố Tin Mừng cho các tín hữu Galát, họ được quyền năng Thiên Chúa giúp lĩnh hội.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục