danvienxitochauthuy

Dẫn Vào Các Tin Mừng (Raymond E. Brown)

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm
Trích dịch từ cuốn sách: Introduction to the New Testament
Tác giả: Raymond E. Brown

PHẦN II

(CHƯƠNG 6-8)

CÁC TIN MỪNG VÀ
CÁC TÁC PHẨM LIÊN QUAN

 

Các Tin mừng và Tin mừng Nhất Lãm

TIN MỪNG MÁCCÔ

TIN MỪNG THEO MATTHÊU

 

CHƯƠNG 6

CÁC TIN MỪNG NÓI CHUNG
và TIN MỪNG NHẤT LÃM NÓI RIÊNG

Chương này đề cập đến hai vấn đề liên quan đến nhau. Có một cuộc tranh luận gay gắt về việc coi thể loại văn chương của Tin mừng là duy nhất của Kitô giáo hay là một sự thay đổi cách sống Do Thái các ngôn sứ hoặc lịch sử Dân ngoại.[1] Câu trả lời một phần phụ thuộc vào mối liên hệ giữa các Tin mừng với Đức Giêsu, Tin mừng thuộc quy điển sớm nhất có phải bắt nguồn từ những ký ức về những gì Đức Giêsu đã làm và nói khi còn sống hay chủ yếu là một sáng tạo giàu trí tưởng tượng hướng niềm tin về Đức Giêsu sau phục sinh vào cuộc đời của Người không? Ba phần đầu tiên của Chương này sẽ trả lời các câu hỏi tổng quát về Tin mừng: Cách dùng từ “Tin mừng”; Nguồn gốc thể loại Tin mừng; và Ba giai đoạn hình thành Tin mừng .

Ngoài bức tranh chung, còn có những câu hỏi về Tin mừng Nhất Lãm nói riêng. Những điểm tương đồng rất gần giữa ba Tin mừng này gợi ý cho thấy chúng vay mượn nhau. Tuy nhiên theo hướng nào? Máccô có phải là Tin mừng có sớm nhất để Mátthêu và Luca dựa vào đó không? Hay Máccô là một bản tóm tắt lấy từ Mátthêu và Luca? Mátthêu và Luca độc lập với nhau hay Luca đã dựa trên Mátthêu (cũng như Máccô)? Hai mục cuối cùng sẽ trình bày vấn đề Khái quát và Sự tồn tại của nguồn “Q.”

CÁCH DÙNG TỪ “TIN MỪNG ”

Trong thời Tân ước euaggelion (“tin vui”, từ chúng ta dịch là “Tin mừng”) không đề cập đến một cuốn sách hoặc bài viết mà là một lời tuyên bố hoặc thông điệp. Điều này có thể hiểu được dựa trên nền tảng của thuật ngữ này. Những từ liên quan đến nó đã được sử dụng trong tiếng Hy Lạp ngoài Kitô giáo để chỉ những tin tốt lành, đặc biệt là tin chiến thắng trong trận chiến; và trong sự sùng bái đế quốc, ngày sinh nhật và sự hiện diện của hoàng đế đã tạo nên một tin vui cho thế giới Rôma. Các từ trong bản LXX liên quan đến euaggelion dịch các từ từ tiếng Do Thái bśr, có phạm vi công bố tin vui tương tự, đặc biệt là về chiến thắng của Ítraen hoặc chiến thắng của Thiên Chúa. Rộng rãi hơn, nó có thể bao gồm việc công bố các hành động vinh hiển của Thiên Chúa dành cho Ítraen.

Các học giả tranh luận liệu chính Đức Giêsu có sử dụng “Tin mừng” để mô tả lời công bố Nước Trời của Người hay không. Chắc chắn những người theo Người đã làm như vậy, với sự nhấn mạnh tin vui liên quan đến những gì Thiên Chúa đã làm nơi Đức Giêsu. Trong Rm 1,3-4, Phaolô mô tả Tin mừng của ngài theo những thuật ngữ mà có lẽ người Rôma đã biết rồi; nó bao gồm căn tính hai chiều kích của Đức Giêsu, một là thuộc dòng dõi Đavít theo huyết thống, và được đặt làm Con Thiên Chúa, nắm quyền theo Thánh Thần thánh thiện nhờ sự phục sinh/từ cõi chết. Thông thường hơn đối với Phaolô, trọng tâm của Tin mừng tập trung vào cuộc khổ nạn/cái chết/sự phục sinh của Đức Giêsu và nhờ sức mạnh của nó để mang đến ơn công chính hóa và cuối cùng là ơn cứu độ (Rm 1,16).

Mc 1,1 mở đầu câu chuyện của mình bằng những từ, “Khởi đầu Tin mừng Đức Giêsu Kitô.” Tin vui  về những gì Thiên Chúa đã làm, trước kia được công bố cho Ítraen, giờ đây sẽ được công bố trong và qua Đức Giêsu Kitô cho muôn dân (13,10). Nó liên quan đến Nước Trời hay sự cai trị của Thiên Chúa được hiện diện trong sự tha thứ tội lỗi của Đức Giêsu, chữa lành các bệnh nhân, cho kẻ đói ăn, làm kẻ chết sống lại, và dẹp yên bão tố – một Nước Trời/một sự thống trị được công bố trong các giáo huấn và dụ ngôn của Người nhằm chỉ ra và chống lại những cản trở của con người. Đức Giêsu là vị vua được Thiên Chúa giúp chiến thắng ngay cả khi kẻ thù đã đóng đinh Người trên thập tự giá. Mặc dù cả Mátthêu và Luca đều không bắt đầu theo cách giống như Máccô, nhưng cách nhìn cơ bản về Tin mừng của họ rất giống nhau. Mátthêu nói Đức Giêsu công bố Tin mừng Nước Trời (4,23; 9,35; 24,14), còn Luca sử dụng dạng động từ euaggelizein (“công bố tin vui”) để mô tả hoạt động này (8,1; 16,16 ). Vì cả hai tác phẩm này đều bắt đầu bằng hai chương về câu chuyện thời thơ ấu, nên phiên bản tin vui của chúng cũng liên quan đến sự thụ thai và sự ra đời kỳ diệu của Đức Giêsu (ví dụ, Lc 2,10). Mặc dù Gioan có nội dung về Đức Giêsu tương tự như nội dung của Nhất lãm, nhưng cả từ euaggelion lẫn dạng động từ này đều không xuất hiện. Tuy nhiên, 1 Gioan (1,5; 3,11) sử dụng thuật ngữ có liên quan aggelia (“thông điệp”) có thể được chỉ định là của Gioan cho những gì chúng ta gọi là Tin mừng theo Gioan.

Thế kỷ thứ 2 cung cấp bằng chứng về euaggelion được sử dụng cho các tác phẩm của Kitô giáo.[2] Sự đa dạng của các Tin mừng đòi hỏi phải sử dụng các ký hiệu để phân biệt, và vì thế, vào cuối thế kỷ thứ 2, các tiêu đề đã được mở đầu cho các Tin mừng thuộc quy điển theo kiểu “Tin mừng theo…” (Đối với cuộc tranh luận về số lượng về các Tin mừng đích thực, x. tr. 13 ở trên.) Sự tồn tại của các Tin mừng ngoài quy điển là một vấn đề phức tạp bởi các thuật ngữ: (a) Tương đối ít tác phẩm ngoài quy điển tự gọi mình là Tin mừng. Ví dụ, Protevangelium (tức là tiền Tin mừng) của Giacôbê, hầu hết bộ sưu tập Nag Hammadi, và những gì chúng ta có về Tin mừng của Phêrô không tự mô tả mình là “Tin mừng”; (b) Tiêu đề “Tin mừng” đã được sử dụng để chỉ các tác phẩm ngoài quy điển độc lập với việc tự đặt tên cho mình. Đôi khi cách sử dụng là trung lập và nhằm mục đích đơn giản là một tác phẩm về Đức Giêsu, khác với các thư, và sách Khải huyền, v.v. Đôi khi việc sử dụng mang tính thiên vị, mong muốn yêu cầu một tác phẩm ngoài quy điển có thứ hạng ngang bằng với tác phẩm thuộc quy điển. Vào thời cổ đại, đây có thể là tuyên bố của những người mà Giáo hội lớn hơn coi là dị giáo; ngày nay, đôi khi đó là thông lệ của các học giả theo chủ nghĩa xét lại cố loại chúng khỏi quy điển. Như một ví dụ về mức độ sử dụng rộng rãi, dưới tiêu đề The Complete Gospels (Sonoma, CA, Polebridge, 1992) R. J. Miller (ed.) đưa ra nội dung của 17 tác phẩm (cộng với một số câu nói riêng lẻ), bốn Tin mừng thuộc quy điển; hai bản tái tạo hoàn toàn mang tính giả thuyết (một bộ sưu tập các dấu lạ từ Gioan và nguồn Q từ Mátthêu và Luca); bốn mảnh giấy cói không tự đặt tên; hai tác phẩm về thời thơ ấu của Đức Giêsu, không có tác phẩm nào tự coi là Tin mừng; bốn bộ sưu tập các câu nói của Nag Hammadi, không có câu nào trong văn bản riêng của nó coi là Tin mừng;[3]Tin mừng bí mật của Máccô mà Clêmentê thành Alexandria mô tả như một dạng đúc kết từ Máccô quy điển.

Vì những rắc rối về thuật ngữ này, có thể hữu ích khi sắp xếp hai loại riêng biệt, “Tài liệu Đức Giêsu” (các câu chuyện về thời thơ ấu và cuộc khổ nạn, tuyển tập các câu nói, tuyển tập các phép lạ, các diễn từ được cho là của Đức Giêsu phục sinh – mà không cần tranh luận liệu chúng có được gọi là “Tin mừng ” hay không trong thời cổ xưa hay ngày nay nên gọi như vậy); và “các Tin mừng”, tức là những câu chuyện kể đầy đủ như chúng ta thấy trong bốn tác phẩm quy điển (bao gồm ít nhất một khoảng thời gian của sứ vụ công khai hay cuộc thương khó hay sự phục sinh, và kết hợp các phép lạ và lời nói).[4] Tôi xin nhấn mạnh rằng sự khác biệt này chỉ là một phán đoán có ích nhân danh cuộc thảo luận sau đây về thể loại tường thuật đầy đủ “Tin mừng”, không phải là một phán đoán thiên kiến ​​​​liên quan đến giá trị hoặc tính cổ xưa của “tài liệu Đức Giêsu”.

NGUỒN GỐC CỦA THỂ LOẠI TIN MỪNG

Ý tưởng viết các Tin mừng ra đời như thế nào? Nó có nguồn gốc từ Cựu ước không? Đó có phải là sự bắt chước của thể loại văn Hy-Mã không? Đó có phải là một cái nhìn sáng tạo độc đáo của Máccô, với ngụ ý rằng Mátthêu, Luca và Gioan sau đó đã sao chép cách tiếp cận của Máccô? Hay đó đúng hơn là một sự phát triển tự nhiên từ việc rao giảng thời kỳ đầu của Kitô giáo để ý tưởng cơ bản có thể có từ trước Máccô và phổ biến rộng rãi hơn không? Các học giả có xu hướng ủng hộ một loại tiếp cận duy nhất này hay ủng hộ loại khác?[5] Hãy để tôi giải thích các yếu tố góp phần vào các giải pháp khác nhau, đồng thời mở ra khả năng kết hợp một số trong số chúng.

Nguồn gốc trong Cựu ước và sự phát triển của người Do Thái từ Cựu ước. Swartley, trong cuốn Kinh Thánh dân Ítraen, cho rằng cấu trúc của các Tin mừng Nhất lãm được xác định bởi câu chuyện trong Cựu ước về cách Thiên Chúa đối xử với Ítraen. Trong sách Ngôn sứ Giêrêmia, người ta tường thuật bối cảnh gia đình và sinh thời của vị Ngôn sứ (1,1-3), tường thuật về ơn gọi của ông (bao gồm cả việc đề cập đến kế hoạch của Thiên Chúa trước khi ông được sinh ra:1,4-10), tường thuật những lời ông nói, hoặc các bài giảng và các hành động ngôn sứ của ông (đặc biệt xem các hành động và lời nói của ông trong khu Đền thờ ở chương 7), những lời cảnh báo về sự diệt vong sắp xảy ra đối với Giêrusalem và một kiểu tường thuật về cuộc khổ nạn (các chương 26,37-38). Mặc dù tỷ lệ cân bằng các lời sấm của Ngôn sứ Giêrêmia cao hơn nhiều so với tỷ lệ lời nói của Đức Giêsu trong các Tin mừng quy điển, nhưng sách Ngôn sứ Giêrêmia minh họa sự kết hợp thành một tác phẩm từ nhiều yếu tố được kết hợp trong các Tin mừng. Vào thế kỷ I AD, chúng ta thấy một tác phẩm của người Do Thái: Lives of the Prophets,[6] kể lại một vài hoặc nhiều chi tiết về các ngôn sứ khác nhau, ví dụ, sự ra đời, các dấu lạ, hành động kịch tính, cái chết và nơi chôn cất. Có lẽ được viết bằng tiếng Hy Lạp, tác phẩm này có thể phản ánh ảnh hưởng của các tiểu sử cổ xưa được chúng ta mô tả ngày nay. (Người đọc được khuyến cáo không nên suy tưởng theo những tiểu sử hiện đại.)

Nguồn gốc phỏng theo tiểu sử trần gian. Trong các loại văn chương Hy-Mã của các thế kỷ ngay trước và sau Chúa Kitô, có nhiều loại tiểu sử khác nhau, ví dụ, Cuộc đời của những Người Hy Lạp và Rôma nổi tiếng của Plutarch, Cuộc đời của các Xêda của Suetonius, Cuộc đời Apollonius Thành Tyana của Philostratus, và Cuộc sống của các Triết gia Thượng cổ của Diogenes Laertius.[7] Những cuốn sách được đề xuất làm bản đối chiếu với các Tin mừng có các âm điệu khác nhau.

Trước hết, các học giả đôi khi nói về “aretalogy” như một thể loại tiểu sử đặc biệt trong đó một thần nhân (theios anēr) với những món quà phi thường làm nên những điều kỳ diệu. Bất chấp sự phụ thuộc vào Philostratus, không rõ ràng rằng một thể loại có thể xác định được như vậy có tồn tại hay không; và nhiều điểm tương đồng thuộc hậu Máccô. Thứ hai, tác phẩm Genre của Shuler chỉ ra “tiểu sử ca ngợi” trong đó mối quan tâm chính là thể hiện sự vĩ đại của nhân vật. Đặc biệt với trường hợp của các triết gia, người ta nhấn mạnh đến những lời dạy của họ và lý tưởng hóa những điều cao quý nhất trong cuộc đời họ, được thiết lập để khuyến khích sự tạ ơn và noi gương. Tuy nhiên, sự đa dạng giữa các tiểu sử ca ngợi được đề xuất phải bị bỏ qua để tách biệt một thể loại phụ như vậy, và do đó khả năng xác định của nó là không chắc chắn. Thứ ba, tác phẩm What của Talbert, nghiên cứu chân dung của “những người bất tử” và “những người vĩnh cửu”. Con người (đôi khi được lai tạo bởi các vị thần) có thể trở thành bất tử khi chết, trong khi những người vĩnh cửu là những vị thần ngự xuống địa cầu, sống như con người và sau đó lại thăng thiên. Ông cho rằng Mátthêu, Máccô và Luca trình bày Đức Giêsu như một đấng bất tử, trong khi 1 Gioan miêu tả Người như một đấng vĩnh cửu – một sự so sánh cần có trình độ cao.[8]

Trên thực tế, sự tồn tại những khác biệt đáng kể giữa các tiểu sử Hy-Mã và các Tin mừng, cụ thể là ở tính ẩn danh của Tin mừng, sự nhấn mạnh thần học rõ ràng và mục tiêu truyền giáo,[9] hội thánh học tiên đoán, biên soạn của chúng từ truyền thống cộng đoàn và chúng được đọc trong phụng vụ cộng đoàn. Máccô đặc biệt viết tiểu sử khác với kiểu tiểu sử làm nổi bật sự ra đời kỳ lạ và thời thơ ấu của người vĩ đại, cộng với vinh quang của ông ấy – hoặc nếu ông ấy bị đối xử bất công, thì sự chấp nhận không sợ hãi và sự cao thượng của ông. Tuy nhiên, những điểm khác biệt này giữa các Tin mừng và tiểu sử Hy-Mã có thể quan sát được từ quan điểm học thuật và giải thích những gì các tác giả Tin mừng có thể muốn nói. Có khả năng là nhiều thính giả/độc giả ở thế kỷ thứ nhất quen thuộc với tiểu sử Hy-Mã đã không nghĩ đúng như vậy và nghĩ về các Tin mừng gần như là cuộc đời của Đức Kitô, đặc biệt là Mátthêu và Luca bắt đầu bằng một câu chuyện về thời thơ ấu của Người.

Tính sáng tạo và các Tin mừng. Nếu Máccô là Tin mừng sớm nhất, thì Tin mừng có phải là một sáng tạo độc nhất của Máccô không? Dù những gợi ý đã được đưa ra trong hai đoạn trước, nhưng vẫn có một điểm độc đáo đối với các Tin mừng. Cho dù ý tưởng viết một đoạn mô tả về công nghiệp của Đức Giêsu có thể đã được kích thích bởi sự tồn tại trong đời sống của các ngôn sứ, các triết gia nổi tiếng và các nhân vật trên thế giới, nhưng những gì được thuật lại về Đức Giêsu hầu như không bị chi phối bởi một mong muốn đơn giản là để cung cấp thông tin (mặc dù có yếu tố đó trong Luca [1,3-4], một cuốn sách gần với tiểu sử Hy-Mã nhất trong số bốn Tin mừng) hoặc để khuyến khích sự ganh đua. Như chúng ta đã thấy ở trên khi thảo luận về từ euaggelion, có một nghĩa mà trong đó những gì được tường thuật lại là sẽ nhận được sự đáp trả của đức tin và mang lại ơn cứu độ. Ở một mức độ nào đó, lời tuyên bố về mục đích của Gioan trong 20,31 phù hợp với tất cả các Tin mừng, “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” Sự xuất hiện của từ euaggelion trong thư Phaolô bao gồm nội dung có mục đích tương tự (Rm 1,1-4; 1 Cr 15,1-8; x. 1 Cr 11,23-26) có nghĩa là Máccô chắc chắn không phải là là người đầu tiên tập hợp tài liệu Đức Giêsu vì mục đích mang lại ơn cứu độ, dù bản tường thuật của Người là đầy đủ và được lưu giữ sớm nhất.

Cần bao nhiêu sự khéo léo để xây nên một bản tường thuật Tin mừng đầy đủ về Đức Giêsu? Câu trả lời phụ thuộc một phần vào tính lịch sử của câu chuyện: phần lớn là hư cấu, hay phần lớn là sự thật? (Tôi sẽ mô tả ngắn gọn nghiên cứu lịch sử Đức Giêsu trong Phụ lục I, phụ lục này mở rộng nhiều nhận xét được thực hiện trong đoạn này.) Một mặt, nhiều học giả sẽ đánh giá phần lớn những gì Máccô thuật lại là hư cấu. Đối với một số người, câu chuyện về cuộc thương khó hư cấu, phần lớn được tạo ra từ những suy tư về Cựu ước. Đối với một số người, Đức Giêsu là một bậc thầy khôn ngoan, và những câu chuyện về phép lạ và sự phục sinh là những sáng tạo mang tính tuyên truyền nhằm khiến Đức Giêsu cạnh tranh với những nhân vật kỳ diệu khác. Đối với một số người, Đức Giêsu là một pháp sư đã chữa bệnh bằng nhiều cách khác nhau, và giáo huấn khôn ngoan của Người là một sáng tạo làm cho Người được kính trọng. Nếu có bất kỳ điều nào trong số này là đúng, thì cần phải có nhiều sáng tạo để chuyển từ Đức Giêsu trên thực tế sang bức tranh hợp lý nhưng rất khác được vẽ trong các Tin mừng. (Tuy nhiên, trong Phụ lục I, chúng ta sẽ thấy bằng chứng mà nhiều tuyên bố này được đưa ra sơ sài đến mức nào.) Mặt khác, thậm chí có một lượng lớn học giả đã đánh giá phần lớn những gì Máccô thuật lại là có thật. Giả sử Đức Giêsu chịu Phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả và đã công bố Nước Thiên Chúa đang đến bằng cả lời nói hay dụ ngôn, thách thức thái độ cố thủ của con người lẫn bằng cách chữa lành bệnh nhân và xua trừ những gì Người coi là do ma quỷ; giả sử Người đã khơi dậy lòng ác cảm của các nhà lãnh đạo Do Thái bằng cách thực thi quyền tự do quá cao đối với Lề Luật, bằng cách tuyên bố thay lời Thiên Chúa theo cách mà họ coi là kiêu ngạo, và thách thức ban quản lý Đền thờ bằng các hành động và lời cảnh báo – thì chính Đức Giêsu sẽ cung cấp loại tài liệu mà cuối cùng đã đi vào các Tin mừng, bất kể tài liệu đó đã phát triển như thế nào thì trong nhiều thập kỷ đã chia tách Người ra khỏi các tác giả Tin mừng.[10]

Chân dung của Đức Giêsu: Tuy nhiên, ngay cả trong cách hiểu sau này, việc viết các Tin mừng yêu cầu phải chọn lọc từ tài liệu Đức Giêsu. Theo đó, sẽ rất hữu ích nếu lưu giữ ba bức chân dung riêng biệt, Đức Giêsu thực tế (actual), Đức Giêsu lịch sử và Đức Giêsu Tin mừng. Một bức chân dung về Đức Giêsu thực tế (actual) sẽ liên quan đến mọi thứ đáng quan tâm về Người,[11] ngày sinh và ngày chết chính xác; mặc khải chi tiết về cha mẹ và gia đình của Người; Người đã hòa hợp với họ như thế nào và Người đã lớn lên như thế nào; Người đã làm việc kiếm sống như thế nào và ở đâu trước khi bắt đầu rao giảng; Người trông như thế nào; sở thích của Người về đồ ăn thức uống; thỉnh thoảng Người có bị ốm không; liệu Người có hài hước, thân thiện và được dân làng Nadarét yêu thích hay không, v.v. Chúng ta không có chi tiết nào giống như vậy trong các Tin mừng, và chính việc thiếu chi tiết đó là lý do tại sao nhiều học giả chống lại việc mô tả các Tin mừng là tiểu sử hoặc cuộc đời của Đức Kitô. Nhận thức về sự thiếu sót đó là điều quan trọng đối với những độc giả, những người có thể tiếp cận các Tin mừng giống như cách họ tiếp cận cuộc đời của một nhân vật nổi tiếng hiện đại, mà không có bất kỳ ý thức nào về sự chọn lọc có chủ ý của Tin mừng .

Bức chân dung về Đức Giêsu lịch sử là một cấu trúc học thuật dựa trên việc đọc sâu dưới bề mặt của Tin mừng và loại bỏ mọi cách giải thích, mọi việc mở rộng và phát triển mà chúng có thể đã diễn ra trong khoảng thời gian từ 30 đến 70 năm đã tách sứ vụ công khai và cái chết của Người khỏi các Tin mừng được viết ra. Tính hợp lệ của cấu trúc phụ thuộc vào các tiêu chí được sử dụng bởi các học giả nghiên cứu. Người ta công nhận một cách chi tiết rằng, bức tranh Tin mừng phản ánh những diễn biến bên ngoài cuộc đời của Đức Giêsu là lần đầu tiên và được thúc đẩy mạnh mẽ nhất trong hai thế kỷ qua bởi những người hoài nghi, những người muốn thách thức thần học Kitô giáo truyền thống; và do đó, cuộc tìm kiếm Đức Giêsu lịch sử ban đầu mang một giọng điệu hạ bệ, như thể Chúa Kitô của đức tin chẳng liên quan gì nhiều đến Đức Giêsu của lịch sử. Cho đến hôm nay, các người đứng đầu trong “Hội thảo về Đức Giêsu” (Phụ lục I) đã công khai tuyên bố mục tiêu giải phóng Đức Giêsu khỏi lời công bố của hội thánh về Người. Tuy nhiên, trên thực tế, như được minh họa bởi Meier trong cuốn Marginal, việc nghiên cứu về Đức Giêsu lịch sử, dù không bao giờ có thể hoàn toàn khách quan, nhưng không nhất thiết bị lung lay bởi những định kiến ​​như vậy. Thật vậy, với sự tò mò thời hiện đại của chúng ta, cuộc nghiên cứu này chắc chắn xảy ra và mang tính hợp lý, thậm chí là rất hữu ích – một điểm mà một số người phê bình sự thái quá của Hội thảo về Đức Giêsu (ví dụ, L.T. Johnson) dường như không đánh giá đúng mức. Tuy nhiên, thận trọng là cần thiết trong cuộc nghiên cứu như vậy. Chân dung của Đức Giêsu lịch sử là một công trình dựa trên bằng chứng hạn chế và được thiết kế để tạo ra một quan điểm tối giản có thể được thống nhất về mặt khoa học. Nó có thể cung cấp cho chúng ta nhiều nhất là một phần rất nhỏ chi tiết và màu sắc của Đức Giêsu thực tế (actual), và nó sẽ liên tục thay đổi khi phương pháp học thuật được cải tiến hoặc sửa đổi. Vì cuộc nghiên cứu loại bỏ sự đánh giá cao về Kitô học của những người theo Đức Giêsu, nên bức tranh hai chiều xuất hiện sẽ đặc biệt thiếu chiều sâu thần học và tâm linh và gần như chắc chắn sẽ bị bóp méo một phần vì nó sẽ phản ánh những gì mà các nhà nghiên cứu muốn nhấn mạnh. Người ta quan niệm rằng, đức tin Kitô giáo nên dựa vào việc tái tạo lại Đức Giêsu lịch sử là một sự hiểu lầm nguy hiểm.

Đức Giêsu Tin mừng đề cập đến bức chân dung được vẽ lên bởi một tác giả. Nó bắt nguồn từ việc tác giả Tin mừng sắp xếp có chọn lọc tài liệu Đức Giêsu nhằm thúc đẩy và củng cố đức tin để đưa mọi người đến gần Thiên Chúa hơn. Tác giả Tin mừng chỉ có thông tin phục vụ cho mục đích đó cùng với nhu cầu của khán giả được nhắm đến sẽ ảnh hưởng đến cả nội dung và cả cách trình bày. Đó là lý do tại sao các Tin mừng được viết bởi các tác giả khác nhau cho các đối tượng khác nhau trong các thập kỷ khác nhau phải khác nhau.

Có thể lưu ý rằng, khi đặt tên cho ba bức chân dung về Đức Giêsu, tôi đã cố không nói đến “Đức Giêsu thật (real)”, một cách gọi hàm ý cả về sự thật lẫn giá trị. Cuộc đời của Đức Giêsu thật đã thu hút và thuyết phục các môn đệ, những người đã rao giảng về Người khắp thế giới. Làm thế nào để chân dung của Đức Giêsu thực tế (actual), Đức Giêsu lịch sử và Đức Giêsu Tin mừng phù hợp với “thật (real)” theo nghĩa đó? Các khía cạnh chính của Đức Giêsu thực tế (actual) không được tường thuật và do đó không thể biết được; rồi về mặt chức năng, bức chân dung về Đức Giêsu này chỉ có thể “thật” một phần đối với các thế hệ sau. Vì những điều nó loại bỏ, đặc biệt là về bản chất tôn giáo và thần học, việc miêu tả Đức Giêsu lịch sử (hay đúng hơn là “Đức Giêsu được tái tạo”) là rất xa với Đức Giêsu thực tế (actual) mang lại. Như chúng ta sẽ thấy trong Phụ lục I, thật khó để thấy cách mà Đức Giêsu lịch sử được nhiều học giả tái tạo sẽ thu hút mọi người dấn thân nhiệt thành cho đến chết như chúng ta thấy Đức Giêsu từng gợi lên cho những người nhận biết Người. Nếu người ta chấp nhận những bức chân dung trong các Tin mừng lưu giữ một lượng đáng kể tư liệu về Đức Giêsu thực tế và mục tiêu truyền giáo của chúng không xa lạ với mục tiêu của Người, thì những bức chân dung đó gần với Đức Giêsu thật (real) như chúng ta có thể nắm được. Như đã nêu trong Lời nói đầu, phần Dẫn nhập này nhằm mục đích giúp độc giả làm quen với những gì thực sự tồn tại trong Tân ước. Do đó, chủ yếu nó sẽ liên quan đến Đức Giêsu của các Tin mừng. Làm việc với các quan điểm của hầu hết các học giả trung dung hơn là với các học giả có tính quá suy đoán. Tiểu mục tiếp theo sẽ giải thích dưới dạng đơn giản hóa một lý thuyết về ba giai đoạn sẽ góp phần vào việc trình bày Tin mừng về Đức Giêsu.[12] Về phương diện trợ giúp những người không phải là chuyên gia để hiểu các Tin mừng thì đây là phần quan trọng nhất của Chương.

BA GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH TIN MỪNG

(1) SỨ VỤ HAY HOẠT ĐỘNG CÔNG KHAI CỦA ĐỨC GIÊSU NADARÉT (1/3 thế kỷ thứ nhất AD). Người đã làm những điều đáng chú ý, công bố thông điệp của mình và giao tiếp với những người khác (ví dụ: Gioan Tẩy Giả và các nhân vật Do Thái). Đức Giêsu đã chọn những người bạn đồng hành với Người, những người đã thấy và nghe những gì Người nói và làm. Ký ức của họ về những lời nói và việc làm của Người đã cung cấp “tài liệu Đức Giêsu” phần thô. Những ký ức này đã được chọn lọc vì chúng tập trung vào những gì liên quan đến lời tuyên bố về Thiên Chúa của Đức Giêsu, chứ không phải nhiều chuyện vặt vãnh của sự hiện hữu bình thường (hoặc các yếu tố của “Đức Giêsu thực tế”). Ở cấp độ thực hành, điều quan trọng đối với độc giả hiện đại là luôn nhắc nhở mình rằng, đây là những ký ức về những gì đã được một người Do Thái nói và làm, sống tại Galilê và Giêrusalem vào thập niên 20. Cách công bố của Đức Giêsu, những vấn đề Người gặp phải, vốn từ vựng và quan điểm của Người là thuộc không gian và thời gian cụ thể ở đó. Nhiều người không hiểu Đức Giêsu và áp dụng sai tư tưởng của Người bắt nguồn từ việc các độc giả Tin mừng tách biệt Người ra khỏi không gian và thời gian và tưởng tượng rằng Người đang giải quyết những vấn đề mà Người chưa bao giờ gặp phải.[13] Thậm chí có thể có một hình thức xuyên tạc tinh vi về Đức Giêsu bằng cách áp đặt lên Người các phạm trù thực sự không phù hợp, ví dụ: là người đấu tranh cho nông dân[14] hoặc cho tự do.

(2) RAO GIẢNG (TÔNG ĐỒ) VỀ ĐỨC GIÊSU (2/3 của thế kỷ I AD). Những người đã thấy và đã nghe Đức Giêsu đều xác nhận việc đi theo Người qua những lần hiện ra sau phục sinh (1 Cr 15,5-7); và họ hoàn toàn tin tưởng vào Đức Giêsu phục sinh như là Đấng mà qua đó Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu cứu độ tối hậu cho Ítraen và cuối cùng là cho toàn thế giới – một đức tin mà họ đã thốt lên qua các danh xưng (Đấng cứu thế hay Chúa Kitô, Chúa, Đấng cứu độ, Con Thiên Chúa, v.v.). Niềm tin sau phục sinh đó đã soi sáng những ký ức về những gì họ đã thấy và nghe trong thời gian trước phục sinh; và vì vậy họ công bố các lời nói và việc làm của Người với ý nghĩa phong phú. (Các độc giả hiện đại, đã quen với mục tiêu truyền thông tường thuật theo sự kiện và đơn giản, cần nhận ra bầu khí rất khác với việc rao giảng Kitô giáo thời sơ khai.) Chúng tôi gọi các nhà rao giảng này là “tông đồ” bởi vì họ tự hiểu mình được Đấng phục sinh sai đi (apostellein). Đức Giêsu, và việc rao giảng của họ thường được mô tả là lời công bố Tin mừng (kerygma) nhằm dẫn đưa người khác đến với đức tin. Cuối cùng, phạm vi của các nhà truyền giáo đã được mở rộng vượt khỏi những người bạn đồng hành ban đầu của Đức Giêsu, và kinh nghiệm đức tin của những người mới đến như Phaolô đã làm phong phú thêm những gì đã được tiếp nhận và công bố.

Một yếu tố khác tác động trong giai đoạn phát triển này là sự thích nghi cần thiết của việc rao giảng với thính giả mới. Nếu Đức Giêsu là một người Do Thái quê Galilê sống trong phạm vi thời gian 1/3 của thế kỷ thứ nhất, nói tiếng Aram, thì đến giữa thế kỷ này, Tin mừng của Người đã được rao giảng trong cộng đoàn người Do Thái thành thị và Dân ngoại bằng tiếng Hy Lạp, một ngôn ngữ mà Người ít khi nói (nếu không muốn nói là không nói tí nào). Sự thay đổi ngôn ngữ này liên quan đến việc dịch thuật theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ đó, tức là diễn đạt lại từ vựng và các mẫu thức để làm cho thông điệp trở nên dễ hiểu và sống động đối với khán giả mới. Đôi khi cách viết lại (đã để lại dấu vết rõ ràng trong các Tin mừng) ảnh hưởng đến những sự cố ngẫu nhiên, ví dụ: một loại mái ngói thì quen thuộc với khán giả Hy Lạp trong Lc 5,19, tương phản với mái nhà kiểu Paléttin có một cái lỗ được gỡ ra trong Mc 2,4. Tuy nhiên, những cách viết lại khác có kết quả thần học, chẳng hạn: việc chọn sōma, “thân thể” cho phần có tính Thánh thể trong Nhất lãm và 1 Cr 11,24 (phân biệt với cách dịch sát nghĩa sarx hơn: “thịt” trong Ga 6,51 và Ignatiô, Rm 7,3). Sự lựa chọn đó có thể đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng thân thể theo nghĩa bóng trong thần học về thân thể Đức Kitô mà các Kitô hữu là chi thể (1 Cr 12,12-27). Do đó, những phát triển trong truyền thống Đức Giêsu đã thúc đẩy sự phát triển thần học Kitô giáo.

Thông thường, “rao giảng” là một thuật ngữ bao trùm giai đoạn hai của quá trình phát triển Tin mừng, mặc dù các yếu tố hình thành khác đã góp phần tạo nên tác phẩm cuối cùng của Tin mừng. Chẳng hạn, phụng vụ hoặc việc thờ phượng đã trở thành một phần của đời sống Kitô hữu như được thấy trong các công thức rửa tội và Thánh thể của Tin mừng. Việc định hình chất liệu bằng giáo lý có thể được phát hiện trong các cuộc tranh luận muôn màu của cộng đoàn Mátthêu, ví dụ: các cuộc tranh đấu với các vị lãnh đạo hội đường Do Thái (trong Mátthêu và Gioan) và tranh luận nội bộ với một số người nói “Lạy Chúa, Lạy Chúa” trong Mt 7,21 (chống lại những người nhiệt thành Thiên Chúa?).

(3) CÁC TIN MỪNG ĐƯỢC VIẾT (1/3 cuối của thế kỷ thứ nhất). Mặc dù vào giữa thời kỳ đầu, khi tài liệu Đức Giêsu đang được rao giảng, thì có một số bộ sưu tập văn bản ban đầu (hiện đã bị thất lạc) đã xuất hiện, và mặc dù việc rao giảng dựa trên sự lưu truyền và phát triển truyền khẩu của tài liệu Đức Giêsu vẫn tiếp tục tốt đẹp cho đến thế kỷ thứ II,[15] thì chắc chắn thời kỳ từ năm 65-100 cả bốn Tin mừng thuộc quy điển được viết ra. Đối với các tác giả Tin mừng, theo các truyền thống bắt nguồn từ thế kỷ thứ 2 và được phản ánh trong các tiêu đề mở đầu cho các Tin mừng khoảng năm 200 hoặc thậm chí sớm hơn, hai Tin mừng được gán cho các Tông đồ (Mátthêu và Gioan) và hai Tin mừng khác được gán cho hai người làm việc tông đồ (tức là bạn đồng hành của các Tông đồ: Máccô [bạn của Phêrô] và Luca [bạn của Phaolô]). Tuy nhiên, hầu hết các học giả hiện đại không nghĩ rằng các tác giả Tin mừng là những nhân chứng mục sở thị sứ vụ của Đức Giêsu. Điều này chắc chắn đại diện cho một sự thay đổi quan điểm;[16] nhưng sự phủ nhận của truyền thống có thể không gay gắt như thoạt nhìn, vì những truyền thống ban đầu về tác giả có thể không phải lúc nào cũng đề cập đến việc tác giả Tin mừng đã biên soạn bản cuối cùng. Sự quy gán ngày xưa có thể liên quan đến người chịu trách nhiệm về truyền thống được bảo tồn và lưu giữ trong một Tin mừng cụ thể (tức là: gán cho người có thẩm quyền đằng sau Tin mừng), hoặc người đã viết một trong những nguồn chính của Tin mừng. X. tr. 209 dưới đây cho vấn đề của điều mà Papias muốn nói khi ông tuyên bố: “Mátthêu đã sắp xếp theo thứ tự các câu nói [logia] trong tiếng Do Thái [= Aram?], và mỗi người giải thích hay chuyển dịch chúng theo khả năng của mình” (EH 3.39.16).

Việc thừa nhận các tác giả Tin mừng không phải là nhân chứng mục sở thị sứ vụ của Đức Giêsu là điều quan trọng để hiểu được sự khác biệt giữa các Tin mừng. Theo cách tiếp cận cũ hơn, trong đó chính các tác giả Tin mừng được cho là đã chứng kiến những gì họ tường thuật thì thật rất khó để giải thích sự khác biệt giữa các Tin mừng của họ. Nhân chứng Gioan (chương 2) làm thế nào có thể tường thuật việc thanh tẩy Đền thờ khi bắt đầu sứ vụ và nhân chứng Mátthêu (chương 21) tường thuật thế nào về việc thanh tẩy Đền thờ ở cuối sứ vụ? Để dung hòa giữa chúng, các nhà giải thích tranh luận rằng, việc Thanh tẩy Đền thờ đã xảy ra hai lần và mỗi tác giả Tin mừng chỉ chọn tường thuật một trong hai trường hợp.[17] Tuy nhiên, nếu không phải các tác giả Tin mừng là một chứng nhân mục sở thị và mỗi người nhận một trình thuật thanh tẩy Đền thờ từ một nguồn trung gian, thì không ai (hoặc chỉ có một) có thể biết khi nào diễn ra sứ vụ công khai. Thay vì phụ thuộc vào ký ức cá nhân về các sự kiện, mỗi tác giả Tin mừng đã sắp xếp tài liệu mà mình nhận được để trình bày Đức Giêsu theo cách có thể đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đoàn mà Người đang rao giảng Tin mừng. Như vậy các Tin mừng đã được sắp xếp theo thứ tự lôgíc, không nhất thiết phải theo trình tự thời gian. Các tác giả Tin mừng xuất hiện với tư cách là tác giả, định hình, phát triển, tinh chỉnh tài liệu được truyền tải về Đức Giêsu, và với tư cách là nhà thần học, định hướng tài liệu đó theo một mục tiêu cụ thể.

Hệ quả của cách tiếp cận này đối với việc hình thành Tin mừng sẽ bao gồm những điều sau đây:

  • Các Tin mừng không phải là những ghi chép sứ vụ của Đức Giêsu theo nghĩa đen, nhưng đan xen qua nhiều thập kỷ phát triển và thích nghi truyền thống Đức Giêsu. Phát triển được bao nhiêu? Điều đó phải được xác định với sự chuyên nghiên cứu, điều thường tạo ra những phán đoán theo khả năng và xác xuất, nhưng hiếm khi chắc chắn.
  • Luận đề: không trình bày các Tin mừng như lịch sử theo nghĩa đen, đôi khi nó được giải thích theo nghĩa chúng không phải là những lời tường thuật có thật về Đức Giêsu. Tuy nhiên, chân lý phải được đánh giá theo mục đích đã định. Các Tin mừng có thể bị đánh giá là không có thật, nếu mục đích là tường thuật theo nghĩa chặt hoặc như bản tiểu sử chính xác; nhưng nếu mục đích là đưa độc giả hay thính giả đến với đức tin nơi Đức Giêsu, dẫn họ đến với quyền thống trị hoặc Nước Thiên Chúa, thì những thích nghi làm cho các Tin mừng ít nghĩa đen hơn (thêm yếu tố đức tin, điều chỉnh cho phù hợp với khán giả mới) được thực hiện một cách chính xác để tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu đó và do đó làm cho các Tin mừng trở thành có thật.
  • Đối với một số cách tiếp cận như vậy với chân lý của Tin mừng là không thỏa đáng, vì nếu đã có sự phát triển và thích nghi, thì làm sao chúng ta biết rằng Tin mừng đưa ra một sứ điệp trung thành với sứ điệp của Đức Giêsu? Các học giả không thể là những hướng dẫn viên chắc chắn vì họ rất bất đồng về mức độ thay đổi, từ chính đến phụ. Đây là một vấn đề thần học, và vì vậy một giải đáp có tính thần học là phù hợp nhất. Những người tin vào sự linh hứng sẽ khẳng định rằng Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn tiến trình này, đảm bảo các bản Tin mừng cuối cùng phản ánh chân lý mà Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đến để công bố.
  • Lịch sử chú giải đã dành nhiều thời gian để dung hòa những điểm khác biệt của Tin mừng, không chỉ ở những vấn đề nhỏ mà còn ở quy mô lớn, chẳng hạn như cố gắng tạo ra một trình thuật tuần tự từ những trình thuật rất khác nhau về thời thơ ấu trong Mátthêu và Luca, hoặc ngoài lời tường thuật của Luca về sự hiện ra của Đức Giêsu phục sinh tại Giêrusalem và lời tường thuật của Mátthêu về sự hiện ra trên một ngọn núi ở Galilê. Bên cạnh việc hỏi liệu điều này có khả thi hay không, chúng ta cần hỏi liệu sự dung hòa như vậy có phải là một sự biến dạng hay không. Trong cái nhìn của đức tin, sự quan phòng của Thiên Chúa cung cấp bốn Tin mừng khác nhau, không phải là một phiên bản dung hòa; và chúng ta nên xem xét từng Tin mừng riêng lẻ, mỗi phiên bản có quan điểm riêng. Làm cho dung hòa, thay vì làm phong phú, có thể làm cho nó nghèo đi.
  • Trong nửa cuối thế kỷ 20, sự tôn trọng đối với tính riêng lẻ của mỗi Tin mừng đã có ảnh hưởng đến phụng vụ hoặc nghi lễ của Giáo hội. Nhiều Giáo hội đã đi theo sự dẫn dắt của cuộc cải cách phụng vụ Công giáo Rôma trong việc giới thiệu chu kỳ Bài đọc ba năm, trong đó năm đầu tiên các bài đọc Tin mừng Chúa nhật được trích từ Mátthêu, năm thứ hai trích từ Máccô và năm thứ ba trích từ Luca. Trong Giáo hội Rôma, điều này đã thay thế Bài đọc một năm mà không có bất kỳ khuôn mẫu thần học rõ ràng nào, Bài đọc được lấy cho một Chủ nhật từ Mátthêu, Chúa nhật khác lấy từ sách Luca, v.v. nên được đọc tuần tự trong cùng một Tin mừng nếu người ta muốn có sự công bằng với định hướng thần học do cá nhân các tác giả Tin mừng đưa ra cho những đoạn đó. Chẳng hạn, một dụ ngôn xuất hiện trong cả ba Tin mừng Nhất Lãm có thể có những ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh mà mỗi tác giả Tin mừng đặt nó vào đó.

 

VẤN ĐỀ NHẤT LÃM

Một giai đoạn tiếp theo trong quá trình phát triển Tin mừng là cần thiết để giải thích mối quan hệ tương liên giữa ba Tin mừng đầu tiên, được gọi là “Nhất lãm” bởi vì chúng có thể được xem xét song song với nhau (cùng một cách nhìn). Các Tin mừng này có nhiều điểm chung đến nỗi, ở giai đoạn ba như được mô tả ở trên, chắc hẳn phải có sự phụ thuộc nào đó của một hay hai bản này với bản kia hoặc dựa trên một nguồn văn bản chung. Dù nhiều sự quan tâm của giới học thuật và thậm chí cả cuộc thương khó đã được dành cho vấn đề này, nhưng hầu hết các độc giả của Tân ước đều thấy vấn đề này phức tạp, không thích hợp với sở thích hay sự nhàm chán của họ – một thực tế khiến tôi phải viết cô đọng theo cách giải quyết của mình. Phần Thư mục phong phú sẽ được cung cấp; nhưng những người mới khởi sự được cảnh báo rằng, chủ đề này có xu hướng tạo ra những phức tạp và họ có lẽ muốn cố định các kết luận chung nhất mà tôi đã in nghiêng bên dưới (tr. 114, 115, 122).

Các thống kê và thuật ngữ: Máccô có 661 câu; Mátthêu có 1.068 và Luca có 1.149. 80% câu của Máccô được sao chép trong Mátthêu và 65% trong Luca.[18] Tài liệu Máccô được tìm thấy trong cả hai phần còn lại được gọi là “Truyền Thống Bộ Ba.” Có khoảng 220-235 câu (toàn bộ hoặc một phần) tài liệu không có trong Máccô, nhưng Mátthêu và Luca đều có như là điểm chung, được gọi là “Truyền Thống Kép”. Trong cả hai trường hợp, phần lớn thứ tự tài liệu chung đó được trình bày và phần lớn từ ngữ trong đó được diễn đạt giống nhau đến nỗi sự dựa vào văn bản là chính chứ không đơn giản ở cấp độ truyền khẩu phải được đặt ra.[19] Hãy để tôi liệt kê một số đề xuất được đưa ra để giải thích số liệu thống kê này, bao gồm cả (các) luận cứ chính yếu ủng hộ cũng như phản đối. Cuối cùng, tôi sẽ rút ra các hệ quả từ giải pháp được chấp nhận phổ biến nhất.

Các giải pháp thừa nhận có một hay nhiều bản gốc Tin mừng (Protogospels). Đã có nhiều đề xuất (một số không được tiếp tục cho đến hôm nay) sẽ giải thích mối quan hệ qua lại của các Tin mừng Nhất lãm bằng cách thừa nhận một Tin mừng đã tồn tại trước khi chúng được viết ra. Vào thế kỷ 18, G. E. Lessing gợi ý rằng cả ba Tin mừng Nhất lãm đều dựa trên một Tin mừng bằng tiếng Aram không còn tồn tại, một lý thuyết được phát triển bởi J. Eichhorn, người coi nguồn này như là cuộc đời trọn vẹn của Đức Kitô. Một biến thể của luận đề này đã được hồi sinh bởi những người muốn biến các Tin mừng ngụy thư thành nguồn của các Tin mừng Quy điển. (Tin mừng của Tôma sẽ được thảo luận liên quan đến giả thuyết Q được đề cập dưới đây.) Tin mừng Bí mật của Máccô, một dạng tóm gọn của Tin mừng Máccô được Clêmentê tại Alexandria biết đến và được nhiều người cho là đã được biên soạn vào đầu thế kỷ thứ 2, được M. Smith tuyên bố là trình bày sát hơn các Tin mừng thuộc quy điển, là nguồn Tin mừng Kitô giáo lâu đời nhất được phát hiện. H. Koester cho rằng bản thân Tin mừng Bí mật của Máccô thực sự đã được viết trước Tin mừng Máccô thuộc quy điển. Thực tế là tất cả những gì chúng ta biết về Tin mừng này là nhờ hai mảnh vỡ nhỏ và chúng có thể hiểu là dựa trên từ các Tin mừng thuộc quy điển, và vì thế nó đã không khuyến khích người ta chấp nhận rộng rãi những tuyên bố như vậy.[20] Ngoài Tin mừng Bí mật của Máccô, J. D. Crossan còn đặt ưu tiên cho một dạng ngắn hơn của Tin mừng của Phêrô mà từ đó cả bốn Tin mừng thuộc quy điển đã dựa trên các trình thuật về cuộc khổ nạn [của Chúa Giêsu]. Một lần nữa, quan điểm của đa số là Tin mừng của Phêrô phụ thuộc vào các Tin mừng thuộc quy điển.[21]

Trong cuộc tìm kiếm Tin mừng đầu tiên theo truyền thống, một số người viện dẫn ông Papias (“Mátthêu sắp xếp các câu nói tiếng Do Thái [=Aram?] theo thứ tự”, xem trang 209 dưới đây) và cho rằng Người không nói về Mátthêu như chúng ta biết nhưng về một bộ sưu tập sớm hơn (đôi khi được đặt tên là M) mà Tin mừng Máccô đã dựa vào và Mátthêu thuộc quy điển cũng dựa trên (dù trực tiếp hay thông qua Máccô). Giả sử bộ sưu tập giả thuyết này chứa đựng những gì không thể dễ dàng giải thích bằng cách vẽ Tin mừng Máccô ra từ Tin mừng Mátthêu quy điển hoặc ngược lại.[22]  Các học giả khác suy đoán nhất thiết có nhiều giả thuyết tài liệu phức tạp hơn, chẳng hạn: nguồn không chỉ là M bằng tiếng Aram mà còn nguồn M được dịch sang tiếng Hy Lạp. Các nguồn truyền khẩu cùng với văn bản cũng được xác định. Trong Bản tóm tắt bằng tiếng Pháp gồm ba tập được xuất bản vào thập niên 1970, M.E. Boismard và A. Lamouille phát hiện ra bốn nguồn tài liệu do các tác giả Tin mừng Nhất lãm rút ra, không phải trực tiếp mà dựa trên một tiền Tin mừng: Tài liệu A có nguồn gốc Kitô giáo ở Paléttin và Do Thái khoảng năm 50 AD; Tài liệu B, một sự giải thích lại Tài liệu A dành cho Kitô hữu dân ngoại được viết trước năm 58 AD; Tài liệu C, một truyền thống Paléttin độc ​​lập bằng tiếng Aram, rất cổ xưa và có lẽ là hồi ký của Phêrô – cũng được sử dụng trong Gioan; Tài liệu Q chứa tài liệu chung của Mátthêu và Luca. Loại lý thuyết này hầu như đặt ra một nguồn mới để giải quyết mọi khó khăn. Nó không thể được chứng minh là đúng hay sai, nhưng hầu hết sẽ thấy nó quá phức tạp trong việc giúp ích cho việc nghiên cứu Tin mừng thông thường. Trên thực tế, phần lớn các học giả trong nỗ lực giải thích những điểm khác biệt và tương đồng của Nhất lãm, thay vì đặt ra những câu chuyện nguyên thủy không còn tồn tại và ngụy thư rất sớm, đã dựa trên mối quan hệ giữa các Tin mừng hiện có, tức là, các giải pháp phụ thuộc lẫn nhau mà chúng ta hiện sẽ bàn đến.

Những giải pháp xem Mátthêu là Tin mừng đầu tiên và Luca sử dụng Mátthêu. Giả thuyết này, có từ thời Augustinô vào thế kỷ thứ 4, là cách giải thích lâu đời nhất; nó thường được người Công giáo Rôma chấp nhận cho đến giữa thế kỷ 20, và vẫn có những người ủng hộ đáng kính khác (B. C. Butler; J. W. Deardorf; J. Wenham). Theo văn phong tiếp cận của thánh Augustinô này, thứ tự quy điển cũng là thứ tự phụ thuộc, Tin mừng Mátthêu được viết trước, Mátthêu được Máccô tóm tắt một cách cô đọng, rồi đến Luca và Gioan, mỗi tác giả đều dựa trên các đấng tiền nhiệm của mình. Năm 1789, J.J. Griesbach đề xuất một lý thuyết về sự phụ thuộc trong đó thứ tự là Mátthêu, Luca và Máccô.[23] Nền tảng đề xuất ưu tiên của Mátthêu có từ thời xa xưa, thời đó Mátthêu được coi là Tin mừng đầu tiên. Giải thích về Máccô thì khó khăn hơn bất cứ giả thuyết nào dành ưu tiên cho Mátthêu. Trong giả thuyết của Augustinô, lôgíc của Máccô là gì khi bỏ qua quá nhiều trình thuật của Mátthêu? Giả thuyết của Griesbach cố gắng giải quyết khó khăn đó bằng cách đặt Máccô ở vị trí cuối cùng và đánh giá nó chủ yếu như một bản tóm tắt tường thuật tài liệu mà Mátthêu và Luca đã đồng thuận. Tuy nhiên, Máccô đã bỏ qua toàn bộ Truyền thống kép mà chúng đồng thuận!

Sự hỗ trợ chính cho luận điểm mà Luca đã sử dụng Mátthêu nằm ở các đoạn trong Truyền thống Bộ ba nơi Luca và Mátthêu đồng thuận, chống lại Máccô, tức là “những đồng thuận thiểu số”. Chẳng hạn, trong sự nhạo báng của người Do Thái đối với Đức Giêsu, cả Mátthêu và Luca đều cho thấy Đức Giêsu được hỏi một câu giống hệt nhau mà không có câu hỏi của Máccô: “Ai đánh ông đó?” – một câu trích dẫn có nghĩa rõ ràng hơn về thách thức nói tiên tri (Mt 26, 68; Lc 22,64; Mc 14,65). Nếu Luca và Mátthêu viết độc lập với nhau, liệu một đồng thuận như vậy có thể xảy ra hoàn toàn do trùng hợp không? Việc Luca sao chép câu hỏi từ Mátthêu không hợp lý hơn sao?[24] Tuy nhiên, có những luận cứ chính chống lại sự phụ thuộc của Luca vào Mátthêu (x. Fitzmyer, Luke 1,73-75). Nơi mà Luca và Mátthêu có những câu chuyện gần như trái ngược nhau, tại sao Luca không nỗ lực để dung hoà khó khăn? Ví dụ, câu chuyện thời thơ ấu trong Luca không chỉ khác về cơ bản so với câu chuyện của Mátthêu, mà còn ở các chi tiết hầu như không thể hòa hợp với nó, chẳng hạn: nói về nhà của Giuse và Maria (ở Bêlem trong Mt 2,11 [nhà]; ở Nadarét trong Lc 2,4-7, không có nhà ở Bêlem) và về những chuyến đi của họ sau khi Đức Giêsu được sinh ra (đến Ai Cập trong Mt 2,14; đến Giêrusalem và Nadarét trong Lc 2,22,39). Hoặc một lần nữa, trình thuật của Luca về cái chết của Giuđa trong Cv 1,18-19 hầu như không phù hợp với Mt 27,3-10. Về thứ tự, nếu Luca đã sử dụng Mátthêu, tại sao cách đặt tài liệu Q của Luca lại khác rất nhiều so với Mátthêu (ngoại trừ những lời của Gioan Tẩy Giả và câu chuyện cám dỗ, x. Bảng 2 dưới đây)? Lập luận đó trở nên mạnh mẽ hơn nếu Luca cũng sử dụng Máccô (luận điểm của Augustinô), vì Luca tuân theo trình tự của Máccô một cách chặt chẽ. Một vấn đề khác là việc Luca không báo cáo những phần thêm vào của Mátthêu cho Máccô, ví dụ, Mt 3,14-15; 12,5-7; 16,17-19; 21,14-16; 26,52-54.

Giải pháp coi Máccô trước hết. Máccô được viết trước nhất và cả Mátthêu và Luca đều dựa trên đó. Có một hình thức của cách tiếp cận mà Luca cũng đã dựa trên Mátthêu, nhưng nó gặp phải những khó khăn được tường thuật lại trong đoạn cuối. Do đó, luận điểm phổ biến nhất cho rằng Mátthêu và Luca phụ thuộc vào Máccô và viết độc lập với nhau. Điểm chung giữa chúng và không bắt nguồn từ Máccô (Truyền thống kép) được giải thích bằng cách đặt vào Q (một nguồn được cấu trúc lại hoàn toàn từ Mátthêu và Luca sẽ được thảo luận trong tiểu mục tiếp theo). Do đó, điều này được gọi là Thuyết Hai Nguồn.[25]

Vì thế, chúng ta có thể so sánh nó với giả thuyết của Griesbach:

Giả thuyết của Griesbach            Giả thuyết Hai Nguồn

Mt                                                Mc               Q                 Lc                                   

Mc                                               Mt               Lc

Lập luận cơ bản coi Máccô trước hết giúp giải quyết được nhiều vấn đề hơn bất cứ thuyết nào khác. Nó đưa ra lời giải thích tốt nhất về lý do tại sao Mátthêu và Luca thường đồng thuận với Máccô về thứ tự và từ ngữ, đồng thời đưa ra những phỏng đoán hợp lý về lý do tại sao Mátthêu và Luca khác với Máccô khi họ làm như vậy một cách độc lập. Chẳng hạn, không tác giả Tin mừng nào thích sự thừa thãi của Máccô, cách diễn đạt tiếng Hy Lạp vụng về, cách trình bày thiếu thiện chí về các môn đệ và Maria, và những lời phát biểu đáng xấu hổ về Đức Giêsu. Khi sử dụng Máccô, cả hai đã mở rộng các trình thuật Máccô dưới ánh sáng của đức tin sau khi phục sinh. Lập luận cơ bản chống lại Máccô trước nhất dựa trên các Đồng thuận thiểu số được trích dẫn ở trên liên quan đến giả thuyết Griesbach. Nhiều lời giải thích hợp lý có thể được đưa ra cho nhiều điều trong chúng,[26] nhưng một số vẫn còn rất khó.

Một kết luận thực tế là không có giải pháp nào cho Vấn đề khái quát giải quyết được mọi khó khăn. Các tác giả hiện đại có những cuốn sách riêng đòi hỏi nghiên cứu và sau nhiều thập kỷ họ cố gắng thực hiện nhiệm vụ gần như bất khả thi là tái tạo chính xác cách mà họ đã tập hợp các nguồn tư liệu của mình để viết những cuốn sách đó. Điều đó làm cho chúng ta cảm thông với việc chúng ta không thể tái tạo chính xác cách thức tiến hành của các tác giả Tin mừng cách đây 1.900 năm. Quá trình này có lẽ phức tạp hơn quá trình tái tạo của thời hiện đại. Nếu người ta không thể giải quyết tất cả các điều khó hiểu, thì thực tế là phải chấp nhận và làm việc với một giải pháp tương đối đơn giản cho Vấn đề Nhất lãm mà phần lớn là thoả mãn. Đó là tinh thần mà thuyết cho rằng Máccô trước hết (như một phần của Thuyết Hai nguồn) được giới thiệu cho các độc giả Tin mừng. Dù nó vẫn là một giả thuyết, nhưng người ta nên biết rằng những kết quả quan trọng bắt nguồn từ việc chấp nhận nó.

Đây là một số điểm cần lưu ý khi làm việc với thuyết cho rằng Máccô trước hết:

  • Ngay khi Máccô được viết ra, thì ký ức truyền khẩu về Đức Giêsu vẫn không dừng lại. Chúng ta thường tưởng tượng việc biên soạn các Tin mừng là một nỗ lực hết mình để viết ra. Tuy nhiên, Papias là nhân chứng cho thấy việc tiếp tục quan tâm đến truyền khẩu trong thế kỷ thứ 2 (ghi chú 15 ở trên). Các học giả không đồng thuận với nhau về mức độ truyền khẩu được ghi nhớ (theo mô hình của Rabbi) khác với việc truyền khẩu lặp đi lặp lại.[27] Nhiều người nghĩ rằng một số vấn đề không được giải quyết bởi Thuyết Hai Nguồn thì có thể được giải quyết bằng cách đưa vào bức tranh ảnh hưởng của những ký ức được truyền khẩu. Ví dụ, cùng một câu hỏi, “Ai đánh ông đó?”, được Mátthêu và Luca chia sẻ để chống lại Máccô (xem ở trên), có thể được giải thích là việc sử dụng độc lập một câu hỏi truyền thống trong việc chữa bệnh cho người mù bẩm sinh của Đức Giêsu (BDM 1.579).
  • Nếu cả Mátthêu và Luca đều sử dụng Máccô, thì thần học của họ đôi khi có thể được nghiên cứu nhờ những thay đổi mà họ đã thực hiện trong lời tường thuật của Máccô – phê bình biên soạn. Đây là mấu chốt của một số nghiên cứu đại kết truy tìm sự phát triển các ý tưởng trong Kitô giáo thế ở kỷ thứ nhất bằng cách di chuyển từ Máccô qua Mátthêu đến Luca.[28]
  • Nếu người ta quyết định rằng Mátthêu hoặc Luca đã thêm tài liệu vào những gì đã lấy từ Máccô, thì phần bổ sung đó, đôi khi đến từ tài liệu đặc biệt dành riêng cho một trong hai tác giả Tin mừng đó, không nhất thiết phải ghi ngày biên soạn sau tài liệu của Máccô. Một ví dụ nhạy cảm là Mt 16,17-19 được thêm vào giữa tài liệu vay mượn từ Mc 8,29 và 8,30. Tài liệu được thêm vào, có đặc tính Sêmít rất mạnh, có thể rất sớm.

Sự tồn tại của nguồn “Q”[29]

Nguồn “Q” là một nguồn giả thuyết được hầu hết các học giả đưa ra để giải thích điều được gọi là Truyền thống kép, tức là những đồng thuận (thường bằng lời nói) giữa Mátthêu và Luca về tài liệu không tìm thấy trong Máccô.[30] Đằng sau giả thuyết là giả định hợp lý rằng, tác giả Tin mừng Mátthêu không biết Luca và ngược lại, và vì vậy họ phải có một nguồn chung. Nhiều cảnh báo là cần thiết trước khi nguồn Q được tái tạo. Nội dung thường được ước tính vào khoảng 220-235 câu hoặc các phần của câu.[31] Tuy nhiên, một cách độc lập, cả Mátthêu và Luca đều bỏ qua những đoạn được tìm thấy trong Máccô; do đó, điều hợp lý là họ đã bỏ qua tài liệu tồn tại trong nguồn Q một cách độc lập. Đôi khi chỉ Mátthêu hoặc chỉ Luca sẽ lưu giữ tài liệu trong Máccô; cũng có thể tài liệu chỉ được tìm thấy trong một trong hai Tin mừng có thể đã tồn tại trong Q.[32] Chúng ta không chắc chắn về trình tự tài liệu trong Q vì Mátthêu và Luca không trình bày nó theo cùng một thứ tự; tuy nhiên, hầu hết các bản tái tạo đều tuân theo trình tự của Luca, vì có vẻ như Mátthêu đã đưa tài liệu Q vào các bài giảng lớn của mình (ví dụ, Bài Giảng Trên Núi trong các chương 5-7, và Bài giảng Truyền giáo trong chương 10). Bảng kèm theo cho thấy các nội dung được thống nhất chung về Q trong bộ Luca; và từ đó trở đi, trừ khi có quy định khác, trong Chương này, các tài liệu tham khảo về tài liệu Q sẽ thông qua phiên bản Luca. Nguồn Q thường được tái tạo như một tài liệu viết bằng tiếng Hy Lạp vì vị hướng đạo duy nhất chính là hai Tin mừng bằng tiếng Hy Lạp và bởi vì nội dung thuần tuý truyền khẩu sẽ không giải thích được phần lớn Truyền thống kép theo cùng một thứ tự. Vì Mátthêu và Luca thường không đồng thuận với nhau về cách diễn đạt những gì họ lấy từ Q (họ đồng thuận với bất cứ điều gì họ lấy từ Máccô), người ta phải nghiên cứu khuynh hướng của mỗi Tin mừng để xác định phiên bản nào có nhiều khả năng đại diện cho một sự thay đổi do cá nhân tác giả Tin mừng thực hiện. Ngoài ra, không chắc chỉ có một bản sao của Q tồn tại mà Mátthêu và Luca có quyền truy cập độc lập, và có thể một số khác biệt về cách diễn đạt giữa Mátthêu và Luca bắt nguồn từ các bản sao biến thể một chút của Q.[33]

BẢNG 2: TÀI LIỆU THƯỜNG PHÂN BỔ CHO Q

Mátthêu Luca Nội dung
3,7b-l2 3,7-9.16-17 Gioan Tẩy Giả, những cảnh báo, lời hứa một Đấng sẽ đến
4,2b-l la 4,2-13 Ba cơn cám dỗ (thử thách) Chúa Giêsu do ma quỷ (trật tự khác nhau)
5,3.6.4.11-12 6,20b-23 Bát phúc (trật tự, trình bày khác nhau)

 

 

5,44.39b-40.42 6,27-30 Yêu kẻ thù; giơ má kia; cho áo mặc; ai xin thì hãy cho
7,12 6,31 Những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta
7,1-2 6,37a.38c Đừng đoán xét để khỏi bị xét đoán; đong đấu nào sẽ bị đong lại bằng đấu ấy
l 5,14;

10,24-25a

6,39-40 Người mù dắt người mù; trò không hơn thầy
7,3-5 6,41-42 Thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới
7,16-20 (12,33-35) 6,43-45 Cây tốt không thể sinh quả xấu; trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ?
7,21.24-27 6,46-49 Gọi Thầy là Chúa mà không làm theo Thầy; hãy nghe lời Thầy và đem ra thực hành
8,5a-l0,13 7, l-2.6b-10 Viên đại đội trưởng ở Caphácnaum xin cứu chữa người đầy tớ bị bệnh, một đức tin tuyệt vời
11,2-ll 7,18-28 Các môn đệ Gioan Tẩy Giả; Chúa gửi thông điệp cho ông; ca ngợi ông còn hơn một ngôn sứ
11,16-19 7,31-35 Thế hệ này không làm vui lòng ông Gioan Tẩy Giả cũng không làm hài lòng Con Người
8,19-22 9,57-60 Con Người không có chỗ gối đầu; hãy theo Người, để kẻ chết chôn kẻ chết
9,37-38; 10,7-16 10,2-12 Lúa chin thì nhiều mà thợ gặt thì ít; những giáo huấn về sứ vụ truyền giáo
ll ,21-23; l 0,40 10,13-16 Khốn cho Khoradin, Bếtxaiđa; bất cứ ai nghe các con là nghe Thầy

 

 

11,25-27; 13,16-17 10,21-24 Tạ ơn Cha vì đã mặc khải cho những kẻ bé mọn; Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; mắt anh em thật có phúc vì được thấy
6,9-13 11,2-4 Kinh Lạy Cha (các hình thức biến thể
– của Mt dài hơn)
7,7-ll 11,9-13 Hãy xin sẽ được; nếu anh em cho của tốt huống chi Cha anh em
12,22-30 11,14-15.
17-23
Nhờ quỷ vương Bêendêbun mà trừ quỷ; người mạnh canh giữ nhà anh ta; Ai không đi với tôi, là chống lại tôi
12,43-45 11,24-26 Thần ô uế xuất ra khỏi một người và và gọi thêm bảy thần ô uế khác và tình trạng còn càng tệ hơn trước
12,38-42 11,29-32 Thế hệ này tìm dấu lạ; dấu lạ Giôna; bị dân Ninivê xét xử. Nữ hoàng Phương Nam
5,15; 6,22-23 11,33-35 Đừng đặt đèn dưới đáy thùng; mắt là đèn của thân thể, nếu mắt anh xấu thì toàn thân sẽ tối
23,25-26.23.
6-7a.27
11,39-44 Pharisees cleanse outside of cup; woe for tithing inconsequentials.
23,4.29-31 11,46-48 Khốn cho các kinh sư vì đã chất lên vai kẻ khác gánh nặng. Xây mồ cho các ngôn sứ
23,34-36.13 11,49-52 Tôi nói hay sự khôn ngoan của Thiên Chúa nói: sẽ sai các ngôn sứ, người sẽ bị bắt bớ; khốn cho các kinh sư
10,26-33; 12,32 12,2-10 không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ; đừng sợ những kẻ giết thân xác; ai làm chứng tôi trước mặt Thiên Chúa…
10,19-20 12,11-12 Trước hội đường, Chúa Thánh Thần giúp đỡ
6,25-33 12,22-31 Đừng lo cho thân thể; hãy xem những hoa cỏ ngoài đồng; Cha anh em biết an hem cần gì
6,19-21 12,33-34 Đừng tích trử kho tang dưới đất nhưng trên trời
24,43-44.45-51 12,39-40.
42-46
Chủ nhà và tên cướp; người đầy tớ trung tín chuẩn bị sẵn sang đón chủ về
10,34-36 12,51-53 Không đến mang hoà bình nhưng gươm giáo; sự chia rẻ trong gia đình
16,2-3 12,54-56 Khả năng giải thích thời tiết nên giúp giải thích thời hiện tại
5,25-26 12,58-59 Dàn xếp trước khi đi tới cửa công
13,31-33 13,18-21 Nước trời hay Thiên Chúa giống như sự lớn lên của hạt cải, như nắm men người đàn bà đặt vào trong thúng bột
7,13-14.22-23; 8,11-12 13,23-29 Cửa hẹp mà một ít người qua; chủ nhà từ chối người gõ cửa; dân chúng vào nước trời hay Thiên Chúa từ mọi nơi
23,37-39 13,34-35 Giêrusalem giết các ngôn sứ;  chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa
22,2-10 14,16-24 Nước trời hay Thiên Chúa như một bữa tiệc lớn; các khác mời xin kiếu, người khác được mời
10,37-38 14,26-27 Ai yêu cha yêu mẹ hơn tôi thì không xứng với tôi; phải vác thập giá
5,13 14,34-35 Muối mà lạc mất hương vị của nó thì trở nên vô dụng
18,12-14 15,4-7 Con người bỏ 99 con chiên trên núi để đi tìm con chiên lạc
6,24 16,13 Không thể làm tôi hai chủ
11,12-13; 5,18.32 16,16-18 Chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; không một chấm một phết trong Lề Luật sẽ bị bỏ qua; ly dị vợ và kết hôn với một người khác là phạm tội ngoại tình
18,7.15.21-22 17,1 .3b-4 Khốn cho thế gian; tha thứ cho anh em sau khi khiển trách; Phêrô, làm sao mà thường tha thứ
17,20 17,6 Nếu anh em có đức tin bằng bạt cải, thì anh em có thể chuyển núi dời non
24,26-28 17,23-24.37 Các dấu chỉ Con Người đang đến
24,37-39 17,26-27.30 Như ngày của Nôê, vì thế cũng đến những ngày của Con Người
10,39 17,33 Bất cứ ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất nó; bất cứ ai đành mất mạng sống mình thì sẽ cứu được nó
24,40-41 17,34-35 Vào đêm đó, một trong hai người sẽ bị lấy đi, còn người kia sẽ ở lại
25,14-30 19,12-27 Dụ ngôn về các yến bạc
19,28 22,38.30 Những người theo Chúa sẽ ngồi trên các ngai để xét xử 12 chi tộc Ítraen

Nguồn Q được tái tạo bao gồm các câu nói và một số dụ ngôn với bối cảnh thuật truyện ở mức tối thiểu tuyệt đối;[34] và do đó có một giọng điệu văn chương khôn ngoan mạnh mẽ. Việc phát hiện ra Tin mừng Coptic của Tôma, đại diện cho một bản gốc tiếng Hy Lạp có lẽ thuộc thế kỷ thứ 2, cho thấy rằng có những tác phẩm Kitô giáo bao gồm các bộ sưu tập các câu nói. (Mối quan hệ chính xác giữa Q và tin mừng Tôma còn nhiều tranh luận, vì một số người cho rằng Tin mừng Tôma có ngày biên soạn sớm trong khi những người khác cho rằng Tin mừng Tôma được biện soạn sau Q một thế kỷ và có thể phụ thuộc đáng kể vào các Tin mừng thuộc Quy điển.[35]) Có lẽ, cũng như các tài liệu Tin mừng khác, những câu nói này đã được lưu giữ bởi vì chúng được cho là có liên quan đến các Kitô hữu hiện tại. Nhìn cột Nội dung của Bảng 2 giúp làm nổi bật các điểm nhấn của Q. Có một sự thúc đẩy hướng về cánh chung mạnh mẽ trong các lời cảnh cáo, tai ương và một số dụ ngôn. Người ta có ấn tượng rằng sự phán xét sắp xảy ra; tuy nhiên Lc 12,39-40 cho thấy rằng giờ của chủ nhà không thể biết được; 17,23-24 cảnh báo rằng sẽ có những dấu hiệu lừa dối; và 19,12-27 gợi ý rằng cần có một khoảng thời gian để làm lợi từ những nén bạc. Theo đó, những người theo Đức Giêsu phải sống đạo đức tốt lành, tuân giữ Lề Luật (16,17), không sống giả hình hời hợt (11,39-44). Có sự bắt bớ sắp xảy đến và khích lệ những ai hy sinh vì Con Người (6,22-23).

Nhiều người sẽ gán cho Q một loại Kitô học hạ giáng, nói Đức Giêsu xuất hiện đơn giản như là một người thầy nguỵ biện khôn ngoan hoặc hoài nghi. Tuy nhiên, nguồn Q cho rằng, Đức Giêsu sẽ đến và làm Phép Rửa bằng Chúa Thánh Thần, như được Gioan Tẩy Giả công bố (3,16-17; 7,18-23). Người vĩ đại hơn Salômon và vĩ đại hơn ngôn sứ Giôna (11,31-32). Người được miêu tả là Con Người sẽ đến trong ngày phán xét (Lc 17,23-27,30.37) và là Con Người bị chối bỏ và chịu đau khổ trong cuộc đời mình (7,31-35; 9,57- 60). Người là Chúa Con đã được ban cho tất cả mọi người; chỉ mình Chúa Cha biết Người, và chỉ mình Người biết Chúa Cha (10,22). Chỉ gọi Đức Giêsu là Chúa thì không đủ; người ta phải nghe lời Người và làm theo nếu muốn được cứu độ (6,46-49). Giêrusalem phải chúc phúc cho Người (13,34-35), và người ta phải yêu mến Người hơn gia đình (14,26-27). Người có thể tuyên bố với sự đảm bảo rằng, trong Nước Thiên Chúa, những người theo Người sẽ ngồi trên các ngai toà, xét xử 12 chi tộc Ítraen. Một Đức Giêsu như vậy còn hơn cả một người thầy khôn ngoan.

Vấn đề đó dẫn chúng ta đến một khía cạnh gây nhiều tranh luận trong các nghiên cứu về Q gần đây, nỗ lực tái tạo lại một cộng đoàn Q, lịch sử, thần học của nó, nơi nó được viết ra (thường là Paléttin hoặc Xyri), và vị lãnh đạo của nó (có lẽ là các ngôn sứ). Thật vậy, nguồn Q đã được phân tích để biết nó chứa các thế hệ: từ hai đến bốn thế hệ biên tập với một cái nhìn thần học được gán cho mỗi thế hệ. Đúng vậy, gần như chắc chắn rằng, giống như phần còn lại của tài liệu Tin mừng, tài liệu Q đã trải qua những thay đổi (biên tập) trong khoảng thời gian trước khi nó được tiếp nhận vào Mátthêu và Luca, và điều đó đôi khi phát hiện ra bằng cách so sánh phiên bản của một câu nói trong đó với hai Tin mừng thì chúng ta có thể theo dõi một khuôn mẫu của những thay đổi. Tuy nhiên, giả định rằng chúng ta có thể gán các giai đoạn phát triển khác nhau với độ chính xác đáng kể[36] giả định trước một hệ thống hóa khó có thể xảy ra trong đời sống Kitô hữu. Hình thức tái cấu trúc này đã được công chúng chú ý nhiều, và vì vậy để cân bằng, độc giả nên được biết những tuyên bố như thế về nó đang nằm trong vòng tranh luận hoặc nghi ngờ phổ biến, và không chỉ bởi các nhà bình luận bảo thủ.[37]

Hãy để tôi tường thuật ngắn gọn một số tuyên bố. (Sau đó, trong ngoặc đơn, tôi sẽ có những nhận xét chỉ ra những khía cạnh không chắc chắn của lý luận.) Hiện nay, một số người đề cập đến “Tin mừng Q”, thường với giả định rằng nó có mọi quyền được coi là quan trọng như các Tin mừng thuộc quy điển. Việc phân loại được cho là hợp lý khi nhận xét rằng một tập hợp các câu nói mang tên “Tin mừng của Tôma.” (Tuy nhiên, tiêu đề đó chỉ là phần phụ thêm, có lẽ bởi những người theo thuyết ngộ đạo ở thế kỷ thứ 2 đang cố gắng gán cho Tin mừng Tôma một vị trí chính thức. F. Neirynck[38] thích giữ lại tên gọi “Câu nói Nguồn Q [Nhất lãm]” như một lời nhắc nhở rằng Q vẫn là một văn bản giả thuyết mà chúng ta không có quyền truy cập trực tiếp vào.) Thông thường, giả định cơ bản là Q được tạo ra trong một cộng đoàn duy nhất có quan điểm mà nó đại diện. (Một cá nhân, sau khi nghe những câu nói và dụ ngôn được gán cho Đức Giêsu, có thể đã tạo ra một bộ sưu tập. Có thực là một nền thần học chặt chẽ đánh dấu những câu nói cạnh nhau này thường xuyên được tạo thành một nhóm lại xung quanh các mô-típ hợp nhất trong khác biệt không? Hãy xem trình tự trong cột Nội dung của Bảng 2 để thấy có một cảm giác lộn xộn.) Giả định tiếp theo là Q đại diện cho toàn bộ (hoặc đầy đủ) quan điểm của những người đã thu thập nó để nó có thể được sử dụng chẩn đoán lập trường của họ là Kitô hữu. (Thực tế, nó chỉ được Mátthêu và Luca lưu giữ độc lập khi kết hợp với tài liệu Máccô có thể làm trệch hướng khác, tức là, nó không bao giờ là một bộ sưu tập giáo huấn thêm vào cho những người chấp nhận câu chuyện của Đức Giêsu.) Luận cứ từ sự im lặng trở thành một yếu tố chính trong một tiền giả định như vậy. Ví dụ, vì tài liệu Q không đề cập đến sự đóng đinh hoặc phục sinh, nên người ta cho rằng các Kitô hữu cộng đoàn Q đã phớt lờ, bác bỏ hoặc coi nhẹ niềm tin như vậy. (Trong sự kết hợp mà chúng đã có, Mátthêu và Luca không thấy có mâu thuẫn nào giữa Q và Máccô với sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào cuộc khổ nạn hoặc giữa Q và sự nhấn mạnh của họ về sự phục sinh. Người ta không thể cho rằng hai tác giả Tin mừng đã độc lập tiếp nhận một nguồn mà họ muốn chỉnh lại; đúng hơn, một giả định hợp lý là Mátthêu và Luca đã đồng thuận với Q hoặc họ có lẽ đã không sử dụng nó. Hơn nữa, có một số điểm tương đồng với Q trong Máccô – có thể thần học của Máccô và Q đã mâu thuẫn như vậy không? Có bằng chứng nào cho thấy bất kỳ Kitô hữu nào đầu thế kỷ thứ nhất đều tin vào một Đức Giêsu, Đấng duy nhất không bị phân biệt đối xử do biến cố Người đã bị đóng đinh và trỗi dậy không?[39] Việc bác bỏ sự đóng đinh hoặc sự sống lại là đặc điểm của thuyết ngộ đạo không thể xác định rõ ràng trước thế kỷ thứ hai.)

Trong giả thuyết cho rằng Mátthêu và Luca đã sử dụng cả Q và Máccô, điều đó sẽ hợp lý khi cho rằng Q cũng có lâu đời như Máccô và tồn tại ở thập niên 60. Tuy nhiên, một số người đưa ra tuyên bố không thể chứng minh rằng Q có trước Máccô và thực sự là hiện hữu lâu đời nhất của Kitô giáo kể về Đức Giêsu. Có bằng chứng chống lại việc xác định ngày biên soạn quá sớm, vì một số câu nói chắc chắn trong Q gợi ý đã có trước thời Đức Giêsu. Người ta có ấn tượng từ đoạn văn của Lc 11,49-52 rằng, các ngôn sứ và Tông đồ đã bị bắt bớ. Lc 11,39-44.46-48 cho thấy sự thù địch đáng kể đối với người Pharisêu và các luật sĩ; xung đột dữ dội với người Pharisêu chắn chắn nổ ra muộn hơn thay vì sớm hơn trong lịch sử của các Kitô hữu ở Paléttin.

Những giả thuyết vô lý dựa trên tài liệu giả thuyết này đã để lại dấu ấn của chúng khi nghiên cứu về “Đức Giêsu lịch sử” thời hiện đại (xem Phụ lục I). Chân dung của Chúa Giêsu, người thầy khôn ngoan hay triết gia hoài nghi mà không có thông điệp khải huyền và không có lời tuyên bố về đấng xức dầu nổi lên từ những suy đoán về giai đoạn I của thần học Q – một bức chân dung mà một số người thay thế cho Chúa Giêsu của các Tin mừng và Chúa Giêsu của đức tin Giáo hội.[40] Nói hơi cộc lốc nhưng đáng cho chúng ta suy ngẫm về đề nghị của J.P. Meier, trong Marginal 2.178, mà mỗi buổi sáng các nhà chú giải nên lặp lại: “Q là một tài liệu giả thuyết có phạm vi mở rộng, nguồn gốc cộng đoàn, tầng lớp xã hội và các giai đoạn biên soạn chính xác của nó không ai biết.” Linnemann hỏi: “có không?”, thậm chí còn gay gắt hơn. Điều đó được nghe nói, theo đánh giá của hầu hết mọi người, là sự tồn tại của Q (không có nhiều giả thuyết được thêm vào) vẫn là cách tốt nhất để giải thích các đồng thuận giữa Mátthêu và Luca trong tài liệu mà họ không vay mượn từ Máccô.

[1] Cuộc tranh luận tập trung vào các Tin mừng Nhất lãm vì phái học thuật cấp tiến hơn không coi Gioan là một Tin mừng theo nghĩa như các Tin mừng khác (trang 362 bên dưới).

[2] Các giáo huấn được cho là tìm thấy hoặc không tìm thấy trong “Tin mừng” của sách Didache 15,3-4; 2 Clement 8,5; Matyrdom of Polycarp 4,1. H. Koester, NTS 35 (1989), 361-81, theo dõi việc sử dụng của Marcion, người đang chống lại nguồn truyền khẩu mà các hội thánh cho là có thẩm quyền tông truyền.

[3] Một tiêu đề được thêm vào gọi The Gospel of Thomas, một Tin mừng; và The Gospel of Mary nói về việc rao giảng tin vui.

[4] Ở đây cũng như ở những nơi khác, ngoại trừ tên các tác phẩm in nghiêng, chữ “T” viết hoa sẽ được giữ lại để chỉ các Tin mừng thuộc quy điển. Trong ngụy thư ở một số thế kỷ đầu, chúng tôi không lưu truyền các Tin mừng đầy đủ. Một số người có thể muốn nói đến Tin mừng Bí mật của Máccô, vì nó là một dạng đúc kết của Máccô, là một Tin mừng tường thuật đầy đủ; tuy nhiên, chúng tôi chỉ có hai đoạn nhỏ và do đó không chắc chắn toàn bộ tác phẩm thực sự khác biệt với Máccô ở mức độ nào. Trong Tin mừng của Phêrô (GPet), chúng ta chỉ giữ lại được một phần tường thuật về cuộc khổ nạn hoặc phục sinh. Origen biết một Tin mừng của Phêrô có chứa câu chuyện kể về thời thơ ấu (BDM 2. 1337) – nếu đó là cùng một tác phẩm, thì GPet có lẽ là một Tin mừng tường thuật đầy đủ.

[5] Nói chung, tôi sẽ dành Chương 11 dưới đây để thảo luận về các giả thuyết khác đặc biệt đối với việc nghiên cứu về Gioan.

[6] Lives (OTP 2.385-99) có một lịch sử phức tạp, bao gồm cả một số bổ sung dường như của Kitô giáo. X. Phụ lục II bên dưới.

[7] Người ta cũng có thể nói về Memorabilia về Socrates của Xenophon và các yếu tố tiểu sử của Socrates trong cuốn Dialogues của Platon; xem nghiên cứu của Votaw, Gospels 30-62. (Một phần, những điểm tương đồng trong tiểu sử được đưa ra như một phản ứng đối với luận điểm cho rằng Tin mừng là một loại văn chương bình dân khác với văn chương cổ điển hơn.) Votaw, Talbert, Burridge và Stanton (đối với Mátthêu) là những người tiêu biểu dẫn đầu dùng cách tiếp cận tiểu sử đối với các Tin mừng.

[8] Các Tin mừng Nhất Lãm không trình bày Đức Giêsu đơn giản như một người phàm nhận được sự bất tử như một phần thưởng; đúng hơn, sự phục sinh chủ yếu xác nhận chân lý về những gì Người đã có trước khi chịu chết. Gioan không trình bày một sự nhập thể vĩnh cửu xuống trần gian và sống như một con người, mà là một Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở nên xác phàm và vẫn là xác phàm. Aune, “Problem”, đưa ra một phê bình mở rộng về Talbert.

[9] Người ta có thể lập luận rằng Tin mừng có hình thức thuật chuyện Kitô học, và Tolbert trong Sowing, chỉ ra cuốn tiểu thuyết cổ đại. Tuy nhiên, Stanton trong “Matthew”, phản đối rằng, trong khi có một số quy ước văn chương tương tự, tiểu thuyết nhằm cung cấp sự giải trí và kích thích – hầu như không phải là mục tiêu của các Tin mừng.

[10] Có một dàn bài sơ bộ về hoạt động của Đức Giêsu trong các bài giảng ở Công vụ, ví dụ, 2,22-24, và đặc biệt là 10,37-41: “bắt đầu từ miền Ga-li-lê, sau phép rửa mà ông Gio-an rao giảng. Quý vị biết rõ : Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giê-ru-sa-lem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” C. H. Dodd (ExpTim 43 [193 1-32], 396-400) gợi ý rằng đây là dàn bài rao giảng chung được các Tin mừng bổ sung. Nhiều khả năng đây là một dàn ý được tinh chỉnh từ Tin mừng của chính Luca mà ông đã chèn vào các bài giảng và là văn bản mà ông đã nhận được từ Máccô. Mặc dù lời rao giảng chứa đựng tài liệu Đức Giêsu, nhưng thứ tự từ Galilê đến Giêrusalem có lẽ phản ánh sự đơn giản hóa của Máccô. Theo quan điểm của đa số, Gioan không phụ thuộc vào Máccô; và trong khi Gioan bắt đầu với Phép rửa của Gioan Tẩy giả và chứa những lời nói và việc làm của Đức Giêsu, thì không có sự di chuyển suôn sẻ từ Galilê đến Giêrusalem mà phải đi đi lại lại thường xuyên.

[11] Tất cả các tiểu sử phải được chọn lọc; nhưng ở đây tôi đề cập đến những gì mang lại sức sống và màu sắc cho cuộc sống của những nhân vật trong quá khứ để họ trở nên dễ hiểu và nhân cách của họ nổi bật lên.

[12] Học thuật phê bình Tin lành đã phát triển cách tiếp cận ba giai đoạn bằng cách thảo luận về tác động của các biến thể trong Sitz im Leben (bối cảnh cuộc sống) của một đoạn văn, tức là bối cảnh mà nó có trong cuộc đời của Đức Giêsu, bối cảnh mà nó có trong cuộc đời của hội thánh như nó đã được công bố, và bối cảnh của nó trong Tin mừng mà nó đã được đưa vào. Trong một tài liệu của hội thánh có thẩm quyền ràng buộc đối với người Công giáo Rôma (“Hướng dẫn về Chân lý Lịch sử của Tin mừng,” ngày 21 tháng 4 năm 1964; NJBC 72.35), Ủy ban Giáo hoàng về Kinh thánh Rôma đã đề xuất sự phát triển ba giai đoạn như một cách để giải thích rằng: mặc dù nó chứa đựng tài liệu lịch sử, nhưng các Tin mừng không phải là lịch sử theo nghĩa đen.

[13] Dù theo chủ nghĩa tự do hay bảo thủ, các Kitô hữu đều phạm sai lầm đó. Họ có thể hỏi liệu Đức Giêsu có phục vụ như một người lính trong một cuộc chiến hiện đại (ví dụ, ở Việt Nam) hay ông đã lên kế hoạch lập bao nhiêu bí tích. Câu trả lời chính xác cho những câu hỏi như vậy là một người Do Thái Galilê sẽ không biết đến sự tồn tại của Việt Nam hay chiến tranh vũ khí, và thậm chí không có từ “bí tích” vào thời kỳ này. Những gì Đức Giêsu đã làm và nói có hàm ý cho những vấn đề sau này; nhưng trong đức tin Kitô giáo, Chúa Thánh Thần làm sáng tỏ hàm ý đó bằng một tiến trình chuyển dịch từ thời Đức Giêsu sang thời chúng ta. Khi các tài liệu giải tội của hội thánh nói về các hành động của “Đức Giêsu Kitô”, chúng không chỉ đơn giản nói về Đức Giêsu trong sứ vụ công khai mà còn về Đức Giêsu được miêu tả trong lời rao giảng của các tông đồ và truyền thống đằng sau đó.

[14] Bị Meier chỉ trích, Marginal 1.278-82, Đức Giêsu sống trong một xã hội nông nghiệp nhưng có nghề thợ mộc (Mc 6,3). Bằng kiểu so sánh hiện đại, Meier khẳng định rằng Đức Giêsu sẽ gần giống “với một công nhân cổ xanh ở tầng lớp trung lưu thấp kém ở Mỹ” hơn là một nông dân. Xem tr. 67 ở trên.

[15] Khoảng năm 115 AD, Papias, giám mục Hierapolis, đang tìm kiếm những người thuộc lớp tông đồ thế hệ trước ông hoặc những người theo họ trực tiếp, nghiên cứu truyền khẩu độc lập với các Tin mừng được viết mà ông biết (EH 3.39.3-4).

[16] Ít nhất là về Mátthêu và Gioan. Luca I,2-3 tuyên bố rõ ràng rằng tác giả không phải là một trong những nhân chứng dù ông đã dựa vào họ.

[17] Có thể đưa ra nhiều ví dụ khác về những sự hòa giải khó có thể xảy ra. Vì Mátthêu có Bài Giảng Trên Núi và Luca có Bài giảng ở Đồng bằng tương tự (Mt 5,1; Lc 6,17), nên phải có một đồng bằng bên sườn núi. Vì Mátthêu dạy Kinh Lạy Cha trong bài giảng đó và Luca dạy Kinh này sau đó trên đường lên Giêrusalem (Mt 6,9-13; Lc 11,2-4), các môn đệ hẳn đã quên mất Kinh đó, nên Đức Giêsu phải nhắc lại. Mc 10,46 đặt việc chữa lành người mù sau khi Đức Giêsu rời Giêricô, trong khi Lc 18,35; 19,1 đặt nó trước khi Đức Giêsu vào Giêricô. Có lẽ Đức Giêsu đã rời khỏi địa điểm Giêricô trong Cựu Ước và đi vào địa điểm Giêricô trong Tân ước!

[18] Các con số được lấy từ Neirynck, NJBC 40,5. Rất ít các phân đoạn (pericopes) của Máccô không tương tự với Mátthêu hoặc Luca.

[19] Tuckett, ABD 6.263-64, trích dẫn hai ví dụ về thứ tự và cách dùng từ đòi hỏi nhiều hơn là phụ thuộc truyền khẩu. Mátthêu (14,3-12) và Máccô (6,17-29) đều dừng thuật truyện về sứ vụ của Đức Giêsu sau khi Người trở về Nadarét để tường thuật cái chết của Gioan Tẩy Giả; cả ba Tin mừng đều có cùng một câu ngắt quãng khi Đức Giêsu nói với người bại liệt (Mt 9,6; Mc 2,10-11; Lc 5,24). Thứ tự tài liệu của Máccô có thể đồng thuận với thứ tự của Mátthêu, của Luca, hoặc của cả hai – Tuy nhiên, Mátthêu và Luca không bao giờ đồng thuận với Máccô về thứ tự tài liệu. (Đối với bảy trường hợp được đề xuất ngược lại, xem Fitzmyer, Luke 1,68-69, năm trường hợp phụ thuộc vào Q hơn Máccô; hai trường hợp rất đáng ngờ.) Tự bản thân, mô hình đồng thuận đó không chứng minh Máccô được viết trước và hai Tin mừng còn lại dựa trên đó, nhưng chỉ nói rằng, bằng cách nào đó, Máccô đứng giữa Mátthêu và Luca.

[20] M. Smith, Clemente of Alexandria and a Secret Gospel of Mark (Cambridge, MA: Harvard, 1973); cũng có trong HTR 75 (1982), 449-61; H. Koester trong Colloquy on New Testament Studies, ed. B. Corley (Macon, GA, Mercer, 1983), 35-57; M. W. Meyer, Semeia 49 (1990), 129-53. Phê bình: R. E. Brown, CBQ 36 (1974), 466-85; F. Neirynck, Evangelica II (BETL 99; Leuven Univ., 1991), 716-24.

[21] J. D. Crossan, Four Other Gospels (Minneapolis: Winston, 1985); The Cross That Spoke (San Francisco, Harper & Row, 1988); Semeia 49 ( 1990), 155-68. Phê bình: R. E. Brown, NTS 33 ( 1987), 321-43; BDM 2.1317-49; F. Neirynck, Evangelica II, 2.732-49; D. F. Wright, Themelios 12 (2; Jan. 1987), 56-60; A. Kirk, NTS 40 (1994), 572-95.

[22] Các thuyết tiền Tin mừng khác bao gồm ProtoMark (C. Lachmann; H. J. Holtzmann). Những điều Mátthêu và Luca đã sử dụng thay vì Máccô thuộc quy điển và ProtoLuke (B. H. Streeter), bao gồm Q và tài liệu Luca đặc biệt và do Luca biên soạn trước khi ông thêm tài liệu chịu ảnh hưởng của Máccô.

[23] Ông không rõ liệu Luca có phụ thuộc vào Mátthêu hay không, nhưng giả thuyết Griesbach có sửa đổi được ủng hộ thì ngày nay người ta cho rằng có sự phụ thuộc như vậy. Những người ủng hộ nổi bật là W. R. Fanner, B. Orchard, và D. L. Dungan.

[24] W. D. Davies và Allison, Matthew 109-14, trả lời cẩn thận những phản biện do Stoldt (History) đưa ra chống lại Q dựa trên cơ sở này; xin cũng xem ghi chú 26 dưới đây. Trớ trêu thay, các sự Đồng Thuận Thiểu Số gây khó khăn cho phần còn lại của giả thuyết Griesbach, chẳng hạn: trong ví dụ vừa được trích dẫn trong lời chế giễu, nếu Máccô sử dụng Mátthêu và Luca, tại sao Máccô lại bỏ sót vấn đề mà cả hai Tin mừng đều có và điều đó giúp cải thiện nghĩa của nó?

[25] Trên thực tế, cả Mátthêu và Luca đều được cho là đã dựa trên tài liệu đặc biệt bởi vì nhiều đoạn chỉ xuất hiện ở một trong hai Tin mừng, và do đó, thuộc loại nguồn thứ ba; nhưng ở đây chúng ta đang thảo luận về các giải pháp được đưa ra về những điểm chung của Nhất lãm.

[26] Xem Neirynck, Minor Agreements and “The Minor Agreements and Q” trong Piper, Gospel, 49-72. Ngoài ra T. A. Friedrichsen trong L’Evangile de Luc, ed. F. Neirynck (rev. ed.; BETL 32, Leuven, Peeters, 1989), 335-92; R. H. Stein, CBQ 54 (1992), 482-502. Việc lược bỏ gặp ít khó khăn hơn vì ngẫu nhiên cả hai tác giả Tin mừng đều có thể thấy Máccô có những rắc rối không cần thiết, chẳng hạn, cả Mt 26,45 và Lc 22,46 đều bỏ sót apechei hầu như không thể dịch được (“đủ rồi/đã trả rồi”) của Mc 14,41. Đối với các phần bổ sung, trong Những Đồng Thuận Thiểu số cho rằng một số ít văn bản làm chứng Máccô đồng thuận với những gì Mátthêu và Luca đã thêm vào (ví dụ, thêm từ “và cứng lòng” vào Mc 9,19, để đồng thuận với Mt 17,17; Lc 9,41); nhưng điều đó có thể là do sự dung hòa của người sao chép.

[27] Đối với một số người, một Tin mừng là một nỗ lực, có ý thức hoặc vô thức (và có lẽ hơi đối kháng) để làm chủ những điều bất thường của truyền khẩu – một lý thuyết không công bằng với vai trò của thẩm quyền Tông đồ trong việc tạo ra truyền thống của Đức Giêsu (1 Cr 15, 11 ). Xem W. H. Kelber, The Oral and the Wrillen Gospel (Philadelphia: Fortress, 1983), ông có tranh luận với B. Gerhardsson trong The Gospel Tradition (Coniectanea Neotestamentica 15; Lund: Gleerup, 1986). Xem thêm Jesus and the Oral Tradition, ed. H. Wansbrough (Sheffield: Academic, 1991); B.W. Henaut, The Oral Tradition and the Gospels (JSNTSup 82; Sheffield: JSOT, 1993).

[28] Như vậy PNT và MNT, Quan điểm về Phêrô và Maria phát triển thuận lợi hơn (theo một mẫu quỹ đạo) khi người ta lướt qua các Tin mừng theo thứ tự Máccô-Mátthêu-Luca. Mặc dù một số người Công giáo Rôma đã ca ngợi giả thuyết Griesbach là một cách tiếp cận truyền thống hơn, nhưng họ vẫn đi theo quỹ đạo không thuận lợi vì phần mới nhất của Nhất lãm (Máccô) sau đó sẽ là phần ít giá trị nhất nói về Phêrô và Maria (xem trang 165 dưới đây).

[29] Tên gọi “Q” từ tiếng Đức Quelle, “nguồn”, được cho là bắt đầu với J. Weiss vào năm 1890. Xem F. Neirynck, ETL 54 (1978), 119-25.

[30] Hay ít nhất không thấy trong Máccô về hình thức mà được tìm thấy trong Mátthêu và Luca. Chẳng hạn, Mc l,12-13 đề cập đến việc Đức Giêsu bị Satan cám dỗ nhưng không ở dạng mở rộng được tìm thấy trong Mt 4,1-11 và Lc 4,1-13. Mc 3,22 thuật lại cuộc tranh luận về quỷ vương Bêendêbun nhưng không liên quan đến việc trừ quỷ khỏi người câm như trong Mt 12,22-24 và Lc ll,14-15. Havener, Q 153-60, đã viết ra văn bản các đoạn Máccô song song với Q; và Fleddermann trong Mark, đưa ra một cuộc thảo luận chi tiết. Một số học giả cho rằng Máccô biết Q; xem I. Dunderberg, NTS 41 (1995), 501-11.

[31]  Q Parallels rất hữu ích của Kloppenborg cung cấp một văn bản tiếng Hy Lạp và bản dịch tiếng Anh của Q. Một văn bản tiếng Anh được in ra ở Havener, Q 123-46; và trong Miller, Complete Gospels 253-300. Danh sách được cung cấp trong Neirynck, NJBC 40.14; Davies và Allison, Matthew 1.117-18; và ở phần đầu Concordance của Edwards (với các con số tóm tắt của Aland). Hầu như một bài bình luận được Catchpole cung cấp trong Quest. Có một cuộc tranh luận học thuật sôi nổi về một số câu và từ ngữ; J. M. Robinson trong “International,” thuật lại cuộc thảo luận về từng câu.

[32] Neirynck, NJBC 40.13, đề cập đến những đoạn được đề xuất, Mt 10,5b-6; 10,23; Lc 6,24-26; 9,61-62; 12,32,35-38,49-50 (54-56); 15,8-10; 17,28-29. Havener trong Q 147-51, đã in ra những văn bản gây tranh luận có thể liên quan đến Q.

[33] Một cách tiếp cận khác giả định rằng nguồn gốc của Q là bằng tiếng Aram (F. Bussby, ExpTim 65 [ 1954-55), 272-75 – trong trường hợp đó, Q có thể được xác định với bộ sưu tập được cho là Lời Chúa được Mátthêu sắp đặt trong tiếng Do Thái hay Aram). Mátthêu và Luca sau đó đã dựa trên những bản dịch tiếng Hy Lạp khác nhau từ tiếng Aram đó. Tuy nhiên, tương đối có ít sự khác biệt có thể được giải thích hợp lý thông qua giả thuyết đó.

[34] Có ba câu chuyện đáng chú ý, Đức Giêsu bị cám dỗ; người hầu đau ốm của viên đại đội trưởng; các môn đệ của Gioan Báptít đến với Đức Giêsu.

[35] Contrast S. J. Patterson, The Gospel of Thomas and Jesus (Sonoma, CA: Polebridge, 1993) và C. M. Tuckett, ETL 67 (1991 ), 346-60.

[36] Jacobson trong First, và Kloppenborg trong Formarion, là những người ủng hộ mạnh mẽ. Ví dụ, một cách tiếp cận đặt ra giai đoạn đầu của Q thuộc phái khôn ngoan (và gần giống với Đức Giêsu lịch sử, Người không phải là người theo phái khải huyền), giai đoạn thứ hai, trong đó Q được khải huyền hóa và giai đoạn thứ ba có một phong trào hướng tới thuật truyện và Đức Giêsu trở thành người ủng hộ việc tuân giữ nghiêm ngặt luật Tôra (điều này khiến Q phải tuân theo Mátthêu).

[37] Xem H. W. Attridge, “Reflections on Research into Q,” Semeia 55 ( 1992), 222-34.

[38] “Q, From Source to Gospel,” ETL 71 (1995), 421-30. Mặc dù câu nói Q trong Lc 7,22 nói về việc những người nghèo được nghe Tin mừng (euaggelizein), nhưng câu đó vay mượn ở Is 61,1.

[39] Các câu nói trong Q liên quan đến sự khước từ và giết chết Đức Giêsu, tương tự như số phận các nhà ngôn sứ (13,34; 11,49; 6,23); tuy nhiên không có bằng chứng nào cho thấy mối liên hệ này muốn nói đến sự phục sinh của Đức Giêsu thiếu giá trị độc nhất đối với các Kitô hữu đã đọc hay nghe Q.

[40] Người ta không cần đồng thuận với việc bảo vệ người nông dân theo giả thuyết của Griesbach để nhận ra ông ta đúng (Gospel) khi lập luận rằng giải pháp được đề xuất cho Vấn đề Nhất lãm có liên quan đến mục vụ.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục