danvienxitochauthuy

Kinh Nghiệm của Phaolô Trên Đường Đamát

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm

Trích dịch từ: catholic-resources.org

TRONG TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ[1]

Đây là cách các tác giả Kinh Thánh kêu gọi các độc giả chú ý đến tầm quan trọng của một khái niệm, một nhân vật hoặc một sự kiện trong tác phẩm của họ, là thông qua việc lặp lại nhiều lần về một một biến cố. “Lặp lại” không phải là một kỹ thuật mới được các nhà quảng cáo phát hiện. Các tác giả Kinh Thánh từ lâu đã biết đến hiệu quả của nó và sử dụng nó rộng rãi để giải thích sứ điệp của họ.

Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Saolô với Chúa Kitô Phục sinh trên đường đến Đamát xuất hiện ba lần trong 28 chương trong tập hai của Luca, gọi là Tông đồ Công vụ (9,1-9; 22,6-16; 26,12-17).  Luca đã đặt ba phiên bản của câu chuyện vào những điểm chiến lược trong trình thuật của mình, mỗi lần với mục đích thu hút sự chú ý của độc giả về một khía cạnh cụ thể kinh nghiệm của Phaolô. Ý định trong ba lần này của Luca là chủ đề của bài viết này.

Trình thuật thứ nhất

Ông Saolô vẫn còn hằm hè đe doạ giết các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế xin thư giới thiệu để đến các hội đường ở Đamát, để nếu thấy những người theo Đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giêrusalem.  Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông.  Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông,  “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói,  “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp,  “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ. Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.”  Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ,  họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai. Ông Saolô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đamát. Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống.

Mục đích của trình thuật thứ nhất về kinh nghiệm Đamát là để khẳng định rằng Saolô thực sự đã nhìn thấy Chúa Kitô phục sinh. Tại sao Luca thấy cần thiết phải nhấn mạnh vào điểm này? Có hai lý do chính và liên quan. Đầu tiên, bởi vì chính Phaolô chứ không phải Tông đồ chính thức nào khác sẽ thực hiện ý muốn rõ ràng của Chúa Kitô về việc mang sứ điệp Kitô giáo ra khỏi vòng kiềm toả của Ítraen, và vì thế nhận thức được đặc tính phổ quát của sứ điệp. Trong chương đầu của sách Công Vụ, trước khi Chúa Giêsu lên trời, Ngài đã trối lại cho các môn đệ của Ngài:  “Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri-a và cho đến tận cùng trái đất” (1,8). Cần lưu ý rằng Phaolô đã không có mặt trong cuộc họp các môn đệ này bởi vì ngài chưa làm môn đệ Chúa Kitô. Tuy nhiên, trong phần sau của trình thuật Luca, chính Phaolô thực sự đã trở thành chứng nhân của Chúa Kitô “cho đến tận cùng trái đất.” Các Tông đồ từng người một biến mất khỏi trình thuật trong sách Công Vụ và thậm chí không được kể là người đã ra khỏi Ítraen để rao giảng Tin Mừng. Từ chương 13 đến cuối sách Công Vụ, chính Phaolô là nhân vật chính của trình thuật. Cuốn sách kết luận với việc Phaolô đến Rôma, là đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ, tượng trưng cho “tận cùng trái đất.”

Lý do thứ hai cho việc Luca khẳng định rằng Saolô thành Tácxô  thực sự nhìn thấy Chúa Kitô Phục sinh là để đưa Phaolô lên ngang hàng với các tông đồ khác. Luca một lần nữa biện minh cho vai trò của Phaolô là nhân vật quan trọng trong trình thuật của mình và chứng minh Phaolô đã đủ điều kiện làm tông đồ. Bằng chứng này được bảo đảm bởi định nghĩa của Phêrô về người được coi là “Tông đồ.” Khi chọn một người thay thế cho vị Tông đồ xấu số Giuđa Iscariôt, Phêrô nói rõ rằng người đó phải là nhân chứng Phục sinh (Cv 1, 22) và gặp Chúa Kitô phục sinh. Điều đó chứng tỏ rằng Luca đã biết có truyền thống về tuyên bố của Phaolô đã thấy Chúa Kitô Phục sinh. Từ truyền thống đó, giờ đây Luca có thể chứng minh rằng Phaolô đã đáp ứng tiêu chuẩn mà Phêrô đặt ra cho việc xác định một Tông đồ thực sự. Ngay cả khi Phaolô vẫn im lặng về các chi tiết đã trải nghiệm tại Đamát của mình, Luca vẫn có thể sử dụng kỹ năng kể chuyện của mình để diễn giải trải nghiệm này bằng cách cung cấp các chi tiết mà chúng ta đọc thấy trong Công vụ Tông đồ.

Trình thuật thứ hai

Trong trình thuật thứ hai, được trình bày như một bài diễn thuyết của Phaolô trước đồng bào Do Thái, Luca có ý trình bày ý nghĩa tôn giáo về sự mù quáng của Phaolô. Chúng ta đọc thấy trong Công vụ chương 22, 3-11, Phaolô đã trình bày với người Do Thái những lời sau đây:

Tôi là người Dothái, sinh ở Tác-xô miền Ki-li-ki-a, nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này; dưới chân ông Ga-ma-li-ên, tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi đã bắt bớ Đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà, như cả vị thượng tế lẫn toàn thể hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Đamát, và tôi đi để bắt trói những người ở đó, giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị.

Đang khi tôi đi đường và đến gần Đa-mát, thì vào khoảng trưa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng chói lọi từ trời chiếu xuống bao phủ lấy tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi,  ‘Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ Tôi đáp,  ‘Thưa Ngài, Ngài là ai?’ Người nói với tôi,  ‘Ta là Giê-su Na-da-rét mà ngươi đang bắt bớ.’ Những người cùng đi với tôi trông thấy có ánh sáng, nhưng không nghe thấy tiếng Đấng đang nói với tôi. Tôi nói,  ‘Lạy Chúa, con phải làm gì?’ Chúa bảo tôi,  ‘Hãy đứng dậy, đi vào Đa-mát, ở đó người ta sẽ nói cho anh biết tất cả những gì Thiên Chúa đã chỉ định cho anh phải làm.’ Vì ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy nữa, nên tôi đã được các bạn đồng hành cầm tay dắt vào Đamát.

Trong khi trình thuật đầu tiên của biến cố Đamát, nó chỉ đơn giản nói với chúng ta rằng “… Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì”, trình thuật thứ hai cho chúng ta biết lý do tại sao ngài bị mù,  “… ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy nữa …” Từ Hylạp δόξa được dịch là “ánh sáng” nhưng nó nên được dịch là “vinh quang”.  Do đó, nguyên nhân gây mù cho Phaolô không chỉ là ánh sáng, mà là “vinh quang” của ánh sáng.  Trên thực tế, những người bạn đồng hành của Phaolô cũng nhìn thấy ánh sáng nhưng họ không bị ảnh hưởng bởi nó. Chỉ có Phaolô nhìn thấy “vinh quang” của ánh sáng và điều này làm cho ông bị mù.  Cụm từ “vinh quang ánh sáng” cho thấy kinh nghiệm của Phaolô về Đức Kitô Phục sinh vượt xa các Tông đồ khác như thế nào.  Các học giả Kinh Thánh cho rằng Chúa Kitô đã mặc khải cho Phaolô trên đường đến Đamát không chỉ là Chúa Kitô của những lần xuất hiện sau khi Phục sinh, mà là Chúa Kitô được siêu tôn bên hữu Chúa Cha.  Thị kiến Chúa Kitô siêu tôn khiến Phaolô bị mù.  Đây là kỹ thuật văn chương của Luca để thể hiện nhận thức của Phaolô về sự bất lực của ông khi đối mặt với hành động của Thiên Chúa.  Không ai cưỡng lại được Thiên Chúa! Các ngôn sứ và các thánh làm chứng cho sự thật này.  Chẳng hạn, ngôn sứ Giêrêmia nói về hành động của Thiên Chúa đối với ông là “sự quyến rũ.”

“Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ” (Gr 20, 7).

Các thánh nói về kinh nghiệm của họ về Thiên Chúa như một sự “xuất thần” hoặc “lửa thiêu đốt bên trong.”  Không có gì ngạc nhiên khi kinh nghiệm Đamát đã làm cho cuộc sống của Phaolô bị biến đổi hoàn toàn,  từ kẻ thù hung dữ nhất của Hội thánh, ngài trở thành người con và nhà truyền giáo nhiệt thành nhất.

Trình thuật thứ ba

Trong trình thuật thứ ba, Luca cố gắng chứng minh rằng Phaolô là một ngôn sứ và sứ vụ của ông là mở rộng sứ vụ Người Tôi Tớ Giavê trong sách Isaia.  Trình thuật được trình bày dưới dạng một bài diễn thuyết khác của Phaolô trước mặt vua Do Thái Ácríppa và vợ ông là Bécnikê (Cv 26, 11-18):

Nhiều lần tôi đã rảo khắp các hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ phải nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành nước ngoài mà bắt bớ họ.  Thế là sau khi được các thượng tế trao quyền và uỷ nhiệm, tôi lên đường đi Đamát.  Kính thưa đức vua, đang khi đi đường, vào lúc trưa, tôi đã thấy một luồng ánh sáng chói lọi hơn mặt trời, từ trời chiếu toả xuống chung quanh tôi và các bạn đồng hành.  Tất cả chúng tôi đều ngã nhào xuống đất, và tôi nghe có tiếng nói với tôi bằng tiếng Híp-ri,  ‘Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!’  Tôi hỏi,  ‘Thưa Ngài, Ngài là ai?’ Chúa đáp,  ‘Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ.  Nhưng ngươi hãy chỗi dậy, đứng thẳng lên. Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết. Ta sẽ cứu ngươi thoát khỏi tay dân Dothái và các dân ngoại,  Ta sai ngươi đến với chúng để mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa. Như vậy, nhờ tin vào Ta, chúng sẽ được ơn tha tội và được hưởng phần gia tài cùng với các người đã được thánh hiến.

Luca hoàn thành mục đích của mình, bằng cách mượn ngôn ngữ thị kiến sấm truyền ngôn sứ Êdêkien (Ed 2, 1.3), ám chỉ rằng biến cố Đamát sẽ được gọi là thị kiến sấm truyền ngôn sứ Phaolô. Luca coi Phaolô như một ngôn sứ, theo truyền thống của các ngôn sứ lớn thời xưa, tương tự như Êdêkien.

Thị kiến sấm truyền ngôn sứ của Phaolô Thị kiến sấm truyền ngôn sứ của Êdêkien
Nhưng ngươi hãy chỗi dậy, đứng thẳng lên. Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều Ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết. Hỡi con người, hãy đứng cho vững, Ta sắp nói với ngươi đây … Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Ítraen, đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại Ta.

Thứ hai, Luca trình bày sứ vụ của Phaolô, sử dụng ngôn ngữ của một trong những bài ca Người Tôi Tớ Giavê trong Is 42, 7.

Sứ vụ của Phaolô Sứ vụ của Người Tôi Tớ Giavê
… Ta sai ngươi đến với chúng để mở mắt cho chúng, khiến chúng rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa… … để mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.

Điểm đặc biệt nhất của Người Tôi Tớ Giavê là định mệnh phải chịu đau khổ và chịu chết trong khi thực hiện sứ vụ của mình.  Thánh Phaolô được một số học giả Kinh Thánh coi là “Người Tôi Tớ thứ hai của Gia-vê.”  Ngài đã trải qua nhiều khó khăn và chống đối trong khi rao giảng Tin Mừng.  Ngài đã được đội triều thiên tử đạo tại Rôma, là thủ phủ của đế chế hùng mạnh nhất trên thế giới trong thời đại của ông.  Vì thế, nó đã được ứng nghiệm trong Phaolô những lời của Chúa Kitô trước khi về trời,  “Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy … cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8). Như mong muốn của Chúa Kitô, Tin Mừng đã trở thành thông điệp phổ quát và được mọi người biết đến nơi Phaolô, Người Tôi Tớ thứ hai của Giavê.

4. Hiểu gì về cụm từ “Thánh Phaolô Trở Lại”?

“Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi.” (Pl 3,8)

Kinh nghiệm Con đường Đamát của Saolô Tácxô  được Hội thánh kính nhớ với thánh lễ gọi là “Thánh Phaolô Trở Lại”.  Làm sao người ta có thể coi đó là một “trở lại” trong khi Saolô không sống bất chính và vô luân không?  Trái lại, ngài rất nhiệt thành vì đức tin và truyền thống của cha ông, và chính lòng nhiệt thành này đã khiến ngài bách hại những người theo Chúa Giêsu Nagiarét.  Kinh nghiệm của ngài không thể được coi là một sự chuyển đổi từ tôn giáo này sang tôn giáo khác, vì Thiên Chúa trong Do Thái Giáo mà ngài tôn thờ cũng chính là Thiên Chúa của Kitô hữu. Vì khó khăn trong việc giải thích kinh nghiệm trở lại của Saolô, nên một số nhà thần học thích xem biến cố này như là “ơn gọi và sai đi” và coi ngài là Tông đồ Dân ngoại.  Dù điều này đúng, nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu thuật ngữ “trở lại” để hiểu hàm ý sâu sắc hơn về kinh nghiệm của Phaolô và sự tương liên của nó với chúng ta ở đây và bây giờ.

Metanoia” là thuật ngữ Hylạp được dịch là “sự trở lại”.  Nó bao gồm hai từ,  meta có nghĩa là “vượt qua bên kia”, như nó được sử dụng trong hạn từ “metaphysics” (vượt qua bản chất bên ngoài); từ còn lại là nous được dịch là “tâm trí.”  Theo nghĩa đen, metanoia có nghĩa là “vượt qua tâm trí”, vượt qua các cấu trúc đầu óc hẹp hòi của một người bao gồm các điều kiện tiên quyết, ấn tượng xấu, thành kiến, ý kiến cố hữu và niềm tin cứng nhắc. Vượt qua tâm trí là mở lối cho một người hướng đến chiều kích Mầu Nhiệm.  Mầu nhiệm này vượt trên mọi qui định và phạm trù của lý trí. Metanoia hiểu theo cách này là nắm bắt chính xác được bản chất kinh nghiệm của thánh Phaolô và chỉ cho chúng ta loại hoán cải mà ngày nay chúng ta cũng đang quan tâm.

[1] Xem thêm bài báo của D. Stanley “Sự Trở Lại của Phaolô trong Công Vụ,  Tại Sao có Ba Trình Thuật?” trong Báo Kinh Thánh Công Giáo số 15 (1953), từ trang 315-338.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục