danvienxitochauthuy

THƯ THỨ HAI GỬI TÍN HỮU THÊXALÔNICA (Raymond E. Brown)

  • Trích dịch trong: An Introduction to the New Testament

Tác giả: Raymond E. Brown

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist

 

 

Có một cuộc tranh luận đáng xem xét nói về việc liệu thư 2 Tx do Phaolô viết hay do một môn đệ của ngài. Sau phần Phân tích Tổng quát, trong các tiểu mục, tôi sẽ dành để trình bày các luận đề: Có phải Phaolô đã viết thư 2 Tx hay không, Mục đích của nó, các Vấn đề cần suy gẫm, và cuối cùng là Thư mục.

Phân tích Tổng quát

Cũng giống như trong thư 1 Tx, Công thức Mở đầu (1,1-2) kể đến các tên “Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê,” dù Phaolô chính là người giao tiếp. Tham chiếu duy nhất có thể với bức thư trước đó ở 2,15, nơi thư các tín hữu Thêxalônica được khuyên: “Anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em, bằng lời nói hay bằng thư từ.” Lời Tạ Ơn (1,3-10) ca ngợi đức tin và lòng yêu thương của các tín hữu Thêxalônica, cũng như sự kiên định của họ trước những đau khổ đè lên vai họ. Khi Đức Giêsu từ trời xuất hiện, ngài sẽ báo oán và bắt chúng lãnh án diệt vong muôn đời cho những kẻ bắt bớ, trong khi họ sẽ được thoát khỏi gian truân và được tôn vinh. Tiếp theo là Lời Cầu Nguyện (1,11-12): xin Thiên Chúa sẽ làm cho họ xứng đáng với ơn gọi của họ.

Khi bắt đầu Phần Trình Bày Nội Dung (2,1-17), Phaolô không muốn các tín hữu Thêxalônica bị kích động quá mức do bởi “thần khí hay lời nói;”[1] hoặc nhận bất cứ thư nào được cho là của ngài nói rằng “ngày của Chúa” (2,1-2) đã gần đến. Đúng hơn, họ có thể thoải mái vì các dấu chỉ tận thế phải xảy ra trước ngày đó vẫn chưa xảy ra, ấy là hiện tượng bội giáo, sự xuất hiện của đứa hư hỏng hoặc con cái của kẻ diệt vong chống lại Thiên Chúa, và sự tác động của Xatan kèm theo đủ thứ dấu lạ và điềm thiêng lừa dối (2,3-12).[2] Tuy nhiên, mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành rồi và một cái gì đó hay người nào đó hiện đang kiềm chế kẻ đó cho đến khi nó được tiết lộ vào đúng thời đúng buổi (2,6-7).

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: Nếu do Phaolô viết, thì có lẽ khoảng năm 51 hay 52 AD, ngay sau khi viết 1 Tx. Nếu một người mượn danh viết, thì có lẽ viết vào cuối thế kỷ thứ nhất, khi lòng mong đợi về ngày quang lâm ngày càng gia tăng.

NƠI BIÊN SOẠN: Nếu Phaolô viết, thì có lẽ ngài viết ở Côrintô, giống như 1 Tx. Nếu một người mượn danh viết, thì không thể biết được.

ĐỘC GIẢ: Nếu Phaolô viết, thì có lẽ ngài gửi cho Hội Thánh ở Thêxalônica. Nếu một người mượn danh viết, thì có lẽ cũng chính nơi đó; tuy nhiên, địa chỉ gửi tới các tín hữu Thêxalônica có lẽ được sao chép từ thư 1 Tx.

TÍNH XÁC THỰC: Hầu hết các học giả đều không thống nhất liệu nó có phải do Phaolô viết hay không, dù họ đều thấy rằng dường như ngài không có chỗ đứng ngay cả giữa những người ôn hòa.

TÍNH THỐNG NHẤT: Rất ít người bàn đến (xem Best, Commetary 17-19,30-35).

TÍNH TOÀN VẸN: Không nhiều người ủng hộ việc mạo nhập.

BỐ CỤC THEO HÌNH THỨC:

A. Công thức Mở đầu: 1,1-2

B. Lời Tạ Ơn: 1,3-10, thêm Lời Cầu Nguyện (1,11-12)

C. Nội Dung: 2,1-17, Chỉ định của Phaolô (lời chỉ dạy)

3,1-16: Mệnh lệnh của Phaolô (khuyên bảo và huấn dụ)

D. Công thức Kết thúc: 3,17-18.

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG:

1,1-2: Lời chào thăm

1,3-12: Lời Tạ Ơn vì đức tin và lòng yêu thương của các tín hữu Thêxalônica sẽ cứu họ trong ngày quang lâm khi những kẻ bắt bớ họ bị phạt; tiếp tục cầu nguyện cho họ.

2,1-12: Dạy về các dấu lạ sẽ xảy ra trước ngày quang lâm.

2,13-17: Lời tạ ơn và chỉ dạy khi Thiên Chúa tuyển chọn họ để ban ơn cứu độ.

3,1-5: Phaolô xin cầu nguyện và ngài cũng cầu nguyện cho họ.

3,6-15: Những lời khuyên đạo đức và những lời huấn dụ (chống lại thói lười biếng và bất phục).
3,16-18: Lời chúc lành kết thúc và chào tạm biệt.

Sau đó, Phaolô tạ ơn Chúa vì Người đã chọn các tín hữu Thêxalônica ngay từ đầu. Họ phải giữ vững những truyền thống mà “chúng tôi đã dạy cho anh em”, và ngài cầu nguyện cho họ được an ủi (2,13-17).

Trong 3,1-2, tác giả chuyển sang Phần Nội Dung (3,1-16). Phaolô xin một lời cầu nguyện tương ứng “cho chúng tôi … để được thoát khỏi tay kẻ tàn ác xấu xa.[3] Chúa sẽ làm cho các tín hữu Thêxalônica được vững mạnh và bảo vệ họ thoát khỏi kẻ xấu xa, và Phaolô tin chắc rằng họ sẽ làm những điều “chúng tôi truyền” (3,3-5). Sau đó, Phaolô đưa ra một mệnh lệnh cụ thể (3,6-13) vì những mong đợi quá nhiệt tình về ngày của Chúa. Một số đã không còn làm việc (có lẽ vì họ nghĩ rằng chỉ còn một thời gian rất ít và dường như làm việc là vô ích). Đây không phải theo gương Phaolô: khi ngài sống giữa họ, chính vì để làm gương, đã làm việc cả ngày lẫn đêm. Do đó, “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn!” (3,10).[4] Để gây ấn tượng mạnh về tính nghiêm túc của mệnh lệnh này, một chỉ thị khác được đưa ra: “Nếu có ai không vâng theo lời chúng tôi nói trong thư này, anh em hãy ghi lấy tên và đừng giao du với người ấy” (3,14). Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy một cách cư xử tế nhị của mục vụ: “Nhưng đừng coi họ như thù địch, trái lại hãy khuyên bảo như người anh em” (3,15). Cũng giống như phần đầu của Nội dung kết thúc với lời cầu nguyện cho các tín hữu Thêxalônica trong 2,16-17, thì phần thứ hai trong 3,16 cũng vậy, lần này là lời cầu nguyện cho được bình an.

Trong Công thức Kết thúc (3,17-18), Phaolô chuyển từ đại từ “chúng tôi” sang “tôi;” khi ngài gửi lời chào bằng chính tay ngài viết.

Có phải Phaolô viết thư 2 Tx không?

Vào cuối thập niên 1700, quan điểm truyền thống khẳng định Phaolô viết thư này đã bị nghi ngờ. Các học giả người Đức thế kỷ 20, từ W. Wrede năm 1904 đến W. Trilling năm 1972, có những lập luận bác bỏ cách viết của Phaolô trong thư này và dần dần khiến quan điểm thiểu số này ngày càng được chấp nhận. Các học giả nói tiếng Anh (chẳng hạn: Aus, Best, Bruce, Jewett, LT Johnson, Marshall và Morris) có xu hướng bảo vệ bài viết của Phaolô, nhưng Bailey, Colins, Giblin, Holland và Hughes lại nằm trong số những người chọn thư này là thư mượn danh ngày càng tăng.

Đánh giá các lập luận không phải là chuyện dễ dàng. Thư 2 Tx dài hơn một nửa so với thư 1 Tx; và những điểm tương đồng giữa 1 và 2 Tx đã được ước tính ảnh hưởng đến khoảng 1/3 thư 2 Tx. Sự giống nhau về hình thức giữa hai thư là khá nổi bật – thực sự là lớn hơn bất cứ thư chính lục nào khác: Công thức Mở đầu giống nhau;[5] Lời Tạ Ơn giống nhau (Lời này trong thư Phaolô thật đặc biệt) trong 1 Tx 1,2; 2,13 và 2 Tx 1,3; 2,13;[6] một lời chúc lành trong 1 Tx 3,11-13 và 2 Tx 2,16-17 cầu xin Thiên Chúa là Cha và Đức Giêsu Kitô ban cho các tín hữu Thêxalônica được đứng vững; câu cuối cùng cũng giống nhau. (Thậm chí ngoài hình thức của nó, 2 Tx 3,8 lặp lại gần như nguyên văn 1 Tx 2,9 về sự lao động và sự vất vả đêm ngày của Phaolô.) Tại sao Phaolô lại sao chép của chính mình theo cách gần như máy móc này? Đây không phải là dấu hiệu cho thấy có một tác giả khác, người mà trong 2 Tx đang mượn danh Phaolô, người đã viết thư 1 Tx sao?

Văn phong và luận cứ từ vựng[7] được gợi nhớ. Có những điểm tương đồng về từ vựng đáng chú ý giữa hai thư, nhưng cũng có những điểm khác biệt đáng chú ý đối với thư 2 Tx. Trong 2 Tx 1,3-12, nhiều câu dài hơn và phức tạp hơn trong 1 Tx, do đó xét về đặc điểm này, 2 Tx gần giống với thống kê của Êphêxô và Côlôxê trong khi 1 Tx gần giống với thống kê của các thư chính lục của Phaolô. Thư 2 Tx trang trọng hơn 1 Tx xét về cung điệu. Các tham chiếu về cuộc đời của Phaolô trong 2 Tx ít mang tính cá nhân hơn; nhưng sự kiện đó có thể giải thích được nếu thư 2 Tx được viết ngay sau thư 1 Tx và do đó không cần phải nhắc lại những gì Phaolô đã làm khi lần đầu tiên ngài đến Thêxalônica. Hơn nữa, câu nói “Chính tôi, Phao-lô, tự tay viết lời chào này. Đó là chữ ký trong tất cả các thư của tôi” (2 Tx 3,17) rất có tính cá nhân. Chắc chắn mệnh đề đầu tiên trong câu đó hỗ trợ tính chân thực của nó. (Nếu thư 2 Tx thuộc thư mượn danh và nếu tránh được khái niệm giả mạo, thì người viết đang nhấn mạnh một cách tượng trưng đến tính chân thực của thông điệp, chứ không phải văn phong bút pháp.) Mặt khác, mệnh đề thứ hai có thể hỗ trợ lối viết mượn danh vì “tất cả các thư” sẽ dễ hiểu hơn sau khi biết có một truyền thống về Phaolô nói có nhiều thư của ngài hơn ngoài thư 1 Tx (thư này là thư duy nhất có trước thư 2 Tx nếu thư sau được Phaolô viết sớm).

Các dấu chỉ nội tại về thời gian sáng tác tạo nên cuộc tranh cãi vì Phaolô đã qua đời vào giữa thập niên 60. Có ý kiến ​​cho rằng việc đề cập đến đền thờ Thiên Chúa trong 2 Tx 2,4 cho thấy Đền thờ Giêrusalem vẫn còn đứng vững, và do đó tác phẩm được viết trước năm 70 AD và gần với thời của 1 Tx. Mặt khác, đền thờ Thiên Chúa có thể được giải thích một cách tượng trưng (xem Kh 21,22). Gợi ý quàng xiên về các lá thư giả mạo của Phaolô (2 Tx 2,2; 3,17) ủng hộ thư này được viết sau thời đó hơn là trước, không chỉ vì không dám khẳng định Phaolô có bị sao chép thẩm quyền như thế hay không vào thời kỳ truyền giáo đầu tiên trong sự nghiệp của ngài[8] mà còn vì chúng ta không có trường hợp nào nói về một tác phẩm Do Thái mượn danh được gán cho một người vẫn còn sống. Nếu “đứa hư hỏng” trong 2 Tx 2,3 tượng trưng cho Nero redivivus (thể hiện kỳ vọng rằng Nêrô sẽ sống lại), một hoàng đế đã tự sát vào năm 68; và vì vậy thư 2 Tx phải được viết sau ngày đó và sau khi Phaolô qua đời.

Sự giống nhau của thư 2 Tx với các tác phẩm hậu Phaolô được đưa ra để bầu chữa cho vấn đề mượn danh. Chẳng hạn, bầu không khí của các thầy dạy giả hiệu (2,2-3,10-11) và nhu cầu giữ lại các truyền thống đã được dạy trước đây (2,15) giống với bầu không khí của các thư Mục Vụ (1 Tm 1,6-7; 4,1-2; Tt 1,9). Sự giống nhau giữa ngày quang lâm của thư 2 Tx và của sách Khải Huyền gợi ý cho ta thấy ngày biên soạn phải ở cuối thế kỷ thứ nhất.

Mục đích của 2 Tx được trích dẫn như một luận cứ chính yếu từ cả hai phía, nhưng vấn đề đó nên được nghiên cứu ở tiểu mục trong thư đó.

Mục đích của thư 2 Tx

Nếu Phaolô viết thư này, thì chúng ta có thể giả định rằng, trong khi chứng minh những ai đã an nghỉ sẽ vẫn được tham dự vào ngày quang lâm, 1 Tx đã quá chú ý quá nhiều đến biến cố đó và làm tăng lòng khao khát ngày đó đến mau. Lòng khao khát đó có thể đã trở nên rõ ràng hơn do sự bắt bớ và cảnh gian truân ngày càng gia tăng (1,4). Thật vậy, một số người cho rằng Phaolô đã nói rằng, ngày của Chúa đã đến rồi (2 Tx 2,2) và họ đã ngừng làm bất cứ công việc gì (3,10-11). Giờ đây Phaolô viết một thư thứ hai để trấn an các tín hữu Thêxalônica rằng, cần phải có một số dấu chỉ tận thế trước ngày của Chúa. Bên cạnh luận điểm mà Phaolô đã viết vài tháng sau khi cư ngụ tại Thêxalônica tương đối ngắn vào đầu thập niên 50, chúng ta không khỏi băn khoăn trước sự mô tả về các dấu chỉ. Con người hay cái gì đang che dấu mầu nhiệm của sự gian ác vốn đang hoành hành? Hơn nữa, liệu người ta có thể nhấn mạnh rằng, các dấu chỉ đáng chú ý cần phải xuất hiện trước ngày của Chúa (2 Tx 2,3-5) thì nó có thể dung hòa được với 1 Tx 5,2: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” giống như đang tạo thành tư tưởng nhất quán của Phaolô được trình bày trong cùng một thời không?[9]

Tác giả Phaolô thực sự của 2 Tx không nhất thiết phải viết vào một ngày rất sớm, cho dù nhiều người xác định khoảng thời gian đó. Chẳng hạn, sau khi viết 1 Tx, rất có thể ngài đã đến thăm Thêxalônica nhiều lần trong các cuộc hành trình của ngài đến Makêđônia (xin xem 1 Cr 16,5 nói về thời gian cuối ở Êphêxô vào hè 57; và xem 2 Cr 7,5, Cv 20,1-6: nói về chuyến thăm Giêrusalem cuối cùng của ngài khoảng năm 58). Những cuộc gặp gỡ tiếp theo này có lẽ giải thích các vấn đề trong 2 Tx nếu nó được viết sau thời kỳ đó.

Nếu Phaolô không viết 2 Tx, thì vì một lý do nào đó, việc giải thích nó trở nên phức tạp hơn. Chúng ta phải khẳng định thư này không thể được biên soạn quá muộn, vì trước nửa đầu thế kỷ thứ 2, nó đã được Marcion và Polycáp biết đến rồi. Một số người thấy rằng, thư này nhắm đến một tình huống khác (những nguy hiểm của phái ngộ đạo[10]) không liên quan rõ ràng đến Hội Thánh Thêxalônica được mô tả trong bức thư trước đó. Những người khác thấy có một sự liên tục hợp lý với một số chủ đề trong 1 Tx. Donfried, trong “Cults” 352-353, cho rằng nó có lẽ đã được Timôthê hoặc Xinvanô viết ngay sau 1 Tx (đồng tác giả của cả hai thư) nhân danh Phaolô khi ngài vắng mặt.

Có lẽ phần lớn những học giả coi thư này thuộc thư mượn danh thấy rằng thư này được gửi cho Hội Thánh Thêxalônica vào cuối thế kỷ thứ nhất, nơi những nguy hiểm đã được vãn hồi đã cho thấy bối cảnh tốt hơn[11] so với thập niên 50. (Do đó, có lẽ có một lượng khán thính giả liên tục của Hội Thánh lắng nghe, ngay cả khi bị gián đoạn hàng thập kỷ.) Đến thập niên 90, ít nhất ở một số khu vực có các Kitô hữu đang gặp thử thách lớn (2 Tx 1,4.6);[12] và vì vậy họ bắt đầu thấy các điều xấu xa trên toàn cầu đang chống lại các tín hữu trong Đức Kitô. Họ chuyển hướng sang nghe sách khải huyền của người Do Thái được viết trong những hoàn cảnh tương tự và sử dụng lại các biểu tượng của nó, chẳng hạn, mô tả của Đanien về các đế quốc thù địch trên thế giới như những con thú độc ác. Xét theo biểu tượng, sách Khải Huyền đã xác định điều ác bắt nguồn từ Xatan đang hoạt động trong lãnh địa của đế quốc Rôma và tôn thờ hoàng đế. Đặc biệt, hoàng đế Domitian (xem trang 805-809 dưới đây), người ngờ vực về những sai lệch tôn giáo, điều ấy dường như đã dẫn ông đến quấy rối ở địa phương đối với các Kitô hữu và tự coi mình là Thiên Chúa, có thể đã trở thành kẻ phạm thượng. Có thể thấy 2 Tx có cùng một quan điểm vì nó đề cập đến sự bắt bớ và sự gian dối xấu xa, đồng thời liên kết hoạt động của Xatan với sự xuất hiện của kẻ vô kỹ luật, tự tôn mình lên trên các vị thần và muốn người ta tôn thờ khi ngồi trong đền thờ của Thiên Chúa (2,3.4.9). Theo lối tiếp cận này, tác giả, người đã biết 1 Tx 5,1-2 chứa đựng lời cảnh báo của Phaolô về thời gian, mùa và ngày Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm, đã quyết định viết một lá thư theo mẫu đó. Phaolô, đã qua đời cách đó một phần tư thế kỷ, đã nói lại cho những người đang nóng lòng mong đợi ngày quang lâm của Chúa, đã đưa ra một thông điệp có uy quyền và truyền phải tuân giữ (2 Tx 2,15; 3,4.6). Ngài cảnh báo mọi người đừng để bị lừa dối bởi sự hăng say của các thầy dạy giả hiệu (2,3)[13] và nhắc khán thính giả ghi nhớ các dấu chỉ cơ bản liên quan đến ngày quang lâm vẫn chưa được xác định.[14] Đúng, mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành. Tuy nhiên, có một cái gì đó hoặc một ai đó đang kiềm chế kẻ sống vô kỹ luật; và khi tên gian ác đó xuất hiện, Đức Giêsu sẽ tiêu diệt nó (2,7-8).

Nhìn vào những lập luận ủng hộ và bác bỏ thư 2 Tx do Phaolô viết, tôi không thể đưa ra quyết định một cách chắc chắn, ngay cả khi một số người ủng hộ tác phẩm hậu Phaolô tuyên bố chắc chắn. Mặc dù làn sóng nghiên cứu hiện nay đã quay lại bác bỏ kẻ nói rằng thư này do chính Phaolô viết, nhưng[15] các cuộc nghiên cứu Kinh Thánh không thêm được gì khi khẳng định chắc chắn về điều không chắc chắn. Hơn nữa, việc giữ lại cả hai khả năng đó sẽ là cơ hội cho độc giả suy nghĩ sáng suốt hơn về các vấn đề liên quan.

Các vấn đề cần suy gẫm

(1) Việc liệt kê những điểm khác biệt về cách giảng dạy và sự nhấn mạnh giữa 1 và 2 Tx và nỗ lực giải thích chúng đang là một thách đố. Ngoài những khác biệt rõ ràng trong giáo huấn cánh chung tương ứng, còn có nhiều khác biệt tinh vi hơn. Chẳng hạn, trong 1 Tx có một giọng điệu van xin và khuyến dụ, trong khi trong 2 Tx lại dựa vào giáo huấn có thẩm quyền và truyền thống lớn hơn (paradosis, một từ ngữ không có trong 1 Tx). Trong 1 Tx (1,5; 2,1-9; 3,4), Phaolô tự lấy mình làm gương; trong khi 2 Tx, Phaolô (2,15; 3,6.14) nói nhiều về quyền tông đồ của mình. Những đặc điểm này có phải là một luận cứ cho việc xác định ngày biên soạn thư 2 Tx vào thời hậu Phaolô khi ngài được kính trọng và coi ngài là đấng sáng lập các Hội Thánh không (Ep 2,20)?

(2) Tính Kitô học của thư 2 Tx là gì và nó có thể được so sánh như thế nào với tính Kitô học của 1 Tx? Chẳng hạn, hãy lưu ý cách sử dụng từ ngữ “Thiên Chúa” trong 1 Tx 1,4; 5,23.24 và cách sử dụng từ ngữ “Chúa [Đức Giêsu]” trong những cụm từ gần như giống hệt nhau trong 2 Tx 2,13; 3,16; 3,3. Nếu thư 2 Tx được viết vào thời kỳ muộn hơn, thì sự siêu tôn Đức Giêsu bấy giờ có tiến bộ hơn không?[16] Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng quyền làm Chúa chủ yếu của Đức Giêsu dường như không liên quan đến sự phục sinh mà liên quan đến ngày quang lâm. Đây có phải là sự tái hiện nền tảng Kitô học trước đó không (xem BINTC 110-112)?

(3) Có một cuộc tranh cãi lớn về danh tính của kẻ sống vô kỹ luật, đứa hư hỏng và là tác nhân của Xatan, kẻ chiếm chỗ trong đền thờ của Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa (sự xuất hiện của nó gắn liền với sự chối đạo; 2,3-5,9-10), và danh tính của điều này hay người nọ hiện đang kiềm chế kẻ đó (động từ: katechon; ho katechōn, gốc của động từ là sự “ngăn cản”). Chúng ta chỉ có thể tiếp xúc với chủ đề đó ở đây; độc giả phải tham khảo các bài chú giải để có những lập luận ủng hộ và bác bỏ các đặc điểm danh tính được đề xuất. Theo ngày biên soạn được ấn định cho 2 Tx, kẻ sống vô kỹ luật thường được đồng hóa với hoàng đế Rôma, kẻ tự xưng là Thiên Chúa (Caligula, Nêrô, Domitian),[17] và người kiềm chế được đồng hóa với luật Rôma hay một tác nhân nơi đó hay là người đã ngăn cản việc tôn thờ hoàng đế. Các đề xuất khác cho người kiềm chế chính là Thiên Chúa, Đấng mà theo tư tưởng của người Do Thái là người giam hãm ma quỷ cho đến ngày tận thế và trì hoãn thời gian xét xử,[18] hoặc kế hoạch rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho toàn thế giới. Một số học giả (chẳng hạn, Giblin) giải thích katechon hay katechōn là một lực lượng “chộp bắt” hay kẻ thù địch với Thiên Chúa, tức là một ngôn sứ giả đã lừa các tín hữu Thêxalônica liên quan đến ngày của Chúa. Phần lớn cuộc thảo luận giả định rằng tác giả đã biết rõ ràng trong đầu mình về danh tính của kẻ sống vô kỹ luật và người kiềm chế. Tuy nhiên, chắc chắn tác giả đã nhận được hình ảnh từ truyền thống nhưng không xác định được chúng.[19] Trong tình huống hiện thời, ông chỉ tin rằng kẻ sống vô kỹ luật đã không xuất hiện và do đó người kiềm chế có lẽ đang hoạt động. (Việc khán thính giả đã được nghe kể về và biết chúng [2,5-6] không nhất thiết muốn nói rằng danh tính chính xác của chúng đã được mặc khải.)

Ngày nay độc giả nên suy gẫm về một vấn đề quan trọng hơn. Các tín hữu có còn chờ một cuộc chối đạo, một kẻ sống vô kỹ luật và một người kiềm chế nó nữa không? Trong lịch sử Kitô giáo, người ta từng nghĩ về những chuyện như thế, nhận diện nhiều nhân vật khác nhau là kẻ phản Kitô.[20] Tuy nhiên, chuyện đó đã có trong thời Tân ước rồi, chúng ta đang nỗ lực để tìm ra giải pháp cho những sự mong ngóng như vậy ở cấp độ tẻ nhạt hơn: tác giả thư 1 Ga 2,18-19 coi những người tách khỏi cộng đoàn của mình là những kẻ mong ngóng phản Kitô. Liệu biểu tượng trong thư 2 Tx có được chấp nhận như chỉ muốn nói rằng luôn luôn có những kẻ chống lại Nước Thiên Chúa, và rằng trước khi Nước đó xuất hiện lần cuối cùng trong và qua Đức Giêsu Kitô sẽ có một sự chống đối lớn không? Một số người đã tuyên bố rằng thư 2 Tx làm cho thuyết cánh chung không xứng nữa. Hơn nữa, liệu nó có loại bỏ nhu cầu tìm biết chắc chắn điều gì sẽ xảy ra như thể đó là một vấn đề tôn giáo quan trọng không?

[1] Cách diễn đạt này có ý ám chỉ đến các ngôn sứ xuất thần nổi bật giữa các tín Kitô hữu Thêxalônica hay họ đến từ bên ngoài? Điều này phản ánh một vấn đề là: liệu bây giờ những kẻ chống đối Phaolô có ở trong hiện trường cộng đoàn Thêxalônica hay không.

[2] Đây thực sự không phải như bảng thời gian biểu dù nhiều nhà chú giải sử dụng thuật ngữ đó. Điều mà tác giả đang coi những sự mong đợi thuộc truyền thống là đương nhiên, người ta cũng thấy tư tưởng đó trong ‘Khải huyền’ của Máccô. Điều đó nói về sự phạm thượng ghê tởm, về vị Kitô giả và các ngôn sứ giả sẽ lừa dối bằng cách thực hiện các dấu lạ và điềm thiêng (Mc 13,14-22). Tuy nhiên, về ngày giờ đó thì không ai biết được, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (13,32).

[3] Những kẻ tàn ác xấu xa này thực sự có mặt tại hiện trường hay là những nhân vật được mong đợi sẽ đến vào ngày tận thế?

[4] Cần phải lưu ý rằng những lời lẽ mạnh mẽ này đã được đưa vào hiến pháp của Liên Xô! (Soards, Apostle 131.) Người ta khẳng định rằng giải pháp thực tế là theo gương sáng đạo đức làm việc của Phaolô vì chưa đến ngày tận thế khiến cho quan điểm cánh chung hầu như không còn phù hợp. Tuy nhiên, người ta cần duy trì sự háo hức cần thiết của Kitô hữu giữa hiện tại và tương lai.

[5] Đề xuất được đưa ra ở Chương 23, ghi chú 20 trên đây, về thư Côrintô và các Công thức Mở đầu của nó cũng có thể được áp dụng cho thư Thêxalônica và giải thích sự tương đồng này.

[6] Đây là tham chiếu thứ ba về Lời Tạ Ơn trong 1 Tx 3,9, nhưng không khớp với Lời Tạ Ơn trong 2 Tx. Một số người sử dụng sự sai sót này khi dùng phương pháp so sánh sự tương đồng của chúng như một bằng chứng về tính xác thực của 2 Tx.

[7] Cả Krentz và Schmidt đều đồng ý thư 2 Tx thuộc thư mượn danh, nhưng Krentz hoài nghi hơn Schmidt về giá trị chắc chắn của loại bằng chứng này. (Schmidt sử dụng máy tính để phân tích về sự phù hợp phức tạp của ngữ pháp.) Best (Thessalonians 52-53) cho rằng những điểm tương đồng về văn phong và ngôn ngữ giữa 1 và 2 Tx là một thách đố nghiêm túc nhất đối với loại thư mượn danh. Liệt kê một số cách diễn đạt trong thư 2 Tx không xuất hiện ở nơi nào khác trong Phaolô không phải là một lập luận ấn tượng lắm; Tác giả trong nhiều tác phẩm của mình thường sử dụng một vài cách diễn đạt khác nhau cho mỗi tác phẩm.

[8] Vào thập niên 50, các kẻ chống đối Phaolô đã phủ nhận quyền tông đồ của ngài; sự mạo danh giả thiết sự chấp nhận quyền bính đã được thiết lập. Tuy nhiên, Barclay, trong “Conflict” 525-530, cho rằng Phaolô viết 2 Tx có lẽ vài tuần sau khi viết 1 Tx; ông nghi ngờ rằng, lá thư đầu tiên đã gây ra sự mất cân bằng về ngày quang lâm giữa các tín hữu Thêxalônica. Phaolô rất bối rối về điều này và tự hỏi liệu có ai đó đã giả mạo một bức thư gửi cho họ hay không.

[9] Một số người không muốn xem thư 2 Tx thuộc thời hậu Phaolô đã chiến đấu vì mối liên hệ với 1 Tx. Để giải thích cho sự khác biệt về văn phong, người ta đã đề xuất thay đổi các thư ký của Phaolô, ví dụ, Xinvanô cho thư này và Timôthê cho thư kia. Ngoài ra, người ta còn đề xuất rằng thư 2 Tx, được gửi đi ngay sau 1 Tx, tới một nhóm khác trong cộng đoàn Thêxalônica (dù 1 Tx 5,26 viết: “Tất cả anh em hãy hôn chào nhau“), hoặc cũng gửi tới Thêxalônica để được chuyển đến một cộng đoàn lân cận (Philípphê, nơi Phaolô đã đến thăm trước Thêxalônica – xem trang 496-497 trên đây về một số lá thư gửi Philípphê – hoặc gửi tới Bêroia, nơi ngài đã đến thăm sau đó). Vào năm 1641, H. Grotius đã đề nghị hoán đổi thứ tự của hai bức thư: Timôthê được cử đi từ Athêna và mang theo thư 2 Tx (trước đó không có thư nào khác, 2,2); điều đó đã giải quyết được vấn đề, và do đó từ Côrintô, ngài đã gửi thư 1 Tx đến bình an hơn, và giả định rằng các tín hữu Thêxalônica đã tiếp thu lời chỉ dẫn trước đó của Phaolô và chỉ cần một số gợi ý mới (4,9.13; 5,1). Ngày nay luận đề này có tương đối ít người đồng ý (Kimmel, Introduction 263-264); nhưng hãy xem Manson, “St. Paul,” và J Trudinger, Downside Review 113 (1995), 31-35.

[10] Xem H. Koester, Introd. (NT) 2.242-2.246. Những nỗ lực tìm kiếm những đối thủ theo thuyết Ngộ đạo mới nổi lên trong 1 Tx (ví dụ, trong chủ thuyết tự do tình dục bị tố cáo ở đó; phái Puskas, Letters 103) ít hợp lý hơn các đề xuất của Donfried (tr. 460 ở trên).

[11] Độc giả có thể xem Chương 37 dưới đây về sách Khải Huyền vì có bối cảnh tương tự, và có lẽ xem Chương 12 trên đây về thư 1 Gioan, mà đoạn 2,18-19 tuyên bố rằng những tên phản Kitô đã xuất hiện.

[12] Những đau khổ được đề cập trong 1 Tx 2,14, nhưng những đau khổ đó được kể lại trong 2 Tx dường như ở quy mô lớn hơn khiến tác giả kêu gọi hủy diệt vĩnh viễn đối với những kẻ bắt bớ (1,9) và một số tín hữu Thêxalônica nghĩ rằng ngày quang lâm đã đến gần. Tuy nhiên, chúng ta phải thận trọng về mức độ của những mô tả này vì nó mang tính quy ước văn chương hơn là sự miêu tả sự thật.

[13] Một số người nghĩ rằng sự xuất hiện của những thầy dạy giả hiệu này là do sự trì hoãn của ngày quang lâm (2 Pr 2,1-2; 3,3-4). Hughes, Early, lập luận rằng các thầy dạy giả hiệu này là các môn đệ của Phaolô, người đã giảng dạy về thuyết cánh chung được ứng nghiệm (ngày của Chúa đã đến).

[14] Ở mức độ nào thì mô tả về kẻ sống vô kỹ luật ngồi trong đền thờ của Thiên Chúa dựa vào những mong đợi của các Kitô hữu sơ khai và thậm chí dựa vào những mô tả về ngày tận thế của Đức Giêsu trong các Tin Mừng, chẳng hạn như Đồ Ghê Tởm Khốc Hại trong Mc 13,14? Mối liên hệ của các Tin Mừng với thư này đã bị R. H. Shaw, Anglican Theological Review 47 (1965), 96-102 bác bỏ.

[15] Phần Giới thiệu này cố gắng trình bày quan điểm của đa số các học giả, và vì lý do đó mà tôi đã đặt nghiên cứu thư 2 Tx vào phần Các Thư Đệ Nhị của Phaolô.

[16] Có lẽ người ta không nên nại vào 2 Tx 1,12. Mặc dù một số người đọc nó là “ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và Chúa Giêsu Kitô”, nhưng phải nên đọc là “ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô.” Xem BINTC 180.

[17] Nhiều hình ảnh về ngày tận thế bị ảnh hưởng bởi sách Đanien, và ở đó kẻ thù chính là vua xứ Syria, Antiôkhô IV, kẻ khuyến khích người ta thờ phượng cách sai trái.

[18] Xem J. M. Bassler, CBQ 46 (1984), 496-510.

[19] Tác giả nói đến “mầu nhiệm” của sự gian ác trong 2,7, và vị tiên tri khải huyền thường không hiểu đầy đủ mầu nhiệm đó.

[20] Mặc dù 2,4 mô tả kẻ sống vô kỹ luật là một kẻ phản Thiên Chúa, nhưng việc mô tả sự xuất hiện của hắn (apokalypsis) như một đối tượng được thờ phượng rõ ràng khiến hắn trở thành kẻ phản Kitô – hắn là một kẻ quang lâm giả đối nghịch với Đấng quang lâm thật. Trong Tân ước, thuật ngữ tên phản Kitô chỉ xuất hiện trong 1 Ga 2,18.22; 4,3; 2 Ga 7, nơi được áp dụng cho những thầy dạy sai trái và nguy hiểm. Ý tưởng của các Kitô hữu sơ khai về hiện thân cụ thể của tên gian ác chống lại Thiên Chúa được L. J. Lietaert Peerbolte trình bày trong The Antecedents of AntiChrist (Brill: Leiden, 1996).

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục