danvienxitochauthuy

Tân Phúc Âm Hóa: Sự phát triển khái niệm và ý nghĩa toàn diện của nó

Nguyên tác: The New Evagelization:
The development of the Concept and Its Comprehensive Meaning

Chuyển ngữ: Vincent de Paul Nguyễn Đức Nam, O.Cist

Hiệu đính: Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist

Bản PDF

LỜI GIỚI THIỆU

          Thuật ngữ “Tân Phúc Âm Hóa” ngày nay thường xuyên được nghe nói đến trong Giáo Hội. Tuy vậy, thuật ngữ này cũng làm nảy sinh nhiềm câu hỏi đáng chú ý về ý nghĩa và tầm mức của nó. Trên thực tế, đối với nhiều người Công giáo, ngay cả thuật ngữ đơn “Phúc Âm Hóa” nói chung vẫn là một khái niệm lạ và tương đối mới mẻ. Chỉ trong những thập niên gần đây nó mới được phổ biến rộng rãi hơn. Do đó, một nghiên cứu toàn diện nhằm làm sáng tỏ sự xuất hiện và ý nghĩa của “Tân Phúc Âm Hóa” là một nghĩa vụ rõ ràng đối với cộng đoàn Kitô hữu. Nhờ cha Samuel H. Canilang CMF, hiện nay chúng ta đã có được tác phẩm này như một nguồn tài liệu thật quý giá. Tác phẩm có thể giúp các độc giả có được một hiểu biết về “Tân Phúc Âm Hóa” trong toàn thể sự phong phú, phức tạp, đa diện, và những chiều kích liên hệ với nhau của nó.

          Trong phần dẫn nhập của tác phẩm, tác giả lưu ý rằng ngài muốn giúp độc giả có được “một hiểu biết toàn diện và rõ ràng hơn về Tân Phúc Âm Hóa như là một khái niệm thần học và một định hướng và thúc đẩy mục vụ.” Với sự khiêm tốn lộ rõ, tác giả lưu tâm đến cả phạm vi và những giới hạn của cách trình bày. Ngài tìm cách làm sáng tỏ những hàm ý của Tân Phúc Âm Hóa cho “đời sống, sứ vụ, và các hoạt động mục vụ thông thường của Giáo Hội.” Nhận thấy rằng nhiều cuốn sách và bài báo đã được viết về cùng chủ đề, tác giả chọn lựa một trọng tâm cụ thể; ngài giới hạn nguồn tài liệu của mình “vào những văn kiện xuất phát từ những biến cố khác nhau của Giáo Hội.” Điều này đưa đến những kết quả rõ ràng trung thực về lối nhìn cũng như về cách trình bày.

          Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã đưa ra một phát biểu đáng chú ý về Tân Phúc Âm Hóa khi nói chuyện với một nhóm các tân Giám mục vào ngày 20 tháng 9 năm 2012 tại Castel Gandolfo. Đề cập đến diễn văn khai mạc Công đồng Vatican II của Thánh Gioan XXIII ngày 11 tháng 10 năm 1962, đức Biển Đức XVI khẳng định: “Chúng ta có thể nói rằng công cuộc Tân Phúc Âm Hóa đã thực sự khởi đầu với Công đồng mà Chân phước Gioan XXIII đã xem như một Lễ Hiện Xuống mới sẽ nhất định làm cho Giáo Hội phát triển mạnh mẽ….”

          Cha Canilang sử dụng chính lối nhìn này trong trình bày của mình. Ngài viết: “Nguồn gốc ý tưởng về Tân Phúc Âm Hóa có thể được truy về Công đồng Vatican II.” Lại nữa, “thúc đẩy Tân Phúc Âm Hóa có gốc rễ nơi Công đồng Vatican II,” bởi vì “Vatican II đã nhận thức cách sâu xa sự xuất hiện những tình huống mới mà hiện nay chúng ta đang chứng kiến và kinh nghiệm một cách rõ ràng sự bùng phát tràn lan của chúng.” Như đã được lưu ý trong tài liệu làm việc (lineamenta) của Thượng hội đồng về Tân Phúc Âm Hóa năm 2012, “suốt từ Công đồng Vatican II, Tân Phúc Âm Hóa ngày càng tỏ ra là một công cụ thích hợp, đúng lúc trong việc trình bày những thách đố của một thế giới đang biến chuyển mau lẹ.”

          Vatican II đã nói về Phúc Âm Hóa trong nhiều bối cảnh rộng lớn: nhiệm vụ đặc biệt của các giám mục là thúc đẩy Phúc Âm Hóa ngang qua người tín hữu (CD 6); điều đó cũng được liên kết với sứ vụ của giáo dân (AA 2, 6, 20, 26; LG 35); các linh mục cần phải học hỏi về những phương pháp Phúc Âm Hóa (PO 19); Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn bộ công cuộc Phúc Âm Hóa (PO 5). Sắc lệnh Đến Với Muôn Dân (AG) có đầy đủ những nguồn tham chiếu: “mục tiêu cụ thể của hoạt động truyền giáo là việc Phúc Âm Hóa và đặt nền móng của Giáo Hội” (6); “Giáo Hội có nghĩa vụ và thẩm quyển thiêng liêng phải loan báo Tin Mừng” (7); các giáo lý viên có nhiệm vụ quan trọng là loan báo Tin Mừng (17); người giáo dân cũng vậy (21); lời mời gọi loan báo Tin Mừng được phát sinh từ đặc sủng của Chúa Thánh Thần (23); những vai trò khác nhau được chu toàn nhờ các dòng truyền giáo (27), Propaganda Fide (29), Dân Thiên Chúa (35, 36), các giám mục và linh mục (38), các dòng tu (40), và các Giáo Hội non trẻ (LG 17).

          Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963 – 1978) sẽ luôn được nhớ tới như là một vị giáo hoàng truyền giáo của thời đại; ngài đã thực hiện các hành trình truyền giáo tới mọi lục địa; ngài đã viết Tông huấn Evangelii Nuntiandi, bản văn đã trở thành Đại hiến chương –magna carta – cho công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội Công giáo trong một phần tư cuối thiên niên kỷ thứ hai của Kitô giáo. Chắc chắn đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất của Giáo Hội thời hậu Công đồng Vatican II. Nó trình bày cách ngắn gọn, đầy cảm hứng, và có hệ thống một thách đố đối với Giáo Hội với mục đích dấn thân cách nhiệt tình vào sứ vụ đã được Chúa trao phó cho Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng cho thế giới hôm nay – cho những con người đang sống, với những khát vọng và khắc khoải của họ, với nền văn hóa và tôn giáo của họ, với niềm hy vọng và những mâu thuẫn của họ. Mặc dù đức Phaolô VI không sử dụng thuật ngữ “Tân Phúc Âm Hóa,” nhưng các bài viết của ngài, nhất là Tông huấn Evangelii Nuntiandi, lại nói một cách rõ ràng tới chủ đề Phúc Âm Hóa trong thế giới hiện đại.

          Karol Jósef Wojtyla đã được bầu chọn làm giáo hoàng ngày 16 tháng 10 năm 1978 và đã lấy tước hiệu là Gioan Phaolô II. Dưới sự lãnh đạo của ngài, Giám mục đoàn đã tập trung nhiều vào công cuộc Phúc Âm Hóa và sứ vụ chung; ngài đã viếng thăm rất nhiều nước, làm cho các cộng đoàn Kitô hữu địa phương được thêm mạnh mẽ, gặp gỡ những tín đồ của các tôn giáo khác, nói về giáo huấn xã hội của Giáo Hội, tuyên phong các thánh và chân phước, và gặp gỡ giới trẻ và chính phủ các nước. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng Công đồng Vatican II đã định hướng cho triều đại giáo hoàng của ngài. Thông điệp thứ tám của ngài, Redemptoris Missio, đã được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1990; trong đó ngài làm vang lên lời kêu gọi thúc giục mọi thành phần trong Giáo Hội canh tân lòng nhiệt thành và lời cam kết loan báo Tin Mừng cho thế giới ngày nay.

          Trong sứ điệp gửi Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2011, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI lưu ý rằng Giáo Hội có bổn phận cấp bách phải công bố Tin Mừng trong “những tình huống mới đòi hỏi một cuộc Tân Phúc Âm Hóa.” Đức Giáo Hoàng tiếp tục: “Nhiệm vụ này đã không hề đánh mất đi tính cấp bách của nó. Trái lại, ‘sứ vụ của Đức Kitô, Đấng Cứu Thế, đã được trao phó cho Giáo Hội, vẫn chưa hề được hoàn thành…. Chúng ta phải tự cam kết với tất cả năng lực của mình để phục vụ cho sứ vụ này (RM 1).’” Đức giáo hoàng tuyên bố một cách rõ ràng về phạm vi của sứ vụ Tân Phúc Âm Hóa: “Sứ vụ phổ quát này liên hệ đến tất cả mọi người, ở mọi nơi, và trong mọi thời đại.”

          Như Giáo Hội khởi đầu một thời kỳ mới với việc tuyển chọn Đức Giáo Hoàng Phanxicô, chúng ta cũng đang ở vào một thời điểm thích hợp để cam kết với chính mình bằng việc canh tân sự dấn thân và năng lực của mình hướng tới việc rao giảng – làm chứng đầy nhiệt huyết cho Tin Mừng. Hay, như các Giám mục Á Châu đã lưu ý trong khóa họp FABC tại Việt Nam cuối năm 2012: “Ngay tại cốt lõi của công cuộc Tân Phúc Âm Hóa … là lời mời gọi thúc giục trở nên những chứng nhân xác thực và đáng tin cậy cho Đức Kitô, Chúa và Đấng Cứu Độ.” “Chúng ta cần phải sống linh đạo Tân Phúc Âm Hóa.” “Nếu chúng ta hiện hữu vì sứ vụ, chúng ta cần phải có một đam mê cho sứ vụ.”

          Một lần nữa, Giáo Hội tại Á Châu và tại Philippin biết ơn Cha Canilang vì những nỗ lực của cha đã tạo cho “Tân Phúc Âm Hóa” một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống Kitô hữu hiện nay. Những lời đã được nói với thánh Augustinô vang vọng trong những cảm nghĩ về tác phẩm này: Tolle lege! Hãy cầm lấy và đọc! Tôi có thể quả quyết với bạn rằng cá nhân bạn sẽ được làm cho phong phú nhờ những hiểu biết sâu sắc được tìm thấy trong tác phẩm tốt đẹp này. Tolle lege!

James H. Kroeger, M.M

Chúa Nhật Phục Sinh 2013

CÙNG CHUYÊN MỤC