danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (07) – LỜI CẦU NGUYỆN LỜI CHỨNG TUYỆT HẢO

Tác giả: Án Khảm (Đức Tổng Giuse NQK)

I. LỜI CHÚA

Cv 7,55-60

Ông Tê-pha-nô bị ném đá

“Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giê-su đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.” Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Sao-lô. Họ ném đá ông Tê-pha-nô, đang lúc ông cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giê-su, xin nhận lấy hồn con.” Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ”.

II. SUY NIỆM

Cảnh tượng thánh Stêphanô cầu nguyện khi bị hành hình thật bi thương nhưng rất hùng tráng. Việc ngài cầu nguyện trong bối cảnh đang bị hành hình làm nổi bật những điều cốt lõi trong đời sống đức tin và làm chứng của người môn đệ. Trước hết, cầu nguyện là điều cốt lõi của đời sống đức tin.

1. Cầu nguyện vấn đề cốt lõi của đời sống đức tin

“Tin sao cầu vậy” [Lex orandi, lex credendi]. Cầu nguyện là sự sống của người kitô hữu và đặc biệt của người môn đệ. Là sự sống, nghĩa là không cầu nguyện sẽ không sống được. Ta sống nhờ sự sống của Chúa. Cầu nguyện chính là trở ngược lên đến thượng nguồn sự sống, là múc lấy nguồn mạch sự sống, nhất là trong những biến cố trọng đại có liên hệ đến vấn đề sống chết. Cầu nguyện không chỉ kín múc sự sống nhưng còn là chính sự sống. Khi cầu nguyện ta sống và sống dồi dào nhờ sự sống của Chúa.

Chiêm ngắm thánh Stêphanô cầu nguyện trong lúc bị hành hình, ta hiểu rằng thánh nhân đã đạt tới cao điểm của đời sống đức tin. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo định nghĩa: “Tin là thưa “Amen” đối với lời Chúa, lời hứa, giới răn của Thiên Chúa, và là phó thác bản thân một cách tuyệt đối cho Đấng là “Amen” của tình yêu vô tận và của sự trung tín trọn vẹn. Vậy đời sống Kitô hữu mỗi ngày sẽ là “Amen” cho lời “Tôi tin” trong bản Tuyên xưng đức tin khi chúng ta lãnh nhận Phép Rửa.”[1] Thánh Stêphanô đã có đời sống phó thác tuyệt đối như vậy.

Phó thác tuyệt đối, nên thánh Stêphanô cầu nguyện không ngừng. Cầu nguyện đã trở thành đời sống, trở thành một phản xạ tự nhiên. Điều này đặc biệt dễ thấy trong lúc nguy cấp. Lúc ấy không còn suy nghĩ gì được nữa, chỉ là phản xạ tự nhiên, là những gì đã tập thành. Và phản xạ tự nhiên của thánh Stêphanô trong lúc nguy cấp là quỳ xuống cầu nguyện. Đó thật là sự sống.

Phó thác tuyệt đối, nên thánh nhân dành trọn cuộc đời cho Chúa, để Chúa quyết định. Trong lúc nguy cấp, thánh nhân không tìm nương tựa hay trợ giúp nơi thế lực trần gian. Cũng không phản ứng theo thói thế gian. Theo lẽ thường khi bị hành hình, người bình thường sẽ tìm cách làm sao tránh được đau đớn, hoặc là sợ hãi rên la đau đớn, hoặc van nài kẻ hành hình nhẹ tay, hoặc nữa tìm cách che chắn bảo vệ những nơi trọng yếu. Nhưng thánh Stêphanô đã tuyệt đối phó thác bản thân cho Chúa Kitô nên phản ứng của ngài là cầu nguyện. Giải pháp cho vấn đề là ở nơi Chúa. Giải pháp đầu tiên là tìm nương tựa nơi Chúa. Giải pháp duy nhất là cậy dựa vào Chúa. Giải pháp cuối cùng là phó thác cho Chúa.

Phó thác tuyệt đối, nên thánh nhân hoàn toàn kết hợp với Chúa. Việc kết hợp hiển hiện rõ ràng khi ngài thấy Chúa Giêsu đứng bên hữu Chúa Cha đến đón nhận ngài. Việc kết hợp thật hoàn hảo khi ngài không còn sống cho mình hay chết cho bản thân nữa, nhưng sống cho Chúa và chết cho Chúa. Vì thế, ngài trở nên giống Chúa mọi đàng. Khi bị ném đá đến chết, thánh nhân đã có phản ứng và lời lẽ như Chúa Giêsu trên thánh giá. Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa và cầu xin Chúa tha thứ cho những kẻ bách hại mình. Chắc chắn ngài đã chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu đến độ nhập tâm, đến độ mọi suy nghĩ, lời nói, thái độ của ngài đều rập khuôn theo Chúa Cứu Thế. Thế nên trong giờ chết, thánh nhân cũng cư xử hành động và nói năng y hệt như Chúa. Chính khi cầu nguyện như thế, ngài đã làm chứng cho Chúa.

2. Cầu nguyện là lời chứng tuyệt hảo

Chiêm ngắm cảnh tượng thánh Stêphanô cầu nguyện đang lúc bị hành hình ta phân biệt được rõ ràng những điều hệ trọng cho cuộc sống.

Trước hết ta thấy hai thế giới vô cùng khác biệt: Trời và Đất. Trời và đất không phải là hai không gian địa lý nhưng là hai cảnh giới ngàn trùng cách biệt. Đó là thiên đàng và hạ giới. Người thường chỉ thấy hạ giới hữu hình. Chỉ những ai cầu nguyện sâu xa mới thấy thiên đàng vô hình. Trong số những người có mặt tại hiện trường hôm nay, chỉ có một mình thánh Stêphanô nhìn thấy thiên đàng.

Vì thế có hai tầm nhìn khác nhau: Nhìn lên và nhìn xuống. Người nhìn xuống chỉ thấy hạ giới. Còn người cầu nguyện nhìn lên, vươn tâm hồn lên nên sẽ thấy thiên đàng. Nhìn xuống chỉ biết cư xử theo dục vọng của xác thịt; nhìn lên sẽ biết cư xử theo Thần Khí. Những người hành hình thánh Stêphanô chỉ nhìn xuống. Họ bị dục vọng khống chế, nên chỉ thấy độc ác, oán thù, giận dữ và chỉ biết hành động thô bạo để thoả mãn cơn giận dữ. Còn thánh Stêphanô nhìn lên trời. Ngài thoát mọi ràng buộc của xác thịt, tâm hồn thênh thang tự do bay lên, nên thấy Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha.

Hai tầm nhìn dẫn đến hai thái độ khác nhau. Những người hành hình thánh Stêphanô để cho xác thịt điều khiển nên họ lên cơn giận dữ. Họ đỏ mặt tía tai, phùng mang trợn mắt, nghiến răng nghiến lợi, hung hãn ném đá thánh Stêphanô cho đến chết. Họ coi đó là điều quan trọng nhất. Trái lại, thánh Stêphanô đã vươn lên theo Thần Khí. Ngài đã vượt qua tầm nhìn hạn hẹp hạ giới, đã vượt qua hết những cám dỗ tranh giành hơn thua ở đời, đã có tầm nhìn Nước Trời. Đã nhìn thấy thiên đàng, đã gặp gỡ Thiên Chúa, nên ngài cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Ngài chẳng còn khao khát gì hơn là được về với Chúa nên ngài tha thiết cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.” Ngài thấy những người đang hành hình mình thật là tội nghiệp. Họ tranh giành những điều chóng qua. Họ bị giam hãm trong những nhỏ mọn tầm thường ti tiện. Họ phí công tốn sức vào những điều chẳng có chút giá trị nào. Thánh Stêphanô thật tình thương họ. Có thiên đàng hạnh phúc sao họ không thấy. Có Thiên Chúa vô cùng nhân từ yêu thương sao họ không biết. Có cảnh giới siêu việt tự do thanh thoát sao họ không hưởng. Chỉ vì họ nhầm lẫn không biết. Vì thế, thánh nhân cầu nguyện cho họ: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.”

Lời cầu nguyện của thánh Stêphanô là bằng chứng tuyệt hảo về Thiên đàng. Chính ngài làm chứng khi thốt lên: “Kìa, tôi thấy trời mở ra.” Thật là một bằng chứng cụ thể vô cùng sinh động và thuyết phục! Nếu ngài nói ra trong lúc vui tươi thoải mái thì chưa đáng tin lắm. Nhưng lời này ngài nói ra lúc đang gặp nguy nan. Vừa đau đớn vì bị ném đá. Vừa nguy kịch khi cái chết đã cận kề. Bầu khí chung quanh thật là hỗn loạn, đe doạ và hừng hực sát khí. Thế mà ngài an nhiên cầu nguyện, mắt hướng lên trời, mặt vô cùng hân hoan hạnh phúc. Chẳng màng đến những đau khổ, đe doạ nơi trần gian. Chắc chắn ngài phải thấy một điều gì rất cao siêu, rất đẹp đẽ rất hạnh phúc khiến ngài quên đi những đau đớn, những đe doạ, những độc ác. Đó là bằng chứng ngài đã thực sự thấy thiên đàng.

Lời cầu nguyện của thánh Stêphanô là bằng chứng tuyệt hảo về Thiên Chúa. Thực ra thiên đàng chỉ hạnh phúc vì có Thiên Chúa. Và nơi nào có Thiên Chúa thì nơi ấy là thiên đàng. Thánh nhân đã nhìn thấy thiên đàng vì đã nhìn thấy Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha. Đó là điều không thể nào chân thực hơn. Thiên Chúa là hạnh phúc. Nên khi nhìn ngắm Thiên Chúa thánh nhân chẳng còn nhớ gì đến thế gian. Hạnh phúc được chiêm ngưỡng Thiên Chúa lớn lao quá đến nỗi ngài quên hết trần gian. Chân thực nhất đó là thánh nhân chẳng còn sợ hãi, đau đớn và nhất là chẳng còn sợ chết khi người ta hành hạ và muốn giết chết mình. Trái lại, thánh nhân càng mong được chết đi để mau được về với Chúa, kết hợp với Chúa. Đó là hạnh phúc không gì so sánh được. Thật là hai cảnh tượng trái ngược nhưng lại là bằng chứng rất hùng hồn. Hạ giới là những người đằng đằng sát khí đang hành hình thánh nhân. Thượng giới là Thiên Chúa vô cùng yêu thương, vô cùng hạnh phúc. Thánh Stêphanô là chứng nhân của hai cảnh giới đó. Và ngài đã say mê chiêm ngưỡng Thiên Chúa đến siêu thoát mọi hình khổ và con người trần gian. Đó là bằng chứng không thể nào chân thực và sống động hơn về Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện của thánh Stêphanô là bằng chứng tuyệt hảo về đạo Chúa. Hai lời cầu nguyện của thánh Stêphanô tóm tắt về đạo Chúa. Đó là thực hành vô cùng sâu xa và đạt tới đỉnh cao của hai giới răn quan trọng nhất trong đạo. Đó là mến Chúa hết lòng, hết sức lực, hết linh hồn, hết trí khôn. Còn có lòng mến nào trọn vẹn và cao cả hơn là yêu mến cho đến chết. Và ước ao chết để được kết hợp với Chúa. Lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giê-su, xin nhận lấy hồn con” đã nói lên khát khao được về bên Chúa và kết hợp trọn vẹn với Chúa. Đó là đạt tới đỉnh cao của giới răn thứ nhất. Giới răn thứ hai là: hãy yêu người thân cận như chính mình. Và lời cầu nguyện “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” chính là thực hành giới răn thứ hai. Thực hành trong một hoàn cảnh thật khó khăn đầy đau đớn. Đó chính là tình yêu tha nhân đến mức tuyệt hảo. Yêu đến nỗi không một chút oán hờn. Yêu đến nỗi tha thứ tất cả mọi hành vi xúc phạm mà ở mức cao nhất là bị cướp mất sự sống của mình. Không những tha thứ mà còn tha thiết cầu nguyện cho những kẻ làm hại mình. Thực hành giới răn của Chúa trong một hoàn cảnh vô cùng đau đớn nghiệt ngã chính là bằng chứng thuyết phục tuyệt hảo về đạo Chúa, là đạo mến Chúa yêu người.

III. THỰC HÀNH

Khi người ta hành hình thánh Stêphanô thì Phaolô cũng hiện diện. Ông không tham gia vào việc hành hình. Ông chỉ đứng bên ngoài và giữ áo cho những người ném đá. Tấm gương của Stêphanô có ảnh hưởng tới Phaolô không? Khó mà chứng minh được là có ảnh hưởng. Nhưng cũng khó để hoàn toàn phủ định.

1. Gương cầu nguyện

Có những hạt giống vùi chôn lâu ngày mới mọc lên. Tôi đã được chứng kiến hai trường hợp dưới đây:

Trường hợp thứ nhất là cụ Phạm Ngọc Thung ở Thái Bình. Một lần tôi gặp lương y Phạm Ngọc Sơn. Ông nói với tôi: Cha mẹ của ông rất muốn theo đạo, nhưng chưa có ai quan tâm đến dạy đạo cho các ngài. Biết hai cụ Phạm Ngọc Thung và Phạm Thị Mậu đã hơn 90 tuổi, tôi vội đến thăm các cụ. Quả nhiên, mọi người con cháu, và chính các cụ đều khẳng định các cụ muốn theo đạo. Tại sao hai cụ muốn theo đạo. Thì ra cụ Thung đã gia nhập quân đội từ khi còn trẻ. Một lần đơn vị của cụ được điều động giữ an ninh trật tự trong buổi đấu tố một linh mục. Rồi thời gian trôi đi, cụ không nhớ đến việc ấy nữa. Sau nhiều năm tháng, trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời, cụ thấy tất cả vừa giả dối, vừa chóng qua. Lúc ấy hình ảnh vị linh mục cầu nguyện trước khi bị hành hình trở lại. Tự nhiên cụ được ơn soi sáng và xác tín: Đây mới là người thật. Đây mới là đạo thật. Và cụ quyết tâm tìm đạo thật để sống con người thật. Cụ đem tâm sự của mình nói với con cháu. Thật may sau khi tôi đến thăm, cha xứ gần nhà cụ đã lo liệu cho cụ được học đạo. Tháng 7, cha còn mời Đức cha Phanxicô Nguyễn Văn Sang đến rửa tội. Thật đúng lúc, vì tháng 12 năm đó cụ qua đời. Ngẫm lại cuộc đời của cụ, tôi nhận ra rằng cầu nguyện chính là lời chứng tuyệt hảo. Hạt giống vị linh mục bị hành hình gieo từ hơn nửa thế kỷ trước, nay mới nảy mầm sinh hạt.

Trường hợp thứ hai là sơ Nirmala, nguyên Bề trên Tổng quyền dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Têrêxa. Tôi không có duyên được gặp Mẹ Têrêxa. Nhưng tôi được gặp sơ Nirmala hai lần khi sơ đến thăm Hà Nội. Sơ là con gái một vị chức sắc cao cấp của Ấn Độ giáo. Khi còn đi học, sơ đã một lần được thấy Mẹ Têrêxa cầu nguyện. Chiêm ngưỡng cảnh tượng ấy, sơ như bị một luồng điện chạy vào trúng tim. Ánh sáng bừng lên và sơ nhận ra đây mới là người thật và là đạo thật. Sơ liền theo đạo và vào tu trong dòng Mẹ Têrêxa. Chính Mẹ Têrêxa, trước khi qua đời, đã chỉ định sơ làm người kế vị. Sơ làm Bề trên Tổng quyền hai khoá. Sau đó sơ xin nghỉ để dọn mình chết lành. Hiển nhiên cầu nguyện là lời chứng vô cùng thuyết phục về Thiên Chúa, về đạo Chúa và về Nước Trời.

2. Đan sĩ cầu nguyện

Tấm gương của thánh Stêphanô, của vị linh mục bị đấu tố, và của Mẹ Têrêxa, là lời khích lệ các đan sĩ sống ơn gọi của mình. Ơn gọi của đan sĩ là cầu nguyện. Tất cả tôn chỉ, đường hướng và căn tính của đan sĩ đều nói lên điều này.

Tôn chỉ của đan sĩ là Ora et Labora, nghĩa là cầu nguyện phải là việc quan trọng, là ưu tiên và là ý nghĩa của đời sống một đan sĩ. Cha Biển Đức Thuận cũng dạy chúng ta: “Cầu nguyện là chính việc của chúng ta. Thầy Dòng phải là con người cầu nguyện.”[2] Đan sĩ là con người cầu nguyện có nghĩa là việc cầu nguyện định nghĩa đan sĩ. Cầu nguyện là con người đan sĩ, là sự sống, là máu thịt, là hơi thở, là suy tư, là cả cuộc đời. Như thế, người đan sĩ không chỉ cầu nguyện khi ở trong nhà thờ. Nhưng cầu nguyện cả khi ăn, khi làm việc, khi nghỉ ngơi; khi vui, khi buồn, khi thành công, khi thất bại. Tóm lại, trong mọi biến cố suốt cả cuộc đời, ta hãy noi gương thánh Stêphanô, biến cầu nguyện thành phản xạ tự nhiên. Gặp biến cố thì quì xuống cầu nguyện. Ta không ngạc nhiên khi căn nhà đầu tiên của nhà dòng bị thiêu rụi, cha Biển Đức Thuận đã mời gọi mọi người “hát bài Magnificat trọng thể tạ ơn Chúa.”[3]

Đường hướng của đan sĩ là Không lấy gì làm hơn Chúa Kitô.[4] Trong mọi sự và trong mọi nơi mọi lúc Chúa Kitô là đích điểm của cuộc đời đan sĩ. Đó là noi gương thánh Phaolô: “Coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8-9). Cho nên dù vui, dù buồn không chút băn khoăn, miễn là được Chúa Kitô. Đó là noi gương thánh Stêphanô, bị hành hình cũng không nao núng, vì chính trong lúc bị hành hình ngài được thấy Chúa. Vì thế, đan sĩ phải luôn cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh để được Chúa Kitô, dù vui, buồn, sướng, khổ hay nguy nan. Tất cả mọi giải pháp đều ở nơi Chúa Kitô. Phó thác tuyệt đối cho Chúa Kitô. Đó cũng là điều cha Biển Đức Thuận dạy chúng ta làm. Sách Hạnh Tích thuật lại: Cứ mỗi tuần thuyền nhà dòng chở củi ra chợ bán rồi chở gạo lên. Nhưng xảy ra: lần kia nước sông to, chảy mạnh, đò lên trễ quá gần trưa rồi, mà đò chưa lên, gạo thì hết, ông Giáp Phẩm thưa ngài: “Thưa cha, đò chưa lên, mà gạo nhà hết rồi, trưa ni lấy chi ăn?” Ngài liền la ông Giáp Phẩm: “Thì Chúa sẽ liệu mà, con lo chi vô lối rứa.” Hay đâu chờ mãi quá trưa, cũng chả thấy đò lên, ngài bảo đào sắn luộc. Ôi chao ăn sắn vào, cha con say, nằm đoạ cả ra, mãi gần chiều, đò gạo mới lên, ngài cười và bảo lấy gạo nấu cơm cho các thầy ăn.”[5]

Căn tính của đan sĩ là Nên một với Chúa Kitô. Đan sĩ là người nên một với Thiên Chúa. Là người kết hợp với Chúa Kitô. Như thánh tổ Thêôdôrê dạy: “Đan sĩ là con người chỉ nhìn Chúa, chỉ khao khát Chúa, chỉ hướng lòng về Chúa, chỉ muốn phụng sự một mình Chúa mà thôi.”[6] Cha Biển đức Thuận dạy: Vậy trong mọi việc chúng ta làm hằng ngày, hãy chăm chỉ coi Chúa Giêsu làm thế nào, thì ra sức noi gương… Hãy xét từng việc từ mai tới tối như vậy, ai theo phận nấy. Hãy làm như Chúa Giêsu ở kế bên, và làm một cách rất tử tế, trọn hảo… Nếu cả nhà dòng chúng ta ai nấy cứ chăm lo làm như vậy thật là tốt lành biết mấy! Người ta trông vào thì thấy Giêsu, Giêsu thay thảy.[7] Như thế chúng ta phải lo sống kết hợp với Chúa. Mọi việc chúng ta làm là vì Chúa, làm cho Chúa, chi cũng làm cho Chúa hết. Như vậy chúng ta mới nếm được sự bình an của Chúa.[8] Như thế, cuộc đời đan sĩ là một lời cầu nguyện liên lỉ không bao giờ dứt. Đó chính là noi gương thánh Stêphanô, đến chết vẫn còn làm như Chúa, nói như Chúa, cầu nguyện như Chúa.

3. Đan sĩ làm chứng

Thế giới đang chứng kiến sự suy thoái trầm trọng về tôn giáo. Ngoài tôn giáo số người không tin gia tăng. Trong đạo, số người công khai bỏ đạo ngày càng nhiều. Số người còn có đạo nhưng không đi lễ, không lãnh nhận các bí tích ngày càng đông. Trong khi đó người ta lại lui tới với những chuyên gia tâm lý, những thầy bói, thầy tướng số và nhất là những buổi cầu cơ, hầu đồng. Như thế cho thấy nhu cầu muốn tiếp xúc với thế giới thần linh còn rất lớn. Nhưng người ta không thấy tôn giáo đáp ứng được nhu cầu ấy nên phải tìm những địa chỉ khác. Trong tình hình ấy, đan sĩ cần cầu nguyện nhiều hơn nữa. Trong một thế giới muốn loại bỏ Thiên Chúa, việc cầu nguyện sẽ đưa Thiên Chúa trở lại với thế giới. Trong một thế giới vật chất thống trị, việc cầu nguyện sẽ làm chứng về những giá trị tâm linh. Trong một thế giới chỉ tin vào những giải pháp của loài người, việc cầu nguyện giúp có những giải pháp tốt đẹp cho thế giới. Đó chính là công việc của đan sĩ. Vì khi cầu nguyện đan sĩ sống đúng tôn chỉ, đường hướng và căn tính của mình.

Khi tuân thủ tôn chỉ Ora et Labora, coi việc cầu nguyện là ưu tiên số một, đan sĩ có thể là điểm tựa giúp mọi người vững bước trên đường tìm về với Thiên Chúa.

Khi đi theo đường hướng Không lấy gì làm hơn Chúa Kitô, đan sĩ có thể là niềm tin cho mọi người vào Thiên Chúa.

Khi sống đúng căn tính Nên một với Chúa Kitô, đan sĩ thực sự là bằng chứng thuyết phục mọi người về hạnh phúc chân thật ở nơi Thiên Chúa.

[1] GLHTCG số 1064.

[2] DN 118.

[3] HT tr. 158.

[4] TL 72,11.

[5] HT tr. 129.

[6] DN 138, chú thích 286.

[7] DN 136.

[8] DN 107.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://giaophankontum.com/loi-chua/hanh-cac-thanh/ngay-26-12-thanh-stephano-tu-dao-tien-khoi)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục