danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (19) – ĐAN SĨ – CON NGƯỜI CẦU NGUYỆN

Tác giả: F.M. Anselmo – Hồ Sỹ Chức

Khi được hỏi về vấn đề cầu nguyện, cha Michel Pascal, viện phụ đan viện Biển Đức ở Hautecombe, miền Savoie (thuộc miền Nam nước Pháp), đã trả lời rằng: Đan sĩ trước tiên là Kitô hữu, có nguyện ước sống sát với tinh thần Tin mừng, và thực thi ơn gọi làm con Thiên Chúa, ở mức độ tối đa. Cha Pascal đã phác họa ra những nét chính yếu của đời sống nơi một đan sĩ. Đó là công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, là chuyện vãn thân tình và kết hiệp mật thiết với Chúa trong mỗi phút giây của cuộc sống. Và để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện, các đan sĩ lắng nghe Lời Chúa, đồng thời theo dõi các biến cố xảy ra trên thế giới.[1]

Có thể nói, những lời phát biểu trên đã phác họa đan sĩ như con người cầu nguyện. Thế nhưng đứng trước thực trạng thế giới vắng bóng Thiên Chúa, đan sĩ phải đối diện trước những thách đố về chứng tá đời tu. Trong khi đó, đan sĩ cần quyết tâm trở thành con người cầu nguyện trong đời sống mới để can đảm hướng đến tương lai.

1. Thách đố chứng tá đời tu

Thế giới chúng ta đang sống có nguy cơ dẫn đến sự thiếu vắng Thiên Chúa. Điều này gây ra nơi chúng ta những phản ứng khác nhau về cách sống và những cách thức chúng ta lựa chọn các lãnh vực dấn thân của mình.

Một trong những cám dỗ nghiêm trọng nhất đối với Giáo hội và các dòng tu là cám dỗ rút lui, tự vệ, quay về với chính mình, quan tâm nội bộ, tạo thành những “ốc đảo”. Một số cộng đoàn đi tìm thể hiện căn tính của mình trong cách ăn mặc, cử điệu, cung cách.

Cám dỗ này có mặt ở khắp nơi và ở mọi bình diện:

  • Bình diện linh đạo: quan niệm giản lược đời sống thiêng liêng vào các việc đạo đức bề ngoài; hoặc quan niệm tách biệt việc đạo và việc đời, mà bỏ qua lòng bác ái, tình huynh đệ.
  • Bình diện suy tư thần học: xuất hiện những suy tư chỉ đề cao những điểm thứ yếu của đức tin, thay vì những điểm chính yếu.
  • Bình diện sứ mạng: người ta nói nhiều đến Giáo hội truyền giáo, nhưng người ta đã quan niệm truyền giáo như thế nào? Như “men trong bột” hay chỉ vụ hình thức? Một Giáo hội từ chối thách đố gặp gỡ, đối thoại và phân định sẽ không còn là Giáo hội “hiệp hành” của Đức Kitô nữa.

Thế giới có thể quên lãng Thiên Chúa, nhưng không vì đó mà chúng ta sẽ bỏ rơi thế giới này hay lẩn trốn những thực tại trần thế hay bỏ qua nổi khổ đau của tha nhân, bởi vì chúng ta biết rằng đôi khi chúng ta cũng phải đi đến tận cùng của những tiêu cực và phủ định Thiên Chúa để tìm ra được niềm tin đích thực (mầu nhiệm Vượt Qua, kinh nghiệm Emmaus…). Theo Đức Kitô là theo Ngài ngay cả trên con đường dẫn xuống vực thẳm của thế giới lãng quên và từ chối Thiên Chúa, khi mà sự hiện diện trong thế giới ấy hẳn có nguy cơ cho đức tin của mình.

Tính hữu hình của đời tu mà chúng ta tìm kiếm, chính là sự hiện diện sống động, bằng đời sống cầu nguyện, giàu ý nghĩa và năng động.

2. Đan sĩ – con người cầu nguyện

Cầu nguyện trong đời sống tu trì luôn là điều cần thiết cho việc bảo vệ, che chở đức tin của mình, trước những thách đố, và những vấn đề của Giáo hội và thế giới hôm nay. Thế giới càng vô cảm trước uy linh Chúa, đan sĩ càng phải sống triệt để căn tính đặc thù (Ora et Labora) của họ hơn, liều mình dấn thân với lòng tín thác, và nhất là không hành động nhân danh sức lực riêng của mình.

Cầu nguyện chính là tiếng kêu trong niềm tin, phát xuất từ những mảnh đời dâng lên Thiên Chúa. Đó là tiếng kêu sầu khổ, cô đơn, niềm hy vọng và niềm vui… Đó là những tiếng kêu phát sinh trong hoàn cảnh nguy hiểm và khủng hoảng. Khi lời cầu nguyện trong cuộc sống trở thành lối mòn, đơn điệu, một bài tập vô nghĩa, cách nào đó, họ tự làm cho mình khó tránh khỏi những nguy cơ xói mòn đức tin.

Đi theo Đức Kitô trong đời sống Đan tu, đan sĩ cần nhập thể vào Giáo hội để trở thành một lời cầu nguyện vốn được sinh ra từ nỗi đau đớn của thế giới thiếu vắng Thiên Chúa. Đó là lời nguyện của người bị lưu đày (Tv 42,11); lời nguyện của người hành hương sống niềm hy vọng về đất hứa; lời cầu nguyện của những người đói khát sự công chính trong thế giới đầy bạo lực và vô thần; và nhất là lời cầu nguyện và sự hy sinh của họ cho biết bao người trên thế giới chưa tin nhận Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ duy nhất. Như vậy, sứ mạng cao quý của các cộng đoàn Đan tu phải làm sao để trở nên cần thiết cho thế giới. Điều này quả là một thách đố không nhỏ đối với mỗi đan sĩ chúng ta trong thời đại hôm nay.

Sự “hiện diện năng động” của đan sĩ là lời cầu nguyện mà chúng ta được mời gọi đem lại cho Giáo hội và cho thế giới. Nhưng, lời cầu nguyện này phải như thế nào, và hướng tới ai? Lời cầu nguyện dành cho những con người chung quanh họ đang chờ đợi và hy vọng. Lời nguyện có khả năng giúp cho mọi người cũng có được kinh nghiệm về Thiên Chúa ngay giữa đời sống thường ngày. Lời Chúa được đọc, suy niệm và chiêm niệm trong cuộc sống mỗi người. Một lời nguyện mà ở đó đan sĩ có thể cử hành giữa anh chị em với nhau trong những nghi thức phụng vụ: Thánh lễ, các bí tích, và các sinh hoạt đan tu.

Như thế sự hiện diện sống động và lời cầu nguyện của đan sĩ nhất thiết mang chiều kích qui hướng về Thiên Chúa, Đấng dẫn đưa họ chiêm ngưỡng các mầu nhiệm thánh thiêng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đồng thời, sự hiện diện và lời cầu nguyện của họ diễn tả sống động những tâm tình và mọi kêu cầu của nhân loại  muốn dâng lên Chúa. Điều cần thiết là các đan sĩ luôn ý thức về đời sống chứng tá của mình để củng cố đời sống cầu nguyện đan tu.

3. Làm chứng bằng đời sống mới

Ơn cứu độ Kitô giáo không chỉ thuộc bình diện kiến thức, nhưng còn thuộc bình diện tình yêu năng động và sự sống được trao ban (x. Mt 25). Người Kitô hữu thánh thiện không phải là những bậc “kinh sư” hay “luật sĩ”, nhưng là người làm cho mình “dễ bị tổn thương” bởi tình yêu. Ân sủng của đời tu, cách riêng đời tu chiêm niệm, chính là làm cho các đan sĩ trở thành người bén nhạy với tình yêu như chính Đức Giêsu, với các vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, về đức tin, về những ước ao, trăn trở tìm kiếm của những người khác, với những sự khẩn cấp của Nước Trời. Chính khả năng bén nhạy với tình yêu làm cho họ thành môn đệ của Đức Kitô.

Đời sống tu trì của các đan sĩ không gì khác hơn ngoài sứ mạng làm cho họ dấn thân cùng với Đức Giêsu vào công trình của Chúa Cha. Với sứ mạng lớn lao đó mà cha Tổ Phụ – Biển Đức Thuận của chúng ta đã lập Dòng Chiêm Niệm, qua việc cầu nguyện và hy sinh để tham gia việc truyền giáo của Giáo hội được hữu hiệu hơn (x. HP số 2). Chính trong sự trung tín với sứ mạng này mà sự thánh hiến của chúng ta được thực hiện: sự thánh thiện của Kitô giáo là đời sống được biến hình bởi sứ mạng được đón nhận trong Thánh Linh.

Đối diện với mọi thứ giấc mơ hiệp nhất với Thiên Chúa trong ảo tưởng, cần phải nhắc nhở rằng thần nhiệm Kitô giáo là một thần nhiệm Giao Ước, được sống và diễn tả trong một cuộc dấn thân và trong một tình yêu năng động. Chúng ta hãy để cho mình bị tình yêu năng động của Đức Kitô cuốn hút và thúc bách chúng ta (x. 2Cr 5,14).

4. Can đảm hướng đến tương lai

Trong một thế giới tưởng chừng như vắng bóng Thiên Chúa, người Kitô hữu hay có cám dỗ sống đức tin của mình chỉ trong nỗi hoài niệm về quá khứ. Trong khi đó, chúng ta cần bén rễ sự tưởng niệm này vào trong lịch sử sống động của các thế kỷ đã qua, và sẽ tới. Các đan sĩ chúng ta đừng quên sứ điệp của các chứng nhân về sự Phục Sinh: Người đi trước các anh ở Galilê (x. Mt 28,10). Mắt chúng ta hãy hướng về Đức Kitô đang đến.

Đời tu tự bản chất là sự dấn thân cho việc loan báo Nước Trời, và làm chứng cho sự hiện hữu của Thiên Chúa tình yêu tựa “lính canh mong đợi hừng đông” (x. Tv 130). Do ơn gọi, nó có cái nhìn hướng về tương lai và về những dấu chỉ của thời đại. Khi mà hiện tại nhiều khi trở nên nặng nề, khi mà cám dỗ cứ lớn dần về việc giam mình vào những hoài niệm của quá khứ, hơn bao giờ hết, đời tu phải sống hiện tại trong niềm hy vọng về tương lai. Hy vọng về tương lai không nhất thiết là hy vọng về ngày mai tươi sáng hơn, nhưng đó là xác tín rằng ngang qua những bất ngờ của lịch sử, ngang qua tính “bất tất” và “bất trắc” của những thực tại trần gian mà chúng ta đang sống và nơi ta được sai đến, Nước Trời đang lớn lên.

Tóm tại, đứng trước một tương lai vô định, mỗi đan sĩ được mời gọi sống can đảm trong mọi khoảnh khắc cuộc sống. Từ đó, việc dấn thân và thành quả Tông đồ đều được qui về Chúa. Thật vậy, việc đan sĩ sống trọn tâm tình cầu nguyện, sẽ tránh thái độ quy về chính mình nhưng mở ra cho sức sáng tạo của Chúa Thánh Thần. Có thế, cả cuộc đời đan sĩ sẽ là lời tạ ơn không ngừng dâng lên Chúa, Đấng làm chủ lịch sử và thời gian.

Chúng ta cùng xác tín với Thánh Gioan Phaolô II: “Cầu nguyện là linh hồn của công việc Tông đồ, còn công việc Tông đồ lại thêm sức sống cho cầu nguyện và thúc đẩy cầu nguyện.”[2] Cầu nguyện chiêm niệm làm nên căn tính của đan sĩ, thúc đẩy họ trở thành những “chuyên viên hiệp thông”[3], những chuyên viên cầu nguyện để sinh hoa trái dồi dào cho Giáo hội cách âm thầm mà phong phú.

Thay lời kết

Những khó khăn của việc cầu nguyện.

Từ những gì vừa trình bày, chúng ta có thể nhận ra những khó khăn cố hữu trong việc cầu nguyện: khó khăn do chia trí, do sự khô khan, do sự quấy rối của ma quỷ…Và qua những lời khuyên của các thánh đã phần nào giúp chúng ta xác tín hơn những khó khăn đến từ con người sẽ được “hoá giải” với thời gian miễn là chúng ta kiên trì trong cầu nguyện với sự tác động của Thần Khí.

Có thể nói, mọi khó khăn đều có thể hoá giải bằng lời cầu nguyện bởi lẽ “không có gì sánh được với cầu nguyện: rõ ràng cầu nguyện là điều làm cho những cái không thể thành cái có thể, những điều khó thành điều dễ. Không thể nào người cầu nguyện lại phải sa vào tội lỗi bao giờ.”[4]  Chính Chúa Giêsu luôn nhắc nhở ta “anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,36).

Ngày nào con người còn hiện hữu thì không thể tránh khỏi những khó khăn vừa kể trên trong việc cầu nguyện. Nhưng điều cốt yếu trong việc kiên trì cầu nguyện là giúp ta tiếp xúc với một Thiên Chúa tình yêu, Đấng có thể nhìn thấu tận đáy lòng về những tâm tình hiếu thảo của những người con thơ đang bập bẹ nói tiếng yêu thương hầu khả dĩ đáp lại phần nào tình yêu của Cha trên trời. Có thế, mỗi lần cầu nguyện, chúng ta luôn học được bài học khiêm tốn khi nhìn nhận phần yếu đuối của mình mà phó thác cho tác động của Chúa Thánh Linh.

[1] x. “Prier” – Cầu nguyện, Juillet-Aout 1991, tr 5-8; Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt dịch.

[2] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Vita Consecata, số 67.

[3] Thánh Gioan Phaolô II, sđd, số 46.

[4] Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 2744.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC