danvienxitochauthuy

Đức Maria – Con Người Hiệp Hành

Goretti Trần Thị Huyền Trinh

Đức Maria – con người hiệp hành đã được ghi lại trong các trình thuật Tin Mừng: Tin Mừng Marcô nhắc đến Đức Maria hai lần, nhưng chưa có nhiều thông tin chi tiết (Mc 3,31-35 và Mc 6,3). Tin Mừng Matthêu thuật lại bốn biến cố liên quan đến Đức Maria cách chi tiết hơn (Mt 1,1-17; Mt 1,18-25; Mt 2,11-21 và Mt 12,46-50). Trong Tin Mừng Gioan, Đức Maria được đề cập tới hai lần: tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-11) và dưới chân thập giá (x. Ga 19,25-27). Đức Maria trong Tin Mừng Luca xuất hiện nhiều lần và chi tiết hơn, được trình bày ngang qua: biến cố Truyền Tin (x. Lc 1,26-38); việc đi thăm viếng bà chị họ Êlisabét (x. Lc 1,39-56); việc sinh Chúa Giêsu nơi hang đá Bê-lem (x. Lc 2,5-7); các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu (x. Lc 2,8-20); việc tiến dâng Chúa Giêsu trong đền thánh và gặp ông Simêon, bà Anna tuyên sấm (x. Lc 2,22-38); việc Đức Maria và thánh Giuse lạc Con trong Đền Thờ (x. Lc 2,41-50). Đức Maria đồng hành cùng các Tông đồ nơi Nhà Tiệc Ly, trong ngày Lễ Ngũ Tuần (x. Cv 1,14).

 Ngay từ thời Giáo hội sơ khai, lòng yêu mến và sùng kính Đức Maria của các tín hữu vẫn luôn dạt dào và ngày càng lan tỏa rộng rãi. Vì thế, không lạ gì khi có rất nhiều tước hiệu, danh xưng được dành cho Đức Maria, chỉ riêng Kinh Cầu Đức Bà[1] đã có hơn 50 danh hiệu (dựa theo các lời cầu). Ngoài những ân sủng và tình yêu Thiên Chúa dành cho Đức Maria, mỗi lời khẩn cầu cũng diễn tả một khía cạnh nào đó, thể hiện trái tim và nhân đức, con người và cuộc sống của Đức Maria trong truyền thống của toàn thể Hội thánh.

Trong bài này, người viết xin đề cập đến việc học hỏi, suy niệm và chiêm ngắm mẫu gương tuyệt vời của “Đức Maria – Con người hiệp hành”, dựa trên sự kiện Đức Maria đi thăm viếng bà Êlisabét trong Lc 1,39-56.

  1. “Con người hiệp hành” nơi Đức Maria

“Hiệp hành” là cùng đi với nhau, cùng nhau tiến bước trong sự lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần và lời Chúa; cùng hiệp thông với nhau và tham gia vào sứ mạng của Hội thánh. “Hiệp thông, Tham gia, Sứ vụ” là ba chiều kích quan trọng của “Hiệp hành”, chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, chiều kích này làm phong phú và định hướng cho hai chiều kích kia[2]. Đức Maria đã sống ba chiều kích này cách trọn hảo với lòng mến Chúa yêu người.

* Hiệp thông

Mẹ đã sống sự “hiệp thông” mật thiết với Ba Ngôi Thiên Chúa – nguồn cội của hiệp thông. Mẹ là đấng được Chúa Cha tuyển chọn từ đời đời, được gìn giữ trong ân sủng để không vướng nhơ tội truyền và trở nên Mẹ Đấng Cứu Thế; Mẹ là đấng đồng trinh trọn đời và luôn tuân hành ý Chúa. Đặc biệt, Mẹ được hiệp thông với Chúa Giêsu cách sâu sắc và trọn vẹn hơn, nhờ cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và đồng hành với Ngài trong suốt hành trình dương thế. Vì thế, Mẹ cũng diễm phúc được hưởng trước đặc ân trong ngày Cánh chung khi cả hồn và xác lên trời sau khi qua đời. Đức Maria như một tấm gương phản chiếu vẻ đẹp của ân sủng, đức tin, lòng khiêm tốn và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Hẳn rằng, khi đi thăm viếng bà Êlisabét, Mẹ cũng muốn được hiệp thông với niềm vui to lớn của gia đình bà. Nơi Mẹ, Thiên Chúa đã làm những điều cao cả và kỳ diệu để biểu lộ tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ. Đi theo Chúa Giêsu, Mẹ trở thành người môn đệ đầu tiên và nên gương mẫu cho tất cả những ai muốn bước theo Ngài trên con đường lữ thứ trần gian để tiến về quê hương đích thực trên trời.

* Tham gia

“Tham gia” nơi Đức Maria được biểu lộ ngang qua sự chuyên cần cầu nguyện, luôn ghi nhớ và gẫm suy lời Chúa (x. Lc 2,19.51), hằng lắng nghe và phân định. “Một trong những phương pháp của hiệp hành là lắng nghe: lắng nghe nhau, lắng nghe truyền thống đức tin của quá khứ và lắng nghe các dấu chỉ thời đại để nhận biết những gì Chúa đang nói với chúng ta, ‘Lắng nghe Thiên Chúa, để cùng với Ngài chúng ta có thể nghe thấy tiếng kêu của dân Ngài; lắng nghe dân Ngài cho đến khi chúng ta hòa hợp với ý muốn mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đón nhận ý muốn đó’”[3]. Ngang qua lời Fiat của Mẹ, “Thiên Chúa hoàn tất giao ước mới mà Người đã hứa trong Đức Giêsu thành Nadarét, Đấng Mêsia và là Đức Chúa, mà lời loan báo (kerygma), cuộc đời và thân thế của Người mạc khải rằng Thiên Chúa là sự hiệp thông của tình yêu, trong ân sủng và lòng thương xót của mình. Người muốn ôm lấy toàn thể nhân loại trong sự hiệp nhất. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, được tiền định từ đời đời để yêu mến trái tim Chúa Cha (x. Ga 1,1.18), Người đã làm người khi thời gian đến hồi viên mãn (x. Ga 1,14; Gl 4,4) để hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa[4]. Từ “lời xin vâng đầu tiên”, Đức Maria không chỉ mau mắn lắng nghe và thi hành những lệnh truyền của Thiên Chúa, mà còn trung thành đến cùng và sống một cách âm thầm trong sự chiêm ngắm mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa. Đức Maria không nề hà những sự khó khăn, những nỗi vất vả mình sẽ gặp phải. Việc “Đức Maria vội vã lên đường” để giúp đỡ người khác là sự cộng tác của Mẹ vào công trình của Thiên Chúa, là làm cho hạnh phúc gia đình ông Dacaria được trọn vẹn hơn.

* Sứ vụ

Đức Maria thực hiện “Sứ vụ rao giảng Tin Mừng khi lên đường mang Đấng Cứu Độ đến cho gia đình ông Dacaria. Suốt cuộc đời, Đức Maria đã đồng hành với sứ mạng của Chúa Giêsu: dõi theo từng bước Con đi; hiệp thông cách sâu xa và mật thiết với những đau khổ Con phải chịu trên con đường thương khó; can đảm đón nhận mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa khi đứng dưới chân thập giá; ở bên cạnh các Tông đồ để an ủi và nâng đỡ niềm tin còn non nớt của các ông. Thật thế, “Mẹ là môn đệ đầu tiên của Chúa. Mẹ là môn đệ đầu tiên trong thời gian, bởi vì ngay cả khi Mẹ tìm thấy Người Con thời niên thiếu của Mẹ trong Đền Thờ, Mẹ đã học được của Người bài học mà Mẹ giữ kín trong lòng[5].

Vậy điều gì đã giúp Đức Maria sống sự hiệp hành cách sung mãn trong mối thân tình với Thiên Chúa và lòng yêu thương tha nhân? Đó chính là ân sủng của Thiên Chúa, đức tin và sự khiêm tốn của Mẹ để luôn sẵn sàng chu toàn thánh ý Chúa, cùng dấn thân phục vụ con người.

  1. Tâm thế “con người hiệp hành” nơi Đức Maria
  2. Đầy ân sủng

Biến cố Truyền Tin thể hiện rõ chiều kích này của Đức Maria. Trong khi người Do Thái hay chào nhau bằng từ שלום “Shalom” nghĩa là “Bình an”, thì sứ thần lại chào Đức Maria bằng từ “Kaire, kecharitomene” nghĩa là “Hãy vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng!”. Phải chăng đó là một sự tuyên nhận Mẹ là “thiếu nữ Sion đích thực”, hay nói đúng hơn: Mẹ là hiện thân hoàn hảo của Dân Chúa. Hiện thân của phẩm hạnh, xinh đẹp và tinh tuyền; hiện thân của Người Nữ vĩnh cửu đại diện cho toàn thể nhân loại được cứu độ[6]. Chắc chắn “trong tâm hồn của người thiếu nữ Sion này, một cách nào đó đã hiện lên tất cả vinh quang của ân sủng mà Chúa Cha quyết định rộng ban cho chúng ta nơi Con yêu dấu[7]. Người muốn chọn cho Con mình một người mẹ để mặc lấy xác phàm, và Đức Maria sống đẹp lòng Thiên Chúa; Người chọn Mẹ và hiện diện trong Mẹ cách trọn vẹn, tràn đầy và tuôn đổ hồng ân nhưng không, để gìn giữ cho tinh tuyền, xứng đáng cho Con Một ngự trong cung lòng thiếu nữ Sion này[8].

Mầu nhiệm nhập thể và cứu chuộc là đỉnh cao của tất cả hồng ân Thiên Chúa ban cho nhân loại và toàn thể vũ trụ. Mẹ đã xin vâng để cộng tác với Thiên Chúa trong kế hoạch cao cả và đầy yêu thương này. Vì vậy, Công đồng Vaticanô II xác tín: “Đức Maria là Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và là cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng vô cùng cao quí này, Mẹ đã trổi vượt mọi tạo vật khác trên trời dưới đất[9].

Xứng với tên gọi cao quý trên, tâm thế “đầy đức tin” của Đức Maria cũng thật tuyệt vời, được biểu lộ trong những lời rất ngắn gọn nhưng đầy Thánh Thần của bà Êlisabét.

  1. Đầy đức tin

Khi được sứ thần Gabriel cho biết về việc bà Êlisabét mang thai được sáu tháng, Đức Maria đã vội vã lên đường đến làng Ain Karim, cách Giêrusalem khoảng sáu kilômét về phía tây[10] và cách Nadarét hơn một trăm kilômét. Qua thái độ nhanh nhẹn và đan cảm cất bước lên đường của Mẹ Maria, chúng ta tự hỏi rằng: có mấy ai đủ tin những lời của sứ thần vì bà Êlisabét đã cao niên và mang tiếng là hiếm hoi? Và có ai đủ can đảm và khiêm nhường để đi đến một nơi đầy trắc trở và xa xôi? Vì thế, Đức Maria có niềm tin thật mạnh mẽ.

Vừa nghe lời Đức Maria chào, đứa con trong bụng nhảy lên, bà Êlisabét cũng được đầy Thánh Thần mà thốt lên rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1,42), ở đây tác giả đặt song đối Đức Maria với bà Giuđitha: “Này trang nữ kiệt, bà được Thiên Chúa Tối Cao ban phúc hơn tất cả các phụ nữ trên cõi đất này” (Gđt 13,18). Bà Êlisabét nhìn nhận mình nhỏ bé trước cô em họ Maria: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,43). Thật thế, thử đặt mình vào chỗ đứng của dân thường và vị thế của thái hậu, ta mới cảm nhận được tâm trạng vui mừng biết bao của bà Êlisabét. Đặc biệt, với lời khen ngợi của bà Êlisabét: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45), cho ta thấy chính niềm tin sắt đá của Đức Maria đã khai sinh một nhân loại mới[11]. Đức tin nơi Mẹ hẳn đã nâng đỡ bà Êlisabét rất nhiều. “Nếu Ápraham là ‘tổ phụ những kẻ tin’ (x. Rm 4,12) thì Đức Maria là hiện thân sự hoàn hảo của đức tin[12]. Đức tin mở ra lịch sử dân tộc Israel với tổ phụ Ápraham, còn lịch sử cứu độ con người và vũ trụ thì với Đức Maria. Khi thưa tiếng “xin vâng” với tất cả đức tin và tự do, Mẹ đã cộng tác cách đắc lực với ý định của Thiên Chúa và hoạt động của Thánh Thần. Niềm tin này đã được Mẹ nuôi dưỡng và biểu lộ bằng cả cuộc đời. Mẹ tiến bước trong đức tin và đem Chúa Giêsu đến cho nhân loại trong sự khiêm tốn thẳm sâu tận cõi lòng.

  1. Khiêm tốn

Đức Maria trổi vượt trên các người khiêm hạ và khó nghèo của Thiên Chúa, là những người tin tưởng, hy vọng và lãnh nhận ơn cứu độ nơi Chúa[13]. Chính trong sự tôn thờ và khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa mà Đức Maria đã được Thiên Chúa nhìn đến và chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chẳng ai tin được: ngay trong ngôi nhà nhỏ bé của một cô thôn nữ trẻ tại làng quê xa xôi hẻo lánh, kế hoạch cao cả từ muôn đời của Thiên Chúa lại được thực hiện: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Mẹ đến với bà Êlisabét không phải để khoe về những gì mình đã nhận được hay đang có. Mẹ cũng không chối từ những lời khen ngợi của chị họ mà quy hướng tất cả về Thiên Chúa. Bài Magnificat chất chứa biết bao tâm tình ngợi khen Thiên Chúa của Đức Maria, với trọn xác tín và tâm tình khiêm tốn thẳm sâu của mình, được diễn tả cách rõ nét qua các câu[14]:

– “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48): câu này gợi nhớ tới bà Anna, mẹ của ngôn sứ Samuel trong 1Sm 1,11. Mẹ chân nhận mình là nữ tỳ hèn mọn trước Thiên Chúa.

– “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1,49): Thiên Chúa là “Đấng Toàn Năng” (ho dynatos), một danh hiệu dành cho Đức Chúa có trong Dcr 3,17; Tv 89,9, và “những điều cao cả” được nhắc tới trong sách Đnl 10,21. Theo truyền thống Cựu Ước, “những điều cao cả” đều liên hệ đến những công trình cứu độ của Thiên Chúa đối với Israel (x. Đnl 11,7; Tl 2,7) mà nay chính Chúa đã tuôn đổ trên Mẹ.

– “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1,50): câu này gợi tới Tv 103,17. Hơn ai hết, Mẹ đang bày tỏ kinh nghiệm được Chúa thương xót của bản thân, nhờ đó, Mẹ hướng đến người khác, vì Thiên Chúa luôn chờ đợi và mở rộng vòng tay để trao ban lòng thương xót và các ân huệ cho những ai biết sám hối tội lỗi và biết nhìn nhận sự cao cả của Người. Lòng thương xót đây cũng chính là lòng trung thành với các lời hứa.

 – “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1,52): với câu này, Mẹ muốn chúc tụng Thiên Chúa là Đấng luôn nâng cao những “kẻ khiêm nhường”, tức những người biết mình không có gì và không là gì trước nhan Thiên Chúa. Còn “người giàu có, lại đuổi về tay trắng (Lc 1,53) bởi lẽ “người giàu có” ở đây là những người dư thừa của cải nhưng sống ích kỷ và không biết chia sẻ cho người nghèo.

Vì thế, sự khiêm tốn của Mẹ như “Ngôi sao biển” dẫn đưa chúng ta đến hạnh phúc muôn đời. Chúng ta cần bước đi trên con đường của Tin Mừng với Mẹ, để luôn sẵn sàng hiệp hành cùng Mẹ mà đến với Thiên Chúa và mở lòng ra với tha nhân.

  1. Đan sĩ có Mẹ luôn hiệp hành
  2. Đức tin

Khi các mối tương quan của chúng ta thể hiện đức tin, chúng ta sẽ đồng hành cùng nhau trên hành trình, bất kể bao lâu hoặc khó khăn nào có thể xảy ra. Đó là vì đức tin của chúng ta không chỉ là tin vào nhau và vào các cơ cấu bí tích của Hội thánh, nhưng là tin vào Thiên Chúa, Đấng hiện diện và hướng dẫn tất cả những ai là thành viên của cộng đoàn đức tin[15]. Ơn gọi là một huyền nhiệm và đòi buộc đan sĩ cần bước đi trong đức tin, và chúng ta thật hạnh phúc khi có Mẹ luôn hiệp hành bên cạnh. Đức tin của chúng ta được diễn tả cách rõ nét hơn trong các việc cử hành phụng vụ và cầu nguyện.

Khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội hiện tại hóa mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và trung tâm của tất cả phụng vụ Kitô giáo[16]. Chính trong Thánh lễ, mỗi người được đón nhận sức sống thần linh của Thiên Chúa. Các Giờ kinh Phụng vụ là lời kinh chính thức của Hội thánh dâng lên Thiên Chúa[17]. Mỗi lần cử hành Giờ kinh, các đan sĩ hợp chung lời ca tiếng hát với cộng đoàn các thánh trên trời và có Đức Maria là Nữ Vương các thánh, để cùng chúc tụng, ca khen, cảm tạ Thiên Chúa vì những hồng ân Người ban cho muôn loài, đồng thời dâng lên Thiên Chúa những khát vọng của cá nhân, cộng đoàn, gia đình và của toàn thế giới.

Đời sống cầu nguyện được ví như hơi thở của người Kitô hữu[18]. Ngang qua cầu nguyện và nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, chúng ta được gặp gỡ, chuyện vãn và dâng lên Chúa những niềm vui nỗi buồn. Những ai năng sống gắn bó mật thiết với Thiên Chúa sẽ được lớn lên trong tương quan và trong tình yêu mến với Người. Cầu nguyện chính là một trong những cách thế diễn tả đức tin và tình yêu với Đấng mà các đan sĩ hằng tìm kiếm suốt đời. Việc cầu nguyện chung nâng đỡ và nuôi dưỡng ơn gọi, vì giữa cuộc đời “vất vả mang gánh nặng nề”, chúng ta luôn có một điểm tựa vững chắc để “được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28) và có Đức Maria là hiền mẫu luôn bao bọc chở che. Thiên Chúa luôn ở bên để đồng hành, nâng đỡ và an ủi chúng ta.

Đức tin không những giúp chúng ta không bị chao đảo hay chán nản trước những khó khăn, xung đột, chia rẽ… trong đời sống cộng đoàn, mà còn giúp chúng ta biến những điều đó thành phương tiện để thăng tiến hơn trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người bằng thái độ khiêm tốn theo gương Đức Maria.

  1. Khiêm tốn

Nếu chính vì sự khiêm tốn của Đức Maria mà Thiên Chúa đã nâng Mẹ lên chức vị “đấng đầy ân sủng” thì các đan sĩ cũng nhìn nhận mình là “không” để ân sủng của Chúa tuôn đổ trên bản thân và tha nhân ngang qua chứng từ yêu thương trong đời sống cộng đoàn. Để sống tình huynh đệ an bình và vui tươi ngay trong những sự khác biệt, thì mỗi người cần phải có thái độ khiêm tốn, cảm thông và tha thứ.

Đó là thái độ vâng phục bề trên như là hiện thân của Đức Kitô để cùng hướng đến một mục đích, một tấm lòng và một ý hướng chung… đồng thời cũng biết vâng lời nhau trong những điều ích lợi. Nhờ đó thiết lập sự hiệp nhất trong khác biệt và làm phong phú cho tình huynh đệ.

Chẳng có ai hoàn hảo ngoài một mình Thiên Chúa, bởi “nhân vô thập toàn”. Vì thế, việc cùng giúp nhau sửa lỗi cách tế nhị cũng là một điều cần thiết. Đây là một việc khá khó vì ai cũng dễ tự ái nên cần một tình huynh đệ chân thành và một sự khiêm nhường thẳm sâu. Khi đó, chúng ta sẽ biết chấp nhận, tha thứ và nâng đỡ nhau cùng vượt qua. Tha thứ là một bài học quan trọng: “Anh em hãy tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6,37). Khi tha thứ là chúng ta đang tìm kiếm một cái nhìn mới về các mối tương quan giữa anh chị em với nhau; đừng để cho những điều đã xảy ra cứ tái hiện mãi trong trí nhớ của mình hoặc tệ hơn nữa là có cái nhìn thành kiến trước một việc sai trái nào đó của anh chị em trong quá khứ. Chẳng phải chính mình cũng đầy thiếu sót, vấp ngã và mong được sự tha thứ của Chúa cũng như người khác hay sao! Hãy đặt mình vào trong hoàn cảnh của người khác để hiểu được điều gì đang thật sự diễn ra và những mong chờ gì ở việc đã, đang và sẽ làm. Khi đó, đời sống cộng đoàn sẽ trở nên dấu chỉ sống động về tình yêu Thiên Chúa giữa đời sống.

Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng ta yêu thương nhau và nhận lấy những yếu đuối, những vấn đề, những khó khăn của nhau cùng với tinh thần dấn thân phục vụ không tính toán theo gương Đức Maria.

  1. Phục vụ tha nhân trong lao động hằng ngày

Đức Maria là “cô gái trẻ đầu tiên của nền văn minh Kitô giáo[19] trong sự phục vụ vô vị lợi để đem Chúa đến cho con người. Vì thế, hành trình kéo dài khoảng năm ngày đường đầy gập ghềnh, trắc trở của vùng núi cũng không cản trở bước chân của Đức Maria – người luôn sẵn sàng phục vụ. Khi có Chúa trong mình, người ta dễ dàng phục vụ tha nhân với hết cả tâm hồn vì mỗi người đều là hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,26). Đức Maria đã ở lại phục vụ bà Êlisabét khoảng ba tháng. Từ đó, chúng ta nhận ra lao động là điều quan trọng góp phần tạo nên giá trị cuộc sống và làm cho con người trổi vượt hơn muôn loài thụ tạo khác. Con người “có khả năng hành động một cách có kế hoạch và hợp lý, có khả năng tự quyết định và hướng tới sự thành tựu của bản thân mình[20].

Trước hết, lao động nuôi dưỡng sự sống của con người: “Có làm thì mới có ăn. Không dưng ai dễ đem phần đến cho”. Các ẩn sĩ xưa đã nêu gương sống đời đan tu bằng chính thành quả lao động của mình, sống tinh thần phó thác, khó nghèo và giúp đỡ người khác. Cha thánh Biển Đức quả quyết trong Tu Luật 48,8: “Chỉ khi nào sống bằng thành quả lao động của mình như cha ông ta và các Tông đồ, ta mới thật là đan sĩ”.

Thứ đến, lao động giúp phát triển con người toàn diện cả về thể lý, sinh lý, tâm lý, tâm linh và hòa nhập với mọi người theo cách thức: “Làm việc như Chúa Giêsu đã làm”. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 22, đã nói về Chúa Giêsu: “Người đã làm việc với đôi tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu thương bằng quả tim con người”. Việc xác là điều có ích, giúp chúng ta cả phần hồn lẫn phần xác. Hỏi rằng: có mấy ai thích làm việc chung với những người không có tinh thần trách nhiệm trong công việc; hoặc những người lười biếng, cứ đùn đẩy việc phải làm cho người khác? Đời sống chung cần một tinh thần hợp tác trong công việc, nhằm mang lại hiệu quả cho công việc cần làm, vì: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

 Cuối cùng, lao động mang lại niềm vui và bình an. Thiên Chúa nhân lành không bao giờ gây thiệt hại cho những ai biết tin tưởng nơi Người. Điều quan trọng là ta phải biết cộng tác và làm trổ sinh những hoa trái, trong khả năng của mình, theo ơn riêng Chúa đã ban. Cha Tổ phụ dạy: “Trong chúng ta ai lấy việc xác làm nặng nề, buồn bực, chán ngán, thì ở Nhà Dòng này không được. Ở Nhà Dòng này phải làm việc xác, ai theo sức nấy. Việc xác là việc đền tội, và cũng là việc các thánh đã làm. Sự ăn chay cũng là việc đền tội, mà cũng không bằng việc xác. Khi ở trong nhà thờ, miệng nói: Lạy Chúa, con kính mến Chúa! Đến khi ra làm việc, phải ép mình chịu khó một chút, lại chán ngán buồn phiền. Như vậy là chưa phải kính mến Chúa thật đâu, mới có ở nơi miệng thôi” (DN 139).

Vì thế, khi phục vụ, chúng ta cần có tinh thần trách nhiệm, ý thức xây dựng cộng đoàn và yêu thương (anh) chị em. Cần biết thánh hóa công việc và làm việc cách quân bình, chớ có mê làm việc quá; đến giờ làm thì làm: làm cho siêng, làm cho tử tế; đừng viện dẫn công việc mà bỏ bê, lơ là, trễ nải trong các việc thiêng liêng (x. DN 129) và cũng cần biết phân định, để trong cùng một thời gian mà có nhiều phần việc phải làm thì nên suy xét bậc thang giá trị của các phần việc đó. Nhất là ý thức chọn Chúa chứ không phải công việc của Chúa.

Kết luận

Với lời Fiat, Thiên Chúa đã đặc tuyển Đức Maria từ giữa muôn người qua bao thế hệ, đã tuôn đổ muôn vàn ân sủng và chan hòa tình yêu xuống trên Mẹ. Nhưng Mẹ không giữ cho riêng mình mà thông chia cho nhân loại. Mẹ là “máng thông ơn” cho nhân loại. Ngang qua cuộc thăm viếng bà Êlisabét, Cựu Ước đã gặp gỡ Tân Ước, bóng tối đang mờ đi trước ánh sáng ân sủng. Nhờ đó, chúng ta được chiêm ngắm mẫu gương hiệp hành nơi Đức Maria. Mẹ chính là con người hiệp hành; là gương soi của “Hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia, Sứ vụ” với Thiên Chúa và với nhân loại trong đức tin và sự khiêm nhường. Nhà thần học Hans Urs von Balthasar đã có lý khi viết: “Sự tôn sùng Mẹ Maria là con đường chắc chắn nhất và ngắn nhất dẫn đưa chúng ta đến gần Chúa Giêsu cách cụ thể[21]. Nơi Mẹ, chúng ta tìm thấy được sự sẻ chia, an ủi, nâng đỡ, khích lệ, động viên… trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Nhờ Mẹ và qua Mẹ, mọi ơn lành được tuôn đổ xuống trên nhân loại và thế giới, để cuộc sống của chúng ta thấm đượm tình yêu thương và tinh thần phục vụ, chan hòa tình Chúa và dạt dào tình người mà “một đi chung cùng nhau”, trong cuộc lữ hành trần thế hướng về quê trời. Ước chi đời sống của chúng ta là lời ca chúc tụng Thiên Chúa, theo gương Đức Maria là “con chim ” hót hay hơn cả.

[1] x. Kinh Cầu Đức Bà 1, tại http://conggiao.info/kinh-cau-duc-ba-d-62121. Truy cập ngày 20/09/2022.

[2] x. Chương trình học hỏi về Thượng hội đồng Giám mục thứ 16, bài 3, số 2, tại https://www.giaophanbaria.org/tin-giao-hoi-toan-vu/thuong-hdgm-2023/2022/01/15/chuong-trinh-hoc-hoi-ve-thuong-hoi-dong-giam-muc-thu-16.html. Truy cập ngày 26/09/2022.

[3] Chương trình học hỏi về Thượng hội đồng Giám mục thứ 16, bài 4, số 2, tại https://www.giaophanbaria.org/tin-giao-hoi-toan-vu/thuong-hdgm-2023/2022/01/15/chuong-trinh-hoc-hoi-ve-thuong-hoi-dong-giam-muc-thu-16.html. Truy cập ngày 26/09/2022.

[4] Ủy ban Thần học quốc tế, Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh. Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương dịch, Nxb. Đồng Nai, 2021, số 15.

[5] Gioan Phaolô II, Tông huấn “Dạy Giáo Lý Trong Thời Đại Chúng Ta” – Catechesi Tradendae, số 73.

[6] x. Đức Maria – Kiệt tác của Thiên Chúa, tr. 128.

[7] Gioan Phaolo II, Thông điệp Redemptoris Mater, số 8.

[8]  x. Nguyễn Hồng Thanh, Giáo trình Thánh Mẫu Học, tr. 70.

[9] Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 53.

[10] x. Kinh Thánh Tân Ước, bản dịch và chú thích có hiệu đính, Nxb. Tôn Giáo, 2022.

[11] x. Karl Rahner, Maria – kẻ đã tin, tr. 29.

[12] Nguyễn Hồng Thanh, Giáo trình Thánh Mẫu Học, tr. 76.

[13] Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 55.

[14] Những địa chỉ đối chiếu bản văn Kinh Thánh sau, đều được dựa trên https://www.simonhoadalat.com/hochoi/thanhmauhoc/05LeMeLenTroi.htm.

[15] Hiệp hành,  Nội san Chia sẻ, số 106, tháng 6 năm 2022.

[16] x. GLHTCG, số 1322-1326.

[17] x. Hiến chế Sacrosanctum Concilium, về Phụng vụ thánh, số 90.

[18] x. GLHTCG, số 2697.

[19] Fulton J. Sheen, Mối tình từ muôn thuở, Nxb. Phương Đông, 2008, tr. 56.

[20] Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens – Lao Động Của Con Người, số 6.

[21] Nguyễn Hữu Thy, Đức Maria trong Kinh nguyện Giáo hội, tr. 215.

CÙNG CHUYÊN MỤC