danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (01) – CẦU NGUYỆN SÁM HỐI TRONG THÁNH VỊNH 51 (50)

Tác giả: FM. Justino Nguyễn Vũ

 

Nét đặc trưng của đời sống của các đan sĩ là “ora et labora – cầu nguyện và lao động”. Đây là hai cách thức của một hoạt động. Cầu nguyện trong lao động, và lao động trong cầu nguyện. Cũng có thể hiểu, cầu nguyện là lao động, và lao động là cầu nguyện. Chúng không thể tách rời nhau. Trọn đời sống của người đan sĩ là chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa. Ưu tiên của lời ca tụng là cầu nguyện bằng việc hát Thánh vịnh.

Bộ sách Thánh vịnh gồm 150 bài ca vịnh, được chia thành năm cuốn. Thánh vịnh 51, còn được gọi “miserere – xin thương xót con”, thuộc cuốn thứ hai (Tv 42-72). Thánh vịnh này có thể văn van xin hay khẩn cầu cá nhân. Lời cầu nguyện “Miserere” là một trong những lời cầu nguyện sâu sắc và cảm động của Kinh thánh Cựu ước.

Câu hỏi quan trọng được đặt ra để tìm hiểu và suy tư: Tại sao lời cầu nguyện sám hối “miserere – xin thương xót con” sâu sắc và cảm động, và Thánh vịnh này có ý nghĩa gì?

Bài viết này sẽ giải thích những đoạn thơ hoặc câu thơ hay thuật ngữ quan trọng dựa vào bản văn Hipri, đồng thời trình bày những thành quả đạt được của khoa giải thích Kinh thánh hiện đại. Bài viết cầu nguyện sám hối trong Thánh vịnh 51 được trình bày qua bốn điểm: 1) Bản văn Việt ngữ; 2) Ngữ cảnh và cấu trúc; 3) Giải thích; 4) Kết luận.

1. Bản văn[1]

Lời cầu nguyện sám hối “miserere – xin thương xót con” được xem như “một trong những viên ngọc quý” trong toàn bộ sách Thánh vịnh. Với cảm thức sâu xa của một hối nhân, Vịnh gia đã thực sự nhận biết được Thiên Chúa giàu lòng thương xót, đồng thời nhận ra được chính mình là tội nhân. Chúng ta hãy cùng đọc Thánh vịnh này với sự chú tâm từng câu và từng chữ như một lời cầu nguyện.

1 Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh của vua Đa-vít. 2 Ngôn sứ Na-than đến gặp vua vì vua đã đến với bà Bát Se-va.

3 Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,

mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.

4 Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

5 Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.

6 Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,

dám làm điều dữ trái mắt Ngài.

Như vậy, Ngài thật công bằng khi tuyên án,

liêm chính khi xét xử.

7 Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi,

đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.

8 Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật,

dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan.

9 Xin dùng cành hương thảo

rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền;

xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.

10 Xin cho con được nghe

tiếng reo mừng hoan hỷ,

để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.

11 Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi

và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm.

12 Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,

đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.

13 Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,

đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.

14 Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,

và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con;

15 đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi,

ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.

16 Lạy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ,

xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính.

17 Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,

cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.

18 Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm,

con có thượng tiến lễ toàn thiêu,

Ngài cũng không chấp nhận.

19 Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát,

một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.

20 Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,

thành lũy Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.

21 Bấy giờ, Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,

lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.

Bấy giờ, thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.

2. Ngữ cảnh và cấu trúc

Hai câu đầu của Thánh vịnh 51 được xem như một ghi chú mang tính lịch sử. Ca vịnh “miserere – xin thương xót con” được cho là của Đavít. Đây lời cầu nguyện sám hối của vua sau khi phạm tội. Vua đã đưa Urigia vào chỗ chết để chiếm đoạt Batseva làm vợ mình (x. 2 Sm 11-12). Nhiều nhà nghiên cứu Kinh thánh hiện đại lại cho rằng soạn giả có thể là một người vô danh. Ông sáng tác bài thơ này dựa trên câu chuyện của Đavít và Batseva. Có thể tác phẩm được sáng tác vào thời kỳ sau Lưu Đày Babylon (sau năm 537 tCN), và được gán cho Đavít. Những người hát Thánh vịnh thuộc thành phần kinh thành Đavít. Vì thế, các câu 1-2 như một ghi chú mang tính lịch sử.

Các câu 3-4, như khúc dạo đầu, là lời cầu xin thống thiết của tội nhân về “lòng thương xót” của Thiên Chúa. Chỉ có Ngài mới có thể tha thứ cho tội nhân. Các câu 5-7 diễn tả lời thú tội chân thành của hối nhân về những tội lỗi mà mình đã phạm. Tội nhân luôn ý thức rằng, lỗi phạm đến con người là “đắc tội với Thiên Chúa”. Các câu 8-14 trình bày lời cầu xin tín thác của tội nhân. Tội nhân cầu xin Thiên Chúa “tạo dựng” cho chính mình “một tấm lòng trong trắng”, để được hưởng niềm vui cứu độ của Ngài. Các câu 15-19 nói đến lời khấn hứa ngợi khen và tạ ơn mà tội nhân dâng lên Thiên Chúa. Các câu 20-21, như phần phụ lục được thêm vào sau, là lời cầu xin Thiên Chúa thương tuôn đổ hồng phúc xuống dân thành Sion và xây dựng lại thành Giêrusalem.

Thánh vịnh 51 có thể được cấu trúc như sau:

Ghi chú (cc. 1-2)

Khúc dạo đầu: lời kêu cầu lòng thương xót của Thiên Chúa (cc. 3-4)

Lời thú tội chân thành (cc. 5-7)

Lời cầu xin tín thác (cc. 8-14)

Lời hứa tạ ơn (cc. 15-19)

Phụ lục: cầu xin cho cộng đoàn (cc. 20-21)

Bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu, giải thích và suy niệm để hiểu rõ hơn tâm tình cầu nguyện sám hối của vịnh gia.

3. Giải thích

3.1. Khúc dạo đầu: lời kêu cầu lòng thương xót của Thiên Chúa (cc. 3-4)

Ngay ở khúc dạo đầu, Vịnh gia cầu xin lòng thương xót của Thiên Chúa:

“Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,

mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm” (c. 3).

Động từ “thương xót” (tiếng Hipri חָנַן – chanan) có nghĩa “tỏ lòng ưu ái”, diễn tả việc đối xử tốt của người trên đối với người dưới như một ân huệ. “Xin thương xót con” (חָנֵּ֣נִי – ḥān·nê·nî; x. 2Sm 12,22), ở thể mệnh lệnh cách, có nghĩa “xin nhân từ với con” hoặc “xin đổ đầy ân sủng của Ngài trên con”.

Danh từ “lòng nhân hậu” (tiếng Hipri חֵסֵד – khesed) được quảng diễn như là “chân thật, trung thành, tốt lành, thương xót, âu yếm, nhẹ nhàng, kiên trì trong lưu tâm và yêu thương”. Bản văn Hipri được đọc: “Xin thương xót con theo lòng nhân hậu của Ngài”. Cụm từ này muốn nhấn mạnh lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Ngay ở câu thơ đầu tiên, Vịnh gia đã tuyên xưng Thiên Chúa thương xót.

Vì thế, Vịnh gia kêu xin sự tha thứ của Thiên Chúa. Danh từ “lượng hải hà” (tiếng Hipriרַחַם  – racham) nghĩa là “lòng bao dung” hay “lòng nhân từ”. Từרַחַם  – racham nguyên thủy bởi danh từ רֶחֶם – rechem. Ở số ít có nghĩa “dạ con, cung lòng mẹ”; ở số nhiều nghĩa là “lòng, trung tâm, trung tâm sinh sản và xúc động”. Lượng hải hà của Thiên Chúa được diễn tả như “cung lòng” của người mẹ, luôn sẵn sàng cưu mang con mình (x. Đnl 1,31).

Danh từ “tội” (tiếng Hipri פֶּשַׁע – pesha) nghĩa là “sự nổi loạn” chống lại người có quyền (x. 1V 12,19; 2V 1,1; Is 43,27; G 34,37). Như thế, “tội” trước tiên là nổi loạn chống lại Thiên Chúa, chống lại ý định của Người. Động từ “xóa” (tiếng Hipri מָחָה – machah) có nghĩa làm mất hay xóa dấu vết khỏi sổ sách (x. Is 43,25; 44,22; Tv 51,11). Người đương thời quan niệm rằng, những hành vi tốt hay xấu của con người được ghi vào sổ sách. Vào ngày “tòa bắt đầu xét xử, sổ sách được mở ra” (Nkm 13,14). Vịnh gia trình bày Thiên Chúa như một vị quan án đang xét xử. Đồng thời ông nài xin Thiên Chúa xóa hết đi những tội đã được viết ra (x. Xh 32,32). Như thế, Vịnh gia xin Thiên Chúa hãy lấy lòng bao dung mà xóa bỏ, quên hết tội chống lại Ngài mà ông đã phạm.

Tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Vịnh gia cầu xin:

“Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con xin Ngài thanh tẩy” (c. 4).

Danh từ “lỗi lầm” (tiếng Hipri עָוֹן – awon) mang ý nghĩa lỗi lầm có chủ đích (x. Gr 11,10), một hành động quay về hướng lầm lạc. Đây là một hành vi có chủ ý, chứ không phải do tình cờ hay ngoài ý muốn. Động từ “rửa” (tiếng Hipri כָּבַס – kabas), nghĩa đen là “giẫm, đạp” để giặt quần áo (x. Xh 19,10.14; 2Sm 19,24); nghĩa bóng dùng cho con người “tẩy rửa” (x. Gr 2,22). Vịnh gia xin Thiên Chúa tẩy rửa những hành vi sai trái mà mình đã cố ý thực hiện (x. c. 9).

Danh từ “tội lỗi” (Hipri חַטָּאָה – chatta’ah) nghĩa là “mất đi dấu vết” hay “lạc hướng” (x. G 5,24; Cn 8,36; 19,2). Hàm ý một người đã cố ý làm mất đi dấu ấn riêng của mình hay lạc hướng. Người đó lựa chọn con đường khác so với đường lối của Thiên Chúa. Động từ “thanh tẩy” (tiếng Hipriטָּהֵר  – taher) thường được dùng trong nghi thức thanh tẩy (x. Lv 14,11; 15,13.28; 16,19), loại bỏ hay chùi rửa rỉ sét khỏi vàng bạc đồng (x. Ml 3,3).

Như thế, Vịnh gia nhận biết Thiên Chúa nhân hậu, thương xót và bao dung. Người luôn tha thứ người tội lỗi và yếu đuối. Vịnh gia ca ngợi tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Như người mẹ, Người luôn sẵn sàng đón nhận tội nhân với tình yêu bao la. Vì thế mà Vịnh gia, dù là tội nhân, đã hoàn toàn tín thác vào lòng thương xót bao la của Thiên Chúa.

Vịnh gia cũng nhận ra “tội” như là hành vi có ý thức của con người. Tội cắt đứt tương quan giữa Thiên Chúa với con người.

3.2. Lời thú tội chân thành (cc. 5-7)

Vịnh gia thành tâm nhìn nhận tội lỗi của mình bằng những lời tự thú:

“Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm,

Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,

dám làm điều dữ trái mắt Ngài.

Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi,

đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (cc. 5 và 7)

Các động từ được sử dụng ở thể khẳng định và chủ từ luôn là Vịnh gia. Vịnh gia can đảm nhìn nhận và chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình. Tương quan không tốt giữa ông và Thiên Chúa là do chính ông. Ông không chạy trốn cũng không đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho người khác.

Đồng thời Vịnh gia nhìn nhận “lỗi lầm” như là bản chất yếu đuối của con người. “Tội” như là tình trạng tự nhiên của con người từ khi mới được sinh ra (c. 7; x. Tv 58,4; Is 48,8). Đối với ông, tội ở ngay trong chính con người mình. “Tội” là phản loạn chống lại Thiên Chúa. Tội cắt đứt mối tương quan thân tình giữa Thiên Chúa với Vịnh gia. Tội đó cứ ám ảnh trên ông suốt cả ngày đêm. Tội làm cho ông không được bình an.

Sau khi phạm tội ngoại tình với Batseva, rồi gián tiếp giết chồng của bà là Urigia, Đavít đã nhận ra tội lỗi của mình. Vua đã xưng thú: “Tôi đắc tội với Đức Chúa” (2 Sm 12,13). Trong ca vịnh này, Vịnh gia không ngần ngại thú nhận: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa” (c. 6). Như thế tội xúc phạm đến người khác cũng có nghĩa chống lại Thiên Chúa.

Trên hết, Vịnh gia tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng công chính:

“Như vậy, Ngài thật công bằng khi tuyên án,

liêm chính khi xét xử” (c. 6).

Đức Chúa mặc khải cho Môsê biết: “ĐỨC CHÚA! ĐỨC CHÚA! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34,6-7). Như thế, Thiên Chúa công bằng khi thương xót và thứ tha, đồng thời cũng sửa phạt tội nhân.

3.3. Lời cầu xin tín thác (cc. 8-14)

“Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật,

Dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan” (c. 8).

Thiên Chúa chỉ yêu thích một điều duy nhất nơi Vịnh gia, đó là “tâm hồn chân thật”. Danh từ “tâm hồn” (tiếng Hipri טּוּחָה – tuchah) có nghĩa “nội tâm, không gian tối tăm”. Cụm từ này có thể được hiểu “Ngài yêu thích sự thật trong bóng tối”. Sự thật chính là ánh sáng chiếu soi lương tâm tối tăm.

Vịnh gia xin ơn khôn ngoan để giúp phân định. Bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn: “Trong bí mật Người dạy tôi cho biết khôn ngoan.” Thuật ngữ “khôn ngoan” có nghĩa “một sự phân định, một trật tự, độ sáng, chương trình của Thiên Chúa cho sự cứu rỗi”. Tác giả sách Khôn Ngoan viết: “Kính sợ ĐỨC CHÚA là bước đầu của tri thức. Kẻ ngu si khinh thường khôn ngoan và lời nghiêm huấn” (Kn 1,7). Vịnh gia ý thức, tự sức mình không thể làm gì được. Chỉ có Thiên Chúa mới ban cho ông ánh sáng sự thật và sự khôn ngoan, để sống một cuộc đời ý nghĩa.

Trong câu 9, Vịnh gia lặp lại chủ đề xóa bỏ ở câu 4:

“Xin dùng cành hương thảo

rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền;

xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (c. 9).

Hương thảo, còn gọi là cây ngưu tất, mọc ở bờ tường, có mùi hương (x. 1V 5,13). Tại Ai Cập vào dịp lễ Vượt Qua, người Do Thái đã dùng một bó hương thảo nhúng máu chiên để bôi lên cửa nhà mình (x. Xh 12,22). Hương thảo thường được dùng trong nghi thức thanh tẩy người bị bệnh phong (x. Lv 14,6) hay người bị nhiễm uế (x. Ds 19,18).

Cụm từ “trắng hơn tuyết” có nghĩa là trong sạch. Cách diễn tả này cũng gặp thấy nơi Isaia: “ĐỨC CHÚA phán: ‘Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận! Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông’” (Is 1,18). Thiên Chúa có khả năng thanh tẩy trái tim con người, bất chấp cho tội lỗi đã làm hoen ố đến mức nào. Vịnh gia sẽ được trở nên tinh tuyền và trong sạch (x. c.12).

“Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ,

để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng” (c. 10).

Từ “xương” (tiếng Hipri גִּיל – etsem) được trình bày như sức mạnh sự sống (x. Tv 31,11; 35,9-10), nhân cách của một người hay chính bản thân (x. St 2,3; Tv 6,3; 32,3; 53,6; 102,4…). Cụm từ “xương cốt bị Ngài nghiền nát” dường như ám chỉ đến nỗi lo lắng tinh thần hay bệnh thể lý của Vịnh gia, do ý thức về tội lỗi của mình đè nặng (x. c. 5). Ezekiel kể về thị kiến những bộ xương khô sống lại khác thường, hình ảnh dân tộc bị tiêu diệt được hồi sinh (37,1-14).

Cụm từ “tiếng reo mừng hoan hỷ”, được Giêrêmia dùng nhiều lần (7,34; 15,16; 16,9; 25,10; 33,11), diễn tả niềm vui của người chiến thắng hay được giải thoát khỏi bách hại (x. Is 22,13; 35,10; 51,3.11). Động từ “nhảy múa tưng bừng” (tiếng Hipri גִּיל – gil) diễn tả niềm vui được giải cứu (x. Tv 9,15; 13,6; 14,7; 21,2; 35,9; 53,7). Vịnh gia tin rằng chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng hoàn thành việc tái tạo toàn thể con người bị tội lỗi hủy hoại. Vịnh gia, kẻ coi như bị Thiên Chúa đánh phạt, ước ao được reo vui lên.

“Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi

và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm” (c. 11).

Người ta vẫn quan niệm rằng Thiên Chúa dường như luôn nhìn thấy và không bỏ qua tội lỗi của con người (x. G 7,17-19; 10,6.13-14). Cụm từ “xin ngoảnh mặt” hay “xin ẩn mặt” là lời van nài khẩn thiết của Vịnh gia. Ông khẩn cầu Thiên Chúa ngừng làm cho ông phải đau khổ, giải thoát khỏi những hậu quả của tội lỗi. Cũng như Gióp, Vịnh gia ao ước được bình an thư thái (x. G 7,19; 14,6). Tương quan giữa ông với Thiên Chúa sẽ trở nên tốt đẹp.

Vì vậy, Vịnh gia nài xin Thiên Chúa một cuộc tạo dựng mới:

“Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,

đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy” (c. 12).

Động từ “tạo dựng” (tiếng Hipri בָּרָא – bara’), một động từ đặc biệt trong Kinh thánh, luôn có chủ từ là Thiên Chúa. Mở đầu với động từ “tạo dựng”, ở thể mệnh lệnh cách, nhấn mạnh đến hành động chỉ một mình Thiên Chúa thực hiện. Chính Thiên Chúa “tạo dựng” vũ trụ (x. St 1,1). Cũng quyền năng đó, nay Thiên Chúa “tạo dựng” một trái tim mới. Thiên Chúa đã ký kết giao ước với những người lưu đày rằng, Người sẽ “ban cho một trái tim mới và một thần trí mới” (Ed 11,19; 36,26).

Thiên Chúa tạo dựng cho con người “một trái tim trong trắng”. Trái tim (לֵב – leb) là trung tâm của sinh hoạt con người, trung tâm tình cảm, tư tưởng và ý muốn. Trong ngôn ngữ Kinh thánh, “trái tim” được xem như cội nguồn của cuộc sống nội tâm của con người. “Một trái tim trong trắng” nghĩa là một con người mới. Con người mới này có khả năng sống một cuộc sống mới. Đó là thực hiện ý muốn của Thiên Chúa.

Thuật ngữ “tinh thần” (tiếng Hipri רוַּח – ruach) nghĩa là nguyên lý thúc đẩy tình cảm, tư tưởng và ý muốn. Ở câu 12, Vịnh gia cầu xin cho mình có cơ hội bắt đầu lại để thực hiện những điều đẹp ý Thiên Chúa. “Thần khí”, trong hai câu thơ 13 và 14, là nguyên lý làm cho sống (x. Is 63,10-14). Xin Thiên Chúa “đổi mới tinh thần chung thủy” có nghĩa lòng kiên vững trước sự hay thay đổi của con người. Thần khí thánh là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa.

Vịnh gia âu sầu lo sợ:

“Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,

đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài” (c. 13).

Cụm từ “thần khí thánh của Ngài” có nghĩa ân huệ trung tín Thiên Chúa dành cho con người. Thần khí Thiên Chúa thanh luyện và thôi thúc từ bên trong để con người vâng phục và thực hiện ý muốn của Thiên Chúa. Thần khí Thiên Chúa sẽ hướng dẫn con người làm những điều tốt (x. Tv 143,10). Điều này là bảo chứng cho sự thuộc về Thiên Chúa, hợp nhất với Người. Vịnh gia sợ Thiên Chúa loại trừ mình. Sợ Thiên Chúa không còn nghĩ đến mình nữa. Ông lo lắng ân huệ sự sống bị Thiên Chúa lấy mất đi. Vì thế, Vịnh gia van xin niềm vui đưa đến ơn cứu độ (x. c. 10):

“Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,

và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (c. 14).

Thiên Chúa là Đấng cứu độ con người (c. 16; x. Tv 65,6). Chính Người sẽ cho người tốt được hưởng ơn cứu độ (x. Tv 50,23). Từ “cứu độ” (Hipri יֶשַׁע – yesha) trình bày niềm hy vọng của người công chính được Thiên Chúa giải thoát. Vịnh gia cầu xin niềm vui được giải thoát khỏi tội lỗi, tinh thần được bình an và luôn ao ước làm điều tốt. Ông tin rằng chỉ mình Thiên Chúa là Đấng cứu độ. Chính Người mới đem lại cho ông niềm vui đích thực.

3.4. Lời hứa tạ ơn (cc. 15-19)

Ơn tha thứ và đổi mới sẽ là động lực cho một dấn thân làm chứng tá, bao gồm việc chúc tụng dâng lên Thiên Chúa. Trước hết, Vịnh gia hứa rằng:

“đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi,

ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (c. 15).

Vịnh gia dấn thân cho “sứ mạng truyền giáo”. Ông sẽ làm cho họ, những ai đang trong ngõ cụt của cuộc đời, tìm thấy được con đường giải thoát. Ông sẽ làm cho họ hiểu cần sám hối trước Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Vịnh gia làm thế, không như một thầy dạy, nhưng như một nhân chứng cho điều đã thực sự xảy đến với chính mình. Ân huệ cứu độ của Thiên Chúa cần được loan báo.

Lạy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ,

xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính” (c. 16).

Một lần nữa, Vịnh gia tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng cứu độ. Ngài sẽ tha thứ cho ông khỏi nợ máu mà ông đã phạm. Ông đã thực sự ăn năn thống hối. Chính kinh nghiệm cá nhân, từ một người tội lỗi nay được tha thứ, từ một kẻ đáng chết nay được cho sống. Vì thế Vịnh gia hân hoan tạ ơn Thiên Chúa, trước hết bằng việc tung hô Ngài là Đấng công chính.

“Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,

cho con cất tiếng ngợi khen Ngài” (c. 17).

Cụm từ “xin mở miệng con” hàm ý dẹp bỏ đi những ngăn trở làm cho không thể nói được (x. Ed 3,26-27). Ngăn trở ở đây có thể là tương quan đổ vỡ giữa Vịnh gia với Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới làm cho tương quan này tốt đẹp trở lại. Thiên Chúa ban ơn linh hứng để con người có thể ca tụng Ngài (x. Tv 40,4). Vịnh gia cho thấy ông hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Việc ngợi khen Thiên Chúa cũng là một ân huệ.

“Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm,

con có thượng tiến lễ toàn thiêu,

Ngài cũng không chấp nhận” (c. 18).

Thiên Chúa chán ghét những nghi lễ vụ hình thức (x. Tv 40,7: Am 5,21tt; Mk 6,6tt). Tế phẩm và lễ toàn thiêu nào có ích gì khi không có công bằng, bác ái và tha thứ. Phụng vụ có ý nghĩa gì khi không có niềm tin vào Thiên Chúa. Sách Samuen đã từng cảnh cáo: “ĐỨC CHÚA có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời ĐỨC CHÚA không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1Sm 15,22). “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6,6).

“Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát,

một tấm lòng tan nát dày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (c. 19).

Các cụm từ “tâm thần tan nát” và “tấm lòng tan nát dày vò” diễn tả sự hoán cải thật sự. Vịnh gia khiêm tốn trở về với Thiên Chúa. “CHÚA gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34,19). Trong nỗi đau tột cùng và thất vọng ê chề, Vịnh gia vẫn trung thành dâng lên Thiên Chúa lời ca tạ ơn. Đây chính là của lễ mà Thiên Chúa yêu thích (x. Tv 69,30-32).

3.5. Phụ lục: cầu xin cho cộng đoàn (cc. 20-21)

“Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,

thành lũy Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.

Bấy giờ, Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,

lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.

Bấy giờ, thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.”

Hầu hết các nhà nghiên cứu Kinh thánh cho rằng hai câu thơ cuối là một sự thêm vào sau này. Hai câu thơ này diễn tả lời cầu xin đến từ cộng đoàn. Việc thêm vào này hoặc là để sử dụng trong phụng vụ của cộng đoàn tại Đền thờ, hay là giải thích thêm về lễ phẩm trong nghi thức phụng tự.

Vịnh gia xin Thiên Chúa lấy lòng thương xót tuôn đổ hồng ân xuống Sion và tái thiết tường thành Giêrusalem. Chi tiết này gợi nhớ sự kiện lịch sử của dân Israel sau thời lưu đày Babylon trở về. Việc tái xây dựng lại những tường thành Giêrusalem dưới sự điều hành của Nơkhêmia vào khoảng giữa 587 và 440 tCN.

Lời cầu nguyện không còn là của cá nhân nhưng là của cộng đoàn Israel. Thiên Chúa ban ơn cứu rỗi cho cộng đoàn. Trong tình trạng mới những lễ vật dâng lên với tấm lòng chân thật được Thiên Chúa chấp nhận.

4. Kết luận

Miserere – xin thương xót con” là một ca vịnh rất sâu sắc và thật cảm động. Đây là một tiến trình sám hối nội tâm của chính Vịnh gia. Tiến trình này bắt đầu bằng việc nhận biết bản tính của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng thương xót, nhân hậu và bao dung. Thiên Chúa yêu thương con người, kể cả người tội lỗi, như người mẹ yêu thương và cưu mang con mình trong lòng. Ngài tế nhị và tôn trọng mỗi người như là chính họ. Ngài sáng kiến và luôn đi bước trước để biểu lộ tình yêu vô biên dành cho người tội lỗi.

Kế đến, Vịnh gia khiêm tốn nhận ra thân phận con người là tội lỗi: hoài thai trong tội, sinh ra trong tội, lớn lên làm điều tội. Tội là phản loạn chống lại thánh ý Thiên Chúa. Tội cắt đứt tương quan thân mật của Thiên Chúa dành cho con người. Tội xúc phạm đến con người là tội xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Vịnh gia cũng can đảm nhìn nhận và chịu trách nhiệm về những hành vi sai lầm của mình. Ông không đổ lỗi cho người khác. Ông không trốn tránh trách nhiệm.

Vịnh gia tin tưởng vào lòng bao dung của Thiên Chúa. Ông thật lòng sám hối và thú tội trong nước mắt. Ông quay trở về và để mình được chìm vào lòng thương xót bao la của Thiên Chúa. Vì thế, ông đã đón nhận được ơn tha thứ của Người. Thiên Chúa chữa lành và tác tạo Vịnh gia thành một con người mới. Con người mới này bắt đầu lại trong tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa, bằng cách yêu thương và bác ái với người khác. Nhờ vậy, Vịnh gia cảm nghiệm được niềm vui cứu độ của Thiên Chúa.

Chính niềm vui cứu độ thôi thúc Vịnh gia hành động. Ông trở thành một người loan báo niềm vui cứu độ của Thiên Chúa. Có thể nói Vịnh gia, từ một người tội lỗi trở thành “một nhà truyền giáo”. Ông không được phép giữ hồng ân của Thiên Chúa cho riêng mình. Ông là một chứng nhân về lòng thương xót bao la của Thiên Chúa. Nhờ đó mà những người lầm lạc và tuyệt vọng cũng được đón nhận niềm vui cứu độ của Người. Bởi vì Thiên Chúa yêu thích lễ phẩm là “tâm thần tan nát” và “một tấm lòng tan nát giày vò” của người tội lỗi.

 

Thư mục

– Nguyễn Thế Thuấn, Kinh thánh, Tp HCM: Dòng Chúa Cứu Thế, 1976.

– Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh thánh, ấn bản 2011, Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2019.

Betz, O., (chủ biên), Calver Bibellexikon, tập 1-2, Stuttgart: Calver Verlag, ấn bản thứ 2, 2006.

– Hoàng Đắc Ánh và Trần Phúc Nhân, Như Hương Trầm. Học hỏi Thánh vịnh và Thánh ca Cựu ước Tân ước, Tp HCM: Tủ Sách Đại Kết, 1992.

– Lê Phú Hải, Nẻo vào Thành vịnh, tìm hiểu, đọc và cầu nguyện với Thành vịnh, Đồng Nai: Nxb Đồng Nai, 2021.

– Phạm Hữu Quang và Nguyễn Văn Bình, Sách Thánh vịnh. Tìm Hiểu, Giải Thích, Suy Niệm, Cầu Nguyện, Đồng Nai: Nxb Đồng Nai, 2018.

– Phạm Xuân Uyển, Chú giải 150 Thánh vịnh, thủ bản dành cho các học viên, 2015.

Gavigan James, McCarthy Brian, McGovern Thomas, The Navarre Bible: The Psalms: The Psalter and the Song of Solomon in the revised standard version and New Vulgate, Blackrock, Co. Dublin, New York: Four Courts Press, ấn bản thứ 2, 2005.

Tate Marvin E., Word Biblical commentary. Vol.20: Psalms 51-100, Grand Rapids, Michigan: Zondervan Pub House, 1991.

[1] Bài viết này xin sử dụng với lòng biết ơn bản dịch ‘Kinh thánh, ấn bản 2011’ của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

 

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục