danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (02) – VẺ ĐẸP CỦA SA MẠC

Tác giả: Sr. M. Pio X – Mến

Sa mạc được định nghĩa là những vùng hoang vu, cằn cỗi và hầu như không có sinh vật sinh sống.[1] Tuy nhiên, ở chính những nơi tưởng chừng thiếu sức sống, khô cằn và khắc nghiệt ấy, lại ẩn chứa một vẻ đẹp tuyệt vời của những dải cát mênh mông và những ốc đảo xanh tươi màu mỡ.[2] Trong Kinh thánh, sa mạc cũng gắn liền với những hình ảnh trái ngược. Nếu sa mạc là vùng đất khô cằn thì đó cũng sẽ trở thành vườn cây ăn trái (x. Is 32,15). Sa mạc biểu tượng nơi chết chóc nhưng đó cũng là chốn hồi sinh (x. Ds 16,13; Hs 2,5.16; 1V1,4-8). Sa mạc là nơi trút xả tội lỗi (x. Lv 16,21) nhưng đó cũng là chốn linh thiêng ghi dấu mặc khải, lề luật và giao ước (x. Xh 3,14; 20-24). Sa mạc nơi cô tịch hoang vắng nhưng cũng là chỗ gặp gỡ yêu thương “lòng kề lòng” giữa Thiên Chúa và con người (x. Hs 2,5.16). Trong vẻ đẹp nghịch lý và đa chiều của sa mạc, bài viết này chỉ giới thiệu khái quát về sa mạc qua một hướng nhìn đan tu như là một nơi chiến đấu, nơi “thổ lộ tâm tình” và là nơi kết ước.

  1. Sa mạc – nơi chiến đấu

Sa mạc biệt lập hoang vắng, nhưng lại có sức hấp dẫn tuyệt vời đối với các đan sĩ. Lịch sử Kitô giáo ghi nhận, vào thời Giáo hội không còn chịu bách hại, thì cũng là lúc đời sống đan tu phát triển mạnh mẽ nơi các vùng sa mạc. Nhiều người nhận thấy đời sống khắc khổ trong sa mạc có sự liên kết và thay thế cho việc tử đạo, nên đã tìm đến sa mạc để sống phúc tử đạo. Những người khác lại khao khát nên hoàn thiện, và như Chúa Giêsu được đầy Thần Khí dẫn vào sa mạc chịu ma quỷ cám dỗ (x. Lc 4,1-13), họ cũng tiến đến sa mạc chiến đấu để nên giống Chúa Giêsu. Nhưng họ chiến đấu điều gì?

Trong thinh lặng của 40 ngày sa mạc, Chúa Giêsu đã trải qua những cám dỗ, xuất phát từ những nhu cầu cơ bản, được khắc ghi ngay trong bản chất con người. Đó là những cái “đói” cốt lõi về lương thực, chức danh và quyền hành (x. Mt 4,1-11).[3] Trong hành trình 40 năm kinh qua sa mạc, dân Israel cũng bị chính những cái đói làm chùn bước, mặc dù Thiên Chúa luôn nuôi dưỡng, đồng hành, bao bọc họ bằng manna, nước uống … (x. Tv 77), nhưng dân vẫn phản loạn và day dứt hoài nghi: Đức Chúa có làm được gì cho chúng ta không? Người có thực sự ở giữa chúng ta không? (x. Xh 17,7). Hành trình sa mạc là cả một hành trình chiến đấu, dân chiến đấu để sinh tồn, chiến đấu để nhận ra sự hiện diện của Chúa. Cuộc chiến của dân Israel trong sa mạc và của Chúa Giêsu cũng không miễn trừ đối với các đan sĩ.

Với trải nghiệm sa mạc, các linh phụ đan tu cho biết, các đan sĩ phải chiến đấu với nhiều thứ mà thứ kinh khủng nhất là “con quỷ ban trưa” – một thứ quỷ làm nản lòng các đan sĩ, xúi giục họ chán ngán nơi mình đang ở, đời sống mình đang theo, những việc mình đang làm… và buông bỏ luôn cả việc chiến đấu nên hoàn thiện.[4] Song song với “quỷ ban trưa”, thánh Biển Đức còn xác nhận, họ “chiến đấu tay đôi với tính mê xác thịt và tư tưởng xấu” (TL1,5). Tính mê xác thịt được thánh Phaolô liệt kê bao gồm: “gian dâm, ô uế, phóng đãng, ngẫu tượng, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè phái, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, …”  (Gl 5,19-20), theo thánh Phaolô, những kẻ sống theo tính xác thịt thì không sống theo Thần Khí, không thuộc về Đức Kitô và không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa (x. Gl 5,16-26). Việc đan sĩ chiến đấu với “quỷ ban trưa”, với tính mê xác thịt và tư tưởng xấu cũng đồng nghĩa với việc họ phấn đấu, thanh luyện các tính ươn lười, ưa dễ dãi để trở nên tạo vật mới, con người mới trong Đức Kitô (x. 2Cr 5,17). Việc trở nên “con người mới” không phải là tác phẩm ngoạn mục được nhào nặn thành công trong một khoảnh khắc nào đó, nhưng là một tiến trình chiến đấu bền bỉ trải dài trong suốt cuộc đời. Do đó, ta có thể nói, đan sĩ là con người chiến đấu, và nếu nói, sa mạc là một nơi chiến đấu thì hiển nhiên cuộc đời người đan sĩ cũng là một sa mạc. Hiểu theo nghĩa này thì sa mạc không còn là nơi cằn cỗi theo tính chất vật lý, nhưng là những không gian cô tịch hay những khoảng lặng sâu lắng trong tâm hồn mỗi người – nơi Thiên Chúa “thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16).

  1. Sa mạc – nơi “thổ lộ tâm tình”

Để “thổ lộ tâm tình” Thiên Chúa đã chọn một nơi, nơi đó không đâu khác lại là sa mạc. Nếu sa mạc của chiến đấu mang đậm chất những nỗ lực cố gắng khát khao nên hoàn thiện của con người, thì đây, sa mạc nơi Thiên Chúa chọn để “thổ lộ” lại mang nỗi thao thức, kiếm tìm khắc khoải của Thiên Chúa: “Này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16). Tại sao Thiên Chúa cần “quyến rũ”?

“Quyến rũ” là một cách nói khác cho lời kêu gọi trở về. Câu chuyện hôn nhân gia đình của ngôn sứ Hôsê và Gômê vén mở nguyên do kinh ngạc mà Thiên Chúa cần quyến rũ. Hôsê cưới Gômê – người đàn bà làm điếm, sinh những đứa con đàng điếm và không chịu bỏ thói đàng điếm. Chính vì thói đàng điếm này mà Hôsê nhẫn nhục, tìm mọi cách để đưa Gômê trở về (x. Hs 1,2-8; 2,4-7; 3,1-3). Hình ảnh người chồng đáng thương, yêu vợ hết mực của Hôsê cho thấy một tình yêu tuyệt vời vô biên của Thiên Chúa dành cho dân. Giống Gômê, dân bất trung, dân phản bội biết bao lần, nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương tìm cách “quyến rũ”, tìm cách kêu gọi, thuyết phục đưa dân vào sa mạc để thì thầm những lời yêu thương tâm tình. Lời tâm tình của Chúa có sức biển đổi, làm cho sự bất trung trở thành tín trung, tình yêu cằn cỗi nay nên nồng nàn. Sa mạc từ đây không còn cô vắng quạnh hiu, nhưng đã bừng sáng niềm vui hy vọng. Sa mạc thành một nơi trở về để được chữa lành, trở về để tìm lại tình yêu và sức sống.

Trong Tu luật viết cho các đan sĩ, thánh Biển Đức cũng mở đầu bằng lời kêu gọi trở về: “Con ơi, hãy lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời cha hiền khuyên nhủ và thực hiện cho bằng được, để nhờ gắng công vâng phục, con trở về với Đấng con đã xa lìa vì ươn lười bất tuân” (TL. Lời Mở 1-2). Ơn gọi đan tu được khởi đầu bằng việc trở về (x. TL. Lời Mở 37-38), nói đúng hơn, bằng sự “quyến rũ” của Thiên Chúa: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con và Ngài đã thắng” (Gr 20,7). Việc Thiên Chúa quyến rũ ta chẳng phải vì ta xứng đáng, có chăng là vì ta bất tín, bất trung và ươn lười bất tuân? Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa yêu thương chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những tội nhân (Rm 5,8). Tình yêu có sức biến đổi lạ lùng, tội nhân cũng có thể trở thành thánh nhân, tội dù có đỏ như son cũng ra trắng như tuyết (x. Is 1,18). Tình yêu mang đến những điều kỳ diệu, tình yêu làm cho Thiên Chúa thao thức quyến rũ, đưa ta vào sa mạc để thổ lộ tâm tình (Hs 2,16). Chốn sa mạc tâm tình của người đan sĩ là một mình với Thiên Chúa duy nhất (Solus cum Deo solo)[5], là ora et labora – cầu nguyện và lao động, nơi chốn sa mạc này, người đan sĩ cũng bị thiêu đốt vì đói và vì khát, nhưng đói khát của đan sĩ là đói khát Chúa: “Con tìm kiếm Ngài, lạy Chúa…, con lục soát mọi góc, mọi ngõ ngách của lòng con …, khát vọng duy nhất của con, khát vọng cháy bỏng của con là được thấy Ngài.”[6] “Quả vậy, với người Chúa ban cho sự hiểu biết, thì Chúa cũng trao luôn khổ đau (x. Gv 1,18). Vâng, đây là khát khao cháy bỏng còn thiêu đốt chúng con mạnh hơn nữa là biết Chúa là ai… Ôi! Nếu chúng con có thể biết Chúa là ai để ôm gọn Chúa vào lòng, Chúa ơi!”[7] Dù cho khao khát của người đan sĩ có mạnh đến đâu, cũng chưa đủ lớn để ôm trọn cơn khát mãnh liệt, vĩ đại của Thiên Chúa trên thập giá (x. Ga 19,28).  Do vậy, việc biểu lộ những khao khát của đan sĩ hay việc “thổ lộ tâm tình” nơi sa mạc của Chúa cũng chưa phải là cái kết viên mãn của một tình yêu đẹp. Bất chấp những bất toàn dang dở nơi ta, Thiên Chúa còn muốn tiến xa hơn nữa, Ngài muốn thiết lập một “hôn ước vĩnh cửu” với con người.

  1. Sa mạc – nơi kết ước

 Với “hôn ước vĩnh cửu”, sa mạc trở thành nơi kết ước, thành bối cảnh hân hoan của tiệc cưới, thành khung trời yêu thương giữa Thiên Chúa và dân Người: “Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông, hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ, và hân hoan múa nhảy reo hò” (Is 35,1-2). Sa mạc hân hoan, sa mạc reo hò, sa mạc trổ hoa trong hôn ước: “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu, Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương” (Hs 2,21-22).

Hôn ước cũng như giao ước, đó là đỉnh cao và là dấu chỉ của một tình yêu tuyệt mỹ, vô điều kiện của Thiên Chúa với con người, bởi nếu nói, hôn ước là cam kết đôi bên với nhau về những điều mà mỗi bên sẽ thực hiện[8], thì con người lấy gì để thực hiện hôn ước với Thiên Chúa? Thiên Chúa vĩnh cửu (x. Xh 3,14) nên hôn ước của Người là vĩnh cửu. Con người hữu hạn được kết ước với Đấng vô hạn; con người bất tín được kết ước với Đấng Tín Trung (x. 2Tm 2,13), điều đó chỉ có “ân tình và xót thương” của Thiên Chúa mới làm cho khả thể. Cảm nghiệm được tình yêu ngọt ngào trong hôn ước của Thiên Chúa với con người qua việc viếng thăm của Ngôi Lời, thánh Bênađô ngập tràn hạnh phúc reo vui: “Ôi suối ngọt ngào, ôi nguồn ân sủng, ôi sức mạnh của tình yêu, làm sao Đấng cao cả hơn vạn vật đã trở nên một trong chúng ta! Ai đã làm tất cả những sự ấy nếu không phải là Tình Yêu, một Tình Yêu quên cả địa vị cao quý của mình, một Tình Yêu giàu lòng trắc ẩn, một Tình Yêu đậm đà nhân ái […]. Ôi còn gì mạnh mẽ hơn Tình Yêu!”[9]

Tình yêu kết hợp Thiên Chúa với con người và con người với Thiên Chúa, “ai kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (1Cr 6,17). Theo thánh Bênađô, đỉnh cao của việc linh hồn kết hợp nên một với Thiên Chúa là một cuộc kết giao huyền nhiệm với Ngôi Lời, đây là cuộc “hôn phối thiêng liêng, hôn phối thánh thiện”, một thứ “đồng hình đồng dạng của tình yêu  –  đồng nhất linh hồn với Ngôi Lời.”[10] Con người được biến đổi nhờ sự đồng nhất với Thiên Chúa, họ được trở nên giống Thiên Chúa trong mọi sự mà vẫn không ngừng là chính mình. Đó là điều tuyệt diệu của “hôn ước vĩnh cửu” – hôn ước tình yêu được Thiên Chúa thực hiện cho con người.

Lời kết

Sa mạc là nơi thanh vắng đưa ta về tìm lại vẻ đẹp nguyên sơ của chính mình (x. St 1,27). Sa mạc cho ta những khoảng lặng để lắng nghe và thổ lộ tâm tình với Chúa (x. Hs 2,16). Sa mạc mang lại những không gian trầm lắng để ta gặp gỡ và cảm nghiệm tình Chúa yêu thương. Ngôn sứ Êlia đã gặp gỡ Chúa trong khung cảnh thanh vắng của núi Khôrép (x. 1V 19,8-15). Thánh Gioan Tẩy Giả, thánh Phaolô và chính Chúa Giêsu cũng đã bắt đầu sứ vụ công khai của mình từ những ngày tĩnh lặng nơi sa mạc (x. Mt 3,1-2; Gl 1,15-17; Mt 4,1-10). Sa mạc là nơi tốt đẹp, mang nhiều vẻ đẹp – nơi mà nhiều người mong muốn có thể tìm được sức mạnh, xác định được hướng đi và đón nhận được nhiều ân sủng của Chúa cho hành trình tiếp theo của cuộc đời mình.

Sống trong một thế giới mà tiếng ồn xâm chiếm hầu như mọi không gian của cuộc sống, con người bị lôi cuốn chìm ngập trong thế giới ảo của các phương tiện truyền thông, chúng ta có còn biết trân quý những không gian tĩnh lặng và khám phá ra vẻ đẹp của những khoảng lặng trong ngày sống của chúng ta?

[1] Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2000, tr. 842.

[2] x. Theo định nghĩa về địa lý, ốc đảo là vùng đất biệt lập có thực vật trên sa mạc, thường hiện diện xung quanh một mạch nước hay nguồn nước ngầm (x. https://vi.wikipedia.org/wiki, truy cập ngày 11.11.2024, lúc 10h17’).

[3] x. Michel Hubaut, Les chemins du silence, éd. Desclées de Brouwer, 2006, tr. 101-103.

[4] Evagre thành Pont, Khảo luận thực hành, bản văn số 8, trích trong Giáo trình linh đạo đan tu I, Duyên Thập Tự Lê Văn Đoàn, tr. 200.

[5] x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Perfectae Caritatis (28.10.1965), số 7.

[6] Robert Thomas O. Cist, Les Mystiques Cisterciens, Guillaume de Saint Thierry, Contemplation de Dieu 4; 23,47, O.E.I.L, Paris, 1985, tr.188.

[7] x. Ibid., Isaac de l’Etoile, Sermon 21, tr. 53-55.

[8] x. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2000, tr. 415.

[9] De Cantiques 64,10.

[10] De Cantiques 83, 2-3.

 

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://www.pinterest.com/pin/832532681130329435/)

CÙNG CHUYÊN MỤC