danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (03) – VIỆC CẦU NGUYỆN CỦA HỘI THÁNH SƠ KHAI

Tác giả: FM. Giuse Phan Văn Phi

 

Từ buổi đầu của Hội thánh sơ khai, việc cầu nguyện đã trở thành điều quan trọng nhất. Quả thật, ngay sau khi Đức Giêsu Thăng Thiên, các Tông đồ trở lại phòng Tiệc ly ở Giêrusalem, và hoạt động đầu tiên của các ngài là “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu” (Cv 1,14).

Sách Công vụ Tông đồ cung cấp một dữ kiện lịch sử về vai trò quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống của các môn đệ. Trước hầu hết mọi sự kiện quan trọng, Hội thánh sơ khai luôn dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện, như trước ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và các dịp khác nữa (x. Cv 1,23-25).

Mặc dù sách Công vụ Tông đồ chỉ có 29 lần[1] đề cập đến sự cầu nguyện, nhưng chính cuốn sách này lại nói về việc cầu nguyện nhiều hơn bất kỳ cuốn sách nào khác trong Tân ước. Một trong những đặc điểm nổi bật của các tín hữu thời sơ khai là họ chú ý đến việc cầu nguyện. Đó chính là gương mẫu cho chúng ta nếu chúng ta muốn cải thiện đời sống của mình.

  1. Chuyên cần cầu nguyện

Ðức Maria và các Tông đồ đã cầu nguyện như thế nào? Các ngài đã “đồng tâm nhất trí (concorde; ὁμοθυμαδόν) và chuyên cần cầu nguyện”. Thánh Phaolô cũng khuyên các tín hữu hãy “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” với nhau, ngõ hầu họ “đồng tâm nhất trí” để tôn vinh Thiên Chúa (x. Cv 1,14) và “có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa” (Rm 15,5-6).

Ở nơi khác, sách Công vụ Tông đồ ghi lại việc chuyên cần cầu nguyện của Hội thánh: “Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo. Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,41-42).

Các Tông đồ cắt đặt bảy phó tế để phục vụ việc phân phát lương thực hằng ngày cho các bà góa trong nhóm họ bị bỏ quên. Điều quan trọng mà các Tông đồ phải giao phó công việc này, bởi vì các ngài không muốn bị phân tâm khỏi ơn gọi “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6,4).

Lời cầu nguyện của Mẹ Maria và của các Tông đồ còn cho thấy một đặc tính khác: đó là sự kiên trì. Từ ngữ kiên trì gốc Hy Lạp (proskartereo; προσκαρτερέω) diễn tả khía cạnh này của kinh nghiệm Kitô giáo, nhấn mạnh đến tính bền bỉ của hành động. Người ta có thể dịch là “những người kiên trì” cầu nguyện, hay “những người chuyên cần” cầu nguyện. Cũng có thể dịch là “bền bỉ bám chắc” vào cầu nguyện. Ðây là một từ ngữ quan trọng vì chúng được lặp đi lặp lại rất thường xuyên trong Tân ước khi nói về cầu nguyện. Nền tảng của giáo huấn này bắt nguồn từ chính Ðức Giêsu, với dụ ngôn bà góa quấy rầy (x. Lc 18,1).

Ðôi khi, sự kiên trì cầu nguyện làm nên một sự đảo ngược lạ lùng, nhất là đối với người có một đời sống thiêng liêng sâu xa và nghiêm túc, chúng ta nên biết điều này để không bỏ lỡ một cơ hội quý giá. Các vai bị đảo lộn thứ tự: Thiên Chúa trở thành kẻ cầu xin và bạn trở thành kẻ được cầu xin. Bạn bắt đầu cầu nguyện để xin một điều gì với Thiên Chúa và khi đang cầu nguyện, bạn nhận thấy rằng chính Thiên Chúa đưa tay ra và xin bạn điều gì đó. Trường hợp đảo lộn các vai trò tuyệt vời nhất, đó là Ðức Giêsu. Tại Vườn Cây Dầu, Ðức Giêsu xin Chúa Cha cất chén đắng khỏi mình. Chúa Cha đã xin Ðức Giêsu hãy uống chén đó, vì đó là điều cần phải làm để Chúa Cha có thể tìm lại được mọi người con khác.[2]

  1. Hành động qua lời cầu nguyện

Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta biết rằng, sau khi bị bắt vì đã chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ ở đền thờ Giêrusalem (x. Cv 3,1-10), Phêrô và Gioan được trả tự do (x. Cv 4,3) và đã đến gặp gỡ các anh em mình, tường thuật những gì đã xảy ra, sau đó, họ đồng tâm nhất trí cầu nguyện (x. Cv 4,23-24). “Họ cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển; ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu mạnh dạn nói lời Thiên Chúa” (Cv 4,31). Thánh Thần là sự hiệp thông; Đấng chính là mối dây hiệp nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa và trong Hội thánh. Ai ở ngoài sự hiệp nhất thì không thể lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Augustinô viết: “Linh hồn đối với thân xác chúng ta thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với Nhiệm Thể của Ðức Kitô là Hội thánh.”[3] Khi kết thúc bài giảng ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh nhân thật hữu lý với những lời như sau: “Vậy, nếu các bạn muốn đón nhận Thánh Thần, thì các bạn hãy bảo toàn đức ái, mến mộ sự thật và khát khao sự hiệp nhất.”[4]

Thái độ của các Kitô hữu tiên khởi trước sự nguy hiểm, khó khăn, đe dọa, là không cố gắng phân tích hay phản ứng, nhưng họ luôn cầu nguyện, tiếp xúc mật thiết với Thiên Chúa. Lời cầu nguyện này thể hiện đặc tính đồng tâm nhất trí của toàn thể cộng đoàn, khi phải đối diện với một hoàn cảnh bị bách hại vì Danh Đức Giêsu. Sự đồng tâm nhất trí này là yếu tố quan trọng của cộng đoàn tiên khởi, và cũng luôn luôn là điều căn bản của Hội thánh. Khi ấy, nó không những chỉ là lời cầu nguyện của thánh Phêrô và thánh Gioan nữa, nhưng còn của cả cộng đoàn, vì kinh nghiệm của hai Tông đồ không còn là của riêng các ngài nữa, nhưng là kinh nghiệm của toàn thể Hội thánh. Trong bản Hy lạp nguyên thủy, thánh Luca đã sử dụng thuật ngữ “tất cả cùng nhau; đồng tâm nhất trí” (homothumadon; ὁμοθυμαδόν), một thuật ngữ cũng xuất hiện trong các phần khác của sách Công vụ Tông đồ, để nhấn mạnh về lời cầu nguyện kiên trì và hiệp nhất này (x. Cv 1,14; 2,46).[5]

Đối diện với cuộc bách hại vì Danh Đức Giêsu, cộng đoàn không những không sợ hãi và không bị phân mảnh, nhưng hiệp nhất một cách sâu xa trong cầu nguyện, họ hành động như một người kêu cầu cùng Chúa. Đây chính là phép lạ đầu tiên xảy ra khi các tín hữu bị thử thách vì đức tin của mình: sự hiệp nhất được gia tăng vì được hỗ trợ bằng việc chuyên cần cầu nguyện. Hội thánh trải qua những cơn bách hại, nhưng luôn tín thác vào Chúa. Họ đã không xin Thiên Chúa một sự an toàn cho sự sống trước cơn bách hại, hoặc xin Thiên Chúa trả thù những kẻ đã bắt giữ các Tông đồ, nhưng chỉ xin Thiên Chúa cho phép họ được nói lời Chúa với tất cả sự mạnh dạn (x. Cv 4,29).

Xuyên suốt sách Công vụ Tông đồ, việc cầu nguyện là một phương thế để thực hiện thánh ý Chúa. Trong mọi hoàn cảnh xảy ra, Hội thánh đã đồng tâm dâng lời cầu nguyện (x. Cv 1,14; 2,3; 8,15). Điều đáng chú ý nhất là sự hoán cải của Saolô. Trong khi Stêphanô chịu tử đạo vì đức tin, ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (Cv 7,60). Lời cầu nguyện trên đây của Stêphanô có lẽ bao gồm cho cả Saolô nữa, một người đang có mặt tại cuộc hành quyết đó. Sau lời cầu nguyện này là sự hoán cải của Saolô trên đường đến Đamát.

Trong khi các Tông đồ gặp thử thách, Thiên Chúa đã đáp lại những lời cầu nguyện để giải cứu các ông. Điều này chứng tỏ sức mạnh tuyệt vời của lời cầu nguyện trong việc tác động đến hoàn cảnh của các anh chị em bị bách hại vì Chúa Kitô.

Phần kết

Chúng ta biết được tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống của các tín hữu thời sơ khai. Trong thời đại hôm nay, chúng ta không thể xem nhẹ nhu cầu tiếp tục chuyên cần cầu nguyện. So với Hội thánh sơ khai, ngày nay Hội thánh đã có trọn bộ Kinh thánh, để qua đó các thánh đã sáng tác và lưu truyền cho chúng ta các truyền thống và cách thức cầu nguyện khác nhau, rất là phong phú.

Việc cầu nguyện luôn nâng đỡ các tín hữu. Họ luôn nhận ra rằng lời cầu nguyện quan trọng như không khí họ hít thở. Nếu không cầu nguyện, đời sống tâm linh sẽ bị khô héo và chết dần, cũng như không thể coi mối tương giao nào với Thiên Chúa là khả thi nếu không có sự kết hiệp cầu nguyện thường xuyên tích cực. Mục sư Martin Luther King đã viết rằng: “Mặc dù bản thân tôi tội lỗi và bất xứng, nhưng tôi vẫn nhận được lệnh truyền của Thiên Chúa, Đấng dạy tôi cầu nguyện, và lời hứa của Người, rằng Người luôn nhân từ lắng nghe tôi, không phải vì tôi xứng đáng, nhưng vì nhờ Đức Giêsu Kitô.”

[1] Trong sách Công vụ Tông đồ có 29 lần đề cập đến sự cầu nguyện: x. Cv 1,14.24; 2,42; 3,1; 4,31; 6,4.6; 8,15.22.24; 9,40; 10,2.4.9.30.31.48; 11,5; 12,5.12; 13,3;14,23; 16,13.16.25; 20,36; 21,5; 22,17; 28,8.

[2] Cf. Raniero Cantalamessa, Maria. Uno specchio per la Chiesa, Ancora; 5° edizione (17 aprile 2018), pp. 183-201.

[3] S. Agostino, Sermons, 267,4 (PL 38,1231); Discorso 72 A (= Denis 25), 7 (Miscellanea Agostiniana, I, p. 162);

[4] S. Agostino, La santa verginità, 5-6 (PL 40, 399); S. Agostino, Sermons, 267,4 (PL 38,1231).

[5] Cf. Benedetto XVI, L’uomo in preghiera, Libreria Editrice Vaticana, 2013; A School of Prayer: The Saints Show us How to Pray, Ignatius Press (January 30, 2013), p. 234; Cầu nguyện, chuyển ngữ: Giuse Phan Văn Phi, O.Cist., Nxb Đồng Nai, 2019, tr. 266-267.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://truthinpalmyra.wordpress.com/2015/09/17/churches-that-start-in-the-wrong-place-or-stop-trying-to-be-like-the-early-church/)

CÙNG CHUYÊN MỤC