danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (04) – CẦU NGUYỆN – SỨ VỤ CỦA ĐAN SĨ

Tác giả: M. Phaolô Thánh Giá Bùi Văn Dư

 

Cầu nguyện là bản năng của con người. Văn sĩ Tertulianô đã từng nói: “Cầu nguyện là bản năng của thụ tạo: ngay cả chim chóc cũng biết cầu nguyện nữa.”[1] Dù có tôn giáo hay không, khi gặp khó khăn, bế tắc trong cuộc sống, con người vẫn mong có một thế lực siêu nhiên đến cứu giúp; khi sống an vui, con người muốn tạ ơn trời đất, đó là niềm tin của người bình dân. Khoa khảo cổ học ngày nay đã khám phá ra những bức tranh trên vách đá trong những hang động thời tiền sử có những hình ảnh con người quỳ gối, chắp tay biểu hiện sự cầu nguyện. Vì thế, người ta cho rằng cầu nguyện có thể xuất hiện trước khi có tôn giáo. Không có tôn giáo nào là không có cầu nguyện. Cầu nguyện là nhịp sống của mỗi tôn giáo, nên nói đến tôn giáo là nói đến cầu nguyện. Nói cách khác, cầu nguyện là bản chất và là yếu tố nòng cốt của mỗi tôn giáo, và Giáo hội Công giáo cũng thế, tất cả mọi Kitô hữu đều phải cầu nguyện.

Trong Giáo hội Công giáo vẫn có những tu sĩ dành trọn cuộc đời cho việc cầu nguyện. Đó chính là các đan sĩ. Họ là những nhà chiêm niệm, những người được Đức Giáo hoàng Phaolô VI đặt cho biệt danh là “chuyên viên cầu nguyện”. Vậy Huấn quyền của Giáo hội nói gì về vai trò cầu nguyện của đan sĩ trong lòng Giáo hội?

Để  trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng tìm hiểu các văn kiện Công đồng Vaticanô II, các giáo huấn của các Đức Giáo hoàng gần đây và Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến.  

1. Cầu nguyện, yếu tố tạo nên đời tu

Cầu nguyện chiêm niệm là yếu tố cốt lõi của đời sống tu trì. Tất cả các tu sĩ đều phải lấy cầu nguyện làm trọng và thực hành cầu nguyện như nghĩa vụ thiết yếu của đời tu. Tại sao vậy? Bởi mục đích của đời tu là sống kết hiệp với Thiên Chúa như Giáo luật thiết định: “Chiêm ngắm thực tại của Thiên Chúa và kết hợp liên lỉ với Ngài phải là bổn phận hàng đầu và chính yếu của mọi tu sĩ.”[2] Từ đó Sắc lệnh Đức Ái Hoàn Hảo viết rằng: “Hoạt động của các tu sĩ phải được xuất phát từ đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, nhờ đó, chính đức mến Chúa yêu người được triển nở.”[3] Con đường kết hiệp ấy không gì khác hơn là cầu nguyện và chiêm niệm. Vì thế Công đồng Vaticanô II khuyên: “Các tu sĩ của các Hội dòng phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và cả sự cầu nguyện, múc ở nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo.”[4]

Để tái khẳng định điều này và phản ứng lại những khuynh hướng đánh giá thấp việc cầu nguyện và quá đề cao khía cạnh hoạt động của các tu sĩ, Bộ Tu sĩ đã công bố hai văn kiện quan trọng về đời tu vào năm 1980: Tu Sĩ Và Việc Thăng Tiến Con NgườiChiều Kích Chiêm Niệm Của Đời Tu. Hai văn kiện này đại diện cho hai khuynh hướng cầu nguyện và hoạt động của dòng tu trong Giáo hội. Chúng không tách biệt cũng như không đối chọi, trái lại cùng nêu bật sự hỗ tương của hai chiều kích cầu nguyện và hoạt động không thể thiếu trong đời sống dâng hiến. Về khía cạnh cầu nguyện và chiêm niệm, văn kiện Chiều Kích Chiêm Niệm Của Đời Tu đã khẳng định rõ: “Trong chính bản chất của đời thánh hiến, chiêm niệm chính là cội rễ thâm sâu nuôi dưỡng và hiệp nhất tất cả mọi biểu lộ hiện hữu của các tu sĩ nam nữ.”[5] Không dừng lại ở đó, tài liệu nhấn mạnh tiếp: “Kinh nguyện là hơi thở không thể thiếu cho mọi chiều kích chiêm niệm “trong giai đoạn canh tân Tông đồ hiện tại, cũng như trong bất cứ dấn thân hoạt động truyền giáo nào; vị thế đặc biệt phải được dành cho sự chiêm ngắm Thiên Chúa, suy niệm về chương trình cứu độ của Người và suy tư về các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Phúc âm, nhờ đó việc cầu nguyện được nuôi dưỡng và tăng trưởng về phẩm chất cũng như về nhịp độ” (LH 16).[6]

Nắm bắt được tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời tu qua dòng lịch sử cũng như qua kinh nghiệm tâm linh và suy tư thần học, thánh Gioan Phaolô II khẳng định: “Trong truyền thống Kitô giáo, chiêm niệm luôn luôn được dành cho một vị trí nổi bật như cách diễn tả cao nhất của đời sống tâm linh và là chóp đỉnh của tiến trình cầu nguyện. Việc chiêm niệm mang một ý nghĩa tròn đầy cho đời tu, dù dưới hình thức nào đi nữa, như là kết quả của sự thánh hiến đặc biệt do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm. Do hiệu năng của việc thánh hiến này, đời tu là một đời sống cầu nguyện và chiêm niệm (và không thể khác đi được), kể cả khi chiều hướng linh đạo hoặc thời khoá biểu không dành trót thời gian vào việc cầu nguyện”[7]. Kết hợp với giáo huấn của Công đồng Vaticanô II, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết tiếp: “Vì thế Công đồng khẳng định: “Tu sĩ của bất cứ Hội dòng nào, trong lúc chỉ tìm một Thiên Chúa trên hết mọi sự, đều phải liên kết việc chiêm niệm với nhiệt tâm Tông đồ: vì nhờ chiêm niệm, họ kết hợp lòng trí với Thiên Chúa, và nhờ nhiệt tâm Tông đồ, họ tham gia công cuộc cứu chuộc và mở rộng Nước Chúa” (DT 5). Như vậy, Công đồng nhấn mạnh rằng việc chiêm niệm không chỉ đặt ra cho các Hội dòng thuần tuý chiêm niệm, mà còn cho tất cả các Hội dòng, kể cả những dòng dấn thân cho những hoạt động Tông đồ. Nhiệm vụ cầu nguyện thật là cốt yếu cho Đời sống Thánh hiến.”[8]

Mục đích của đan sĩ là “Quarere Deum” – tìm kiếm Thiên Chúa trong cô tịch nơi sa mạc hay trên rừng vắng. Trong sự cô tịch ấy, người đan sĩ không phải dành thời gian để ngủ, để né tránh sự đời hay tìm sự an nhàn cho bản thân mà là để cầu nguyện và chiêm niệm tìm kiếm Thiên Chúa. Có lẽ vì muốn cuộc đời đan sĩ được bao bọc bởi cầu nguyện nên thánh Biển Đức đã dành phần lớn Tu luật 12 chương trong 73 chương (8-20) để nói về cầu nguyện (thần vụ). Ngài đã hiện thực hoá mệnh lệnh của Tân ước “hãy cầu nguyện không ngừng”, hay “cầu nguyện liên lỉ” (1Tx 5,17; x. Lc 21,36) bằng việc thiết kế chương trình sống của đan sĩ dựa trên việc đọc Sách Thánh và tám giờ kinh phân bố đều theo từng khoảnh khắc của ngày sống (Kinh Đêm, Kinh Sáng, giờ I, giờ III, giờ VI, giờ IX, Kinh Chiều, Kinh Tối[9], vượt xa hơn đòi hỏi của  Thánh vịnh: “Con ca tụng Chúa mỗi ngày bảy lượt” (Tv 118,164). Tám giờ kinh ấy là nguồn gốc phát triển Phụng vụ các giờ kinh mà ngày nay mọi người đang sử dụng.[10]

Như thế, Đời sống Thánh hiến luôn gắn liền với cầu nguyện và chiêm niệm. Không có cầu nguyện sẽ không có đời tu. Nhưng khác với các dòng hoạt động, các dòng chiêm niệm vẫn được Công đồng Vaticanô II đánh giá là những Hội dòng “giữ một địa vị cao quý trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, trong đó, mỗi chi thể đều có một tác động khác nhau” (x. Rm 12,4).[11] Vậy “địa vị” ấy là gì?

2. Đan sĩ, hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện

Tiền thân của Kitô giáo là Do thái giáo, một tôn giáo đề cao về cầu nguyện. Các tín đồ Do thái giáo dành rất nhiều thời gian cho cầu nguyện, đặc biệt trong ngày Sabat. Chúa Giêsu được sinh ra trong bối cảnh văn hoá và tôn giáo này, nên Người cũng thừa hưởng gia sản cầu nguyện từ nền giáo dục của Do thái giáo, một nền giáo dục tôn giáo coi cầu nguyện như là nhịp thở của đời sống. Tin mừng đã ghi nhận nhiều lần Chúa Giêsu cầu nguyện. Người đã cầu nguyện trong từng biến cố và mọi phút giây của cuộc sống. Khi tràn đầy Thánh Thần thì Người cầu nguyện: “Lạy Cha, con tạ ơn Cha”;  khi cần gặp Chúa Cha, Người lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện; khi chọn các Tông đồ, Người cầu nguyện suốt đêm; khi lo sợ, Người lặng lẽ một mình cầu nguyện trong vườn Cây Dầu.

Đời sống của tu sĩ nói chung và của đan sĩ nói riêng được mời gọi là trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Công đồng Vaticanô II, trong hiến chế Ánh sáng Muôn dân đã khẳng định: “Bậc sống tu trì bắt chước chính xác hơn và thực hiện liên tục trong Giáo hội nếp sống mà Con Thiên Chúa đã chấp nhận khi Người xuống thế để thi hành thánh ý Chúa Cha và cũng là nếp sống mà Người đã đề ra cho các môn đệ theo Người”.[12] Tiếp nối tư tưởng “đồng hình đồng dạnh với Đức Kitô” của Công đồng Vaticanô II, Tông huấn Đời sống Thánh hiến đã khai triển và làm nổi bật mục đích của tu sĩ là trở nên hình ảnh sống động của Đức Kitô. Tông huấn trình bày tiếp: “Quả thế, qua việc tuân giữ các lời khuyên Phúc âm, người được thánh hiến không chỉ bằng lòng với việc đã chọn Đức Kitô làm ý nghĩa đời mình, nhưng còn tìm cách diễn lại nơi chính mình, trong mức độ có thể, “nếp sống Con Thiên Chúa đã sống khi xuống thế làm người.”[13] Nếp sống ấy không phải tự tu sĩ phát kiến mà là nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy và lời mời gọi thiết tha của Chúa Giêsu, như Tông huấn trình bày: “Nhờ Thánh Thần thúc đẩy, đời thánh hiến “họa lại cách chính xác và thực hiện liên tục trong Giáo hội” lối sống mà Đức Giêsu, Đấng đầu tiên được Chúa Cha thánh hiến và sai đi phục vụ Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu mời các môn đệ đi theo Người cũng sống như Người đã sống (x. Mt 4,18-22; Mc 1,16-20; Lc 5,10-11; Ga 15,16).[14]

Điều này đã được thánh Phaolô sống và cảm nghiệm trong chính con người của Ngài: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Hoặc: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,10).

Việc trở nên giống Đức Kitô không dựa trên cảm tính hay những yếu tố bên ngoài mà là sự thay đổi tận căn của con người tu sĩ. Do đó, Tông huấn Đời sống Thánh hiến nêu rõ: “Trong Đời sống Thánh hiến, vấn đề không phải chỉ là theo Chúa Kitô với con tim, bằng cách yêu mến Người hơn cha mẹ mình, hơn con trai hay con gái mình (x. Mt 10,37), như mỗi môn đệ đều phải làm, nhưng còn là sống và diễn tả điều đó bằng việc biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.”[15] Như thế, đời sống tu sĩ hoạ lại hình ảnh Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, không ai có thể trở nên trọn vẹn hình ảnh của Đức Giêsu, có chăng chỉ có thể làm nổi bật được một khía cạnh nào về Người. Nói cách khác, mỗi ơn gọi tu trì là một bông hoa trong khu vườn Giáo hội – thân thể của Đức Kitô. Mỗi bông hoa ấy biểu lộ một khía cạnh nào đó về con người của Chúa Giêsu. Điều này được Hiến chế Tín lý về Giáo hội xác định: “Các tu sĩ … qua chính con người của họ, ngày càng thực sự giới thiệu Đức Kitô cách hoàn hảo hơn cho các tín hữu cũng như cho lương dân, hoặc là Đức Ki-tô đang chiêm niệm trên núi, hoặc đang loan báo Nước Thiên Chúa cho dân chúng, đang chữa lành những kẻ đau yếu tàn tật, hay hoán cải các tội nhân trở lại với cuộc sống thiện hảo, hoặc đang chúc phúc cho trẻ em, thi ân cho mọi người, và trong mọi sự luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người đến.”[16]

Giáo hội đã chân nhận đời sống đan sĩ trong khía cạnh “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” khi Người cầu nguyện trên núi. Tông huấn Đời sống Thánh hiến xác định: “Các dòng hoàn toàn sống đời chiêm niệm, gồm những người nữ hoặc nam, là một lý do hãnh diện cho Giáo hội và một nguồn mạch đưa lại những ân sủng thiên quốc. Nhờ nếp sống và sứ mạng của họ, những phần tử thuộc các dòng ấy bắt chước Đức Ki-tô cầu nguyện trên núi”[17]. Trong số 14 của Tông huấn cũng viết: “Có cả một truyền thống thiêng liêng cổ xưa… truyền thống nối kết đời sống chiêm niệm với việc Đức Giêsu cầu nguyện ở trên núi”[18]. Đặc biệt, Tông huấn xác quyết rằng: “Các tu sĩ nam nữ hoàn toàn hiến mình cho đời sống chiêm niệm là hình ảnh đặc biệt của Đức Kitô cầu nguyện trên núi.”[19]

Về khía cạnh lịch sử, ý tưởng trở nên giống Chúa Giêsu cầu nguyện trên núi đã xuất hiện và lưu truyền từ xa xưa nơi các linh phụ sa mạc, chẳng hạn như Gioan Cassianô viết: “Người một mình tới chỗ thanh vắng trên núi để cầu nguyện, Người làm gương đi tới chỗ thanh vắng cho chúng ta để chúng ta cũng đi tới chỗ thanh vắng.”[20] Thánh Giêrônimô khuyên các môn đệ của mình: “Hãy tìm Đức Giêsu nơi thanh vắng và hãy một mình với Người trên núi.”[21]

Như thế, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu cầu nguyện trên núi là khuôn mẫu mà đan sĩ cần đạt đến. Càng cầu nguyện, đan sĩ càng kín múc nguồn mạch sự sống và càng làm sáng lên gương mặt của Đức Giêsu đang cầu nguyện ở mọi nơi mọi lúc: trên đường rao giảng, trên núi Tabor, trong nhà Tiệc ly hay ở vườn Cây Dầu. Ơn gọi làm đan sĩ là cầu nguyện và cầu nguyện mới làm nên đan sĩ.

3. Cầu nguyện, sứ vụ của đan sĩ

Như đã trình bày ở trên, ơn gọi đan sĩ là trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Điều này gợi cho chúng ta nhớ đến một nhân vật rất đặc biệt trong Cựu ước, đó là Môsê, ông đã cầu nguyện trên núi trong khi dân Israel giao tranh với quân Amaléc. Chính nhờ sự cầu nguyện của ông mà dân Israel chiến thắng quân thù. Kinh thánh ghi lại: “Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận, còn khi ông hạ tay xuống một chút, thì người Amalec thắng thế. Bấy giờ tay ông Môsê mỏi mệt, người ta liền khiêng tảng đá kê cho ông ngồi, còn ông Aaron và ông Hur thì nâng đỡ hai tay ông” (Xh 17,12).

Hình ảnh này thật phù hợp để diễn tả sứ vụ của đan sĩ trong tiến trình trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Môsê tượng trưng cho đan sĩ; quân Israel đang giao chiến tượng trưng cho nhân loại đang lữ hành trên dương thế. Môsê giơ tay cầu nguyện thì dân Israel chiến thắng; đan sĩ cầu nguyện sẽ mang lại những nguồn mạch ơn phúc vô biên cho Giáo hội và toàn thế giới. Đó là điều mà Công đồng Vaticanô II đã tuyên dương: “Định chế của đời đan tu qua bao thế kỷ đã tạo được nhiều công nghiệp hiển hách cho Giáo hội và cộng đồng nhân loại.”[22] Như thế, cầu nguyện là sứ vụ cao quý mà đan sĩ góp phần vào gia tài của Giáo hội: “Những người được kêu gọi để chuyên về đời sống chiêm niệm được nhìn nhận như một trong những kho tàng quý báu nhất của Giáo hội.”[23]

Đời sống cầu nguyện thật tuyệt vời, một đời sống ở gần bên Chúa, ngồi bên chân Chúa để lắng nghe như cô Maria đã từng làm, để dâng lên Chúa lời ca tụng và tôn thờ Ngài với cả thân xác lẫn con tim không chia sẻ. Đó là lí do đời sống đan tu được đánh giá cao vì đan sĩ mang trong mình những “nén bạc” cầu nguyện, dành trọn cuộc đời để thờ phượng Thiên Chúa trong từng giây phút của cuộc sống, tất cả cho Thiên Chúa, trong Thiên Chúa và với Thiên Chúa. Khía cạnh này được thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II diễn tả: “Nhờ một đoàn sủng đặc biệt, họ (các đan sĩ) “đã chọn phần tốt hơn” (x. Lc 10,42), phần cầu nguyện, thinh lặng chiêm niệm, tình yêu dành hẳn cho Thiên Chúa và hoàn toàn hiến thân phụng sự Người… Giáo hội rất mong đợi nơi họ sự đóng góp thiêng liêng này.”[24] Nơi khác Ngài khẳng định: “Chúng ta biết rằng ngày nay cũng như trong quá khứ, có những Hội dòng “hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm” (DT 7). Họ giữ một chỗ đứng riêng trong đời sống Giáo hội, dù ý thức “sự khẩn thiết của hoạt động Tông đồ” trong thế giới hôm nay. Đó là sự nhìn nhận cách cụ thể lời của Chúa Kitô nói đến điều “cần thiết duy nhất”… mà Maria đã chọn.”[25] Hình ảnh Maria trở nên biểu tượng cho người đan sĩ ngồi bên chân Chúa.

Từ những trình bày trên giúp chúng ta hiểu rằng, cầu nguyện giữ một vai trò quan trọng của đan sĩ. Đó là lí do Công đồng Vaticanô II đã quyết định giữ nguyên sứ vụ cầu nguyện đặc biệt này của đan sĩ và coi đó là địa vị cao quý trong nhiệm thể của Chúa Kitô mà các đan sĩ nắm giữ và phải duy trì. Trong số 7 của Sắc lệnh Đức Ái Hoàn Hảo, Công đồng Vaticanô II quả quyết: “Trong những Hội dòng hoàn toàn chuyên lo chiêm niệm, các tu sĩ chỉ nhất tâm phụng sự một mình Thiên Chúa trong cô tịch và lặng lẽ, trong việc chuyên lo cầu nguyện và hân hoan hãm mình, thì cho dù nhu cầu hoạt động Tông đồ có khẩn thiết đi nữa, những Hội dòng ấy vẫn luôn giữ một địa vị cao quí trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, trong đó, “mỗi chi thể đều có một tác động khác nhau” (Rm 12,4). Thực vậy, họ dâng lên Thiên Chúa hy lễ chúc tụng tuyệt hảo, làm vẻ vang dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho dân ấy thêm lớn mạnh bằng việc Tông đồ tuy âm thầm nhưng phong phú. Như thế, họ là vinh dự của Giáo hội và là mạch tuôn trào các ơn thiêng.”

Không còn lời nào đẹp hơn và có thể tóm kết trọn vẹn về đời sống của đan sĩ như những lời này của Công đồng. Giáo hội đã gọi các đan sĩ là vinh dự của mình và là mạch tuôn trào các ơn thiêng. Các đan sĩ sống đời cầu nguyện âm thầm, lặng lẽ chìm sâu vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong từng giây phút của cuộc đời. Gặp gỡ Thiên Chúa, gắn kết với Người, tôn thờ Người, chuyển cầu cho toàn nhân thế và dâng hiến trọn vẹn xác hồn cho Thiên Chúa như của lễ tinh tuyền, đó là những hoạt động để đan sĩ trở thành mạch tuôn trào các ơn thiêng. Trong số 9 của Sắc lệnh này, Công đồng Vaticanô II tái khẳng định rõ hơn: “Nhiệm vụ của các đan sĩ là dâng lên Thiên Chúa uy nghi việc phục vụ khiêm tốn nhưng cao quý trong phạm vi đan viện, hoặc hoàn toàn hiến thân phụng thờ Thiên Chúa trong đời sống ẩn dật.” Đây là quan điểm của huấn quyền về đời sống đan tu, sau này, tất cả các tài liệu đều dựa vào đó để trích dẫn cho những suy tư về ơn gọi chiêm niệm.

Không phải vì sự nhiệm nhặt hay vì tuổi đời của nếp sống đan tu đã có từ thế kỷ thứ IV mà Giáo hội xem trọng ơn gọi chiêm niệm, nhưng là bởi đời sống cầu nguyện của đan sĩ. Đời sống này đã tham gia vào một trong hai đặc tính của Giáo hội, đó là đặc tính chiêm niệm. “Thực vậy, do tự bản chất, Giáo hội mang đặc tính “vừa nhiệt thành trong hoạt động, lại vừa hiến mình cho chiêm niệm đến độ trong đó yếu tố nhân loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh, thực tại hữu hình quy hướng về thực tại vô hình, hoạt động hướng về chiêm niệm”[26]. Vì tầm quan trọng và sự thiết yếu của khía cạnh cầu nguyện trong ơn gọi làm đan sĩ, nên thánh Gioan Phaolô II đã không tiếc lời ca ngợi: “Giáo hội cần sự cầu nguyện của những nhà chiêm niệm để được lớn lên trong sự kết hiệp với Đức Kitô và lãnh nhận những ân sủng cần thiết cho việc bành trướng trong thế giới. Vì thế những nhà chiêm niệm, những đan sĩ và các đan viện kín cũng là những chứng nhân cho sự ưu tiên mà Giáo hội dành cho cầu nguyện, và là những chứng nhân về sự trung thành mà Giáo hội muốn gìn giữ câu trả lời của Đức Giêsu dành cho Marta về “phần tốt nhất” mà Maria đã chọn.”[27] Như thế, cầu nguyện không chỉ là con đường kết hiệp với Thiên Chúa mà còn là một chứng tá có sức mạnh truyền giáo lớn lao.

4. Cầu nguyện, con đường truyền giáo của đan sĩ

Khi nói về truyền giáo nhiều người thường nghĩ đến các tu sĩ dòng hoạt động hay những linh mục quản xứ nhiều hơn là các đan sĩ sống trong nội vi đan viện. Tuy nhiên, ít ai biết rằng sức mạnh của việc truyền giáo lại bắt nguồn từ đời sống cầu nguyện, một hoạt động chiếm vị trí số một của đời đan sĩ. Thực vậy, Công đồng Vaticanô II nhìn nhận: “Các đan sĩ dâng lên Thiên Chúa hy lễ chúc tụng tuyệt hảo, làm vẻ vang dân Thiên Chúa bằng những hoa trái thánh thiện dồi dào, lấy gương lành lôi cuốn và làm cho dân ấy thêm lớn mạnh bằng việc Tông đồ tuy âm thầm nhưng phong phú.”[28] Giáo hội đã thiết định yếu tố này bằng khoản Giáo luật số 673: “Việc Tông đồ của mọi tu sĩ trước hết hệ tại ở chứng tá Đời sống Thánh hiến của họ mà họ có bổn phận phải gìn giữ bằng lời cầu nguyện và bằng việc sám hối.”

Trong ý hướng đó, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã giải thích: “Nên lưu ý rằng những Hội dòng chiêm niệm trong Giáo hội có một chức năng Tông đồ. Thật vậy, cầu nguyện là một việc phục vụ Giáo hội và các linh hồn. Cầu nguyện phát sinh “những hoa trái thánh thiện dồi dào” (DT 7) và mang lại cho Dân Chúa “một thứ phong phú Tông đồ huyền diệu” (DT 7). Trên thực tế, chúng ta biết rằng những nhà chiêm niệm cầu nguyện và sống cho Giáo hội, và nhờ họ mà Giáo hội nhận được những ân huệ và giúp đỡ cần thiết để đứng vững và bành trướng, còn hơn là kết quả đạt được nhờ hoạt động.”[29]

Cha Tổ phụ Henri Denis Biển Đức Thuận đã cảm thấu được sự hữu hiệu và giá trị cao quý của việc truyền giáo bằng đời sống âm thầm cầu nguyện. Mặc dù, ngài được đào tạo trong ơn gọi truyền giáo thuộc Hội Thừa Sai Paris (Missions étrangères de Paris – MEP), đã có nhiều kinh nghiệm trong những năm làm mục vụ, và đạt được nhiều kết quả nhưng ngài nhận thấy cầu nguyện mới là việc truyền giáo đích thực và hữu hiệu hơn. Đó là lý do ngài xin Đức cha Allys cho phép lập một dòng nam chiêm niệm để cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, cho những người chưa nhận biết Chúa. Dòng đã ra đời với tên Đức Bà An Nam. Đây là tiền thân của Hội dòng Xitô Thánh Gia ngày nay.

Cha Tổ phụ muốn đan sĩ rao giảng lời Chúa bằng hành động chứ không bằng lời nói, bằng cuộc sống chứ không phải bằng lý thuyết, bằng gương lành chứ không bằng những lời sáo rỗng, như câu ngạn ngữ La tinh có câu: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Thật vậy, càng trở nên giống Chúa Giêsu, sức lôi cuốn và việc truyền giáo của đan sĩ càng trở nên mạnh mẽ. Tông huấn Đời sống Thánh hiến minh định như sau: “Trong cô tịch và thinh lặng, bằng việc lắng nghe Lời Thiên Chúa, cử hành phụng vụ, khổ chế cá nhân, kinh nguyện, hãm mình và hiệp thông vào tình yêu huynh đệ, họ hướng toàn thể đời sống và toàn thể sinh hoạt vào việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Như thế họ cống hiến cho cộng đồng Giáo hội một chứng tá độc đáo về tình yêu của Giáo hội dành cho Chúa, và góp phần với sức phong nhiêu Tông đồ huyền diệu vào sự tăng trưởng của Dân Thiên Chúa.” [30]

Trong Tông huấn Chứng Tá Phúc âm (Evangelica testificatio), thánh Phaolô VI đã khuyến khích và đề cao nếp sống đan tu. Ngài chỉ cho đan sĩ thấy con đường kết hiệp với Thiên Chúa bằng cách trung thành với đoàn sủng cầu nguyện, Ngài kết luận: “Như thế các con sẽ cộng tác vào việc mở rộng Nước Thiên Chúa nhờ chứng tá của đời sống chúng con và nhờ việc Tông đồ tuy âm thầm nhưng phong phú.”[31]

Sứ vụ truyền giáo của người đan sĩ bằng cầu nguyện được Bộ tu sĩ gọi là Mầu nhiệm Tông đồ của các Hội dòng chiêm niệm. Mầu nhiệm Tông đồ này được diễn tả bằng đời sống chứng nhân của người đan sĩ, thật giống với lời của thánh Phaolô VI: “Con người ngày này tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy, nếu họ tin vào thấy dạy thì thầy dạy chính là chứng nhân.”[32] Tài liệu của Bộ tu sĩ viết: “Đời sống của các Hội dòng này, một cách thức chuyên biệt để sống và diễn tả mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, là chết để được sống” (Venite seorsum I), chính là một mầu nhiệm đặc biệt của ơn thánh, diễn tả diện mạo thánh thiện nhất của Giáo hội, “cộng đoàn cầu nguyện” đã cùng với Đấng Lang Quân mình là Đức Giêsu Kitô chịu sát tế vì tình yêu, vì vinh quang Chúa Cha và vì ơn cứu độ của thế giới. Do đó, đời sống chiêm niệm của họ trước hết và căn bản là một việc Tông đồ, bởi vì đó là lối sống thuộc về Giáo hội điển hình và đặc sắc nhất, để sống trong Giáo hội, để thể hiện sự hiệp thông với Giáo hội, và để chu toàn sứ mạng của Giáo hội.”[33]

Trong Tông huấn Giáo hội Tại Á châu (Ecclesia in Asia), thánh Gioan Phaolô II đã đánh giá cao đời sống đan tu trong bối cảnh của Giáo hội tại Á châu. Ngài thấy sứ mạng truyền giáo bằng đời sống cầu nguyện nơi các đan sĩ rất am hợp với tâm thức người Á châu, vốn trân quý sự thinh lặng, khát vọng đời sống tâm linh: “Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại Á châu, những người nam nữ hiến mình trong đời sống chiêm niệm và khổ tu, rất được kính trọng, và chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Cuộc đời của họ sống trong cộng đoàn, qua một chứng tá thầm lặng và an bình, có thể gợi hứng cho con người tạo nên một cuộc sống hòa hợp hơn trong xã hội… Gương âm thầm của họ về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân thành, về sự từ bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn có khả năng đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết quả với các nền văn hóa và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ không thể tự vệ. Điều đó làm cho Đời sống Thánh hiến trở nên một phương tiện đặc biệt để rao giảng Tin mừng cho hữu hiệu.”[34]

Chứng tá hùng hồn trong hành trình truyền giáo bằng đời sống cầu nguyện của Giáo hội không xuất phát từ những tính toán trên bàn giấy, mà là sự đúc kết từ thực tế qua kinh nghiệm ngàn năm của các dòng chiêm niệm. Điển hình là thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, một mẫu gương về truyền giáo bằng đời sống cầu nguyện mà Giáo hội không ngừng nhắc đến trong những thập kỉ gần đây và được phong là bổn mạng các xứ truyền giáo. Thánh Gioan Phaolô II đã lấy thánh nữ làm bằng chứng cho đời sống truyền giáo bằng đời sống cầu nguyện chiêm niệm: “Chúng ta có thể kết thúc bài giáo lý cách đẹp đẽ với việc nhớ đến thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Bằng cầu nguyện và hy sinh, thánh nữ đã phục vụ cho công cuộc rao giảng Tin mừng, tương đương và có lẽ còn hơn là nếu như người dấn thân cho hoạt động truyền giáo. Thánh nữ đã được tuyên phong là bổn mạng của các vùng Truyền giáo. Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng cơ yếu của các Hội dòng sống đời chiêm niệm, và nhắc nhở tất cả các Dòng tận hiến, kể cả những dòng đang hăng say với việc Tông đồ dưới mọi hình thức, rằng những công tác – dù lành thánh nhất và đem lại phúc lộc cho tha nhân đến đâu đi nữa – cũng không bao giờ được miễn cầu nguyện, là món quà của con tim, tâm trí và trót cuộc đời cho Thiên Chúa.”[35]

Kết luận

Qua những gì trình bày trên đây, chúng ta có thể phần nào hiểu được sứ vụ cầu nguyện của đan sĩ trong lòng Giáo hội và lời khẳng định của Tông huấn về Đời sống Thánh hiến: “Đời đan tu là một nét chính yếu của Giáo hội.”[36] Cả cuộc đời đan sĩ thánh hiến cho Thiên Chúa bằng đời sống cầu nguyện và hoan hỷ hy sinh. Cầu nguyện là yếu tố sống còn của đan sĩ như lời Công đồng Vaticanô II: “Kinh nguyện là hơi thở không thể thiếu cho mọi chiều kích chiêm niệm.”[37] Giáo luật cũng đã thiết định trách nhiệm của người tu sĩ nói chung và đan sĩ nói riêng về việc cầu nguyện: “Các giáo sĩ buộc phải cử hành phụng vụ các giờ kinh, chiếu theo quy tắc của điều 276 §2,3°, còn thành viên của các tu Hội thánh hiến cũng như của các tu đoàn Tông đồ buộc phải cử hành phụng vụ các giờ kinh chiếu theo quy tắc của hiến pháp.”[38] Để kết thúc bài viết, chúng ta cùng đọc lại lời khuyên nhủ của thánh Gioan Phaolô II nói vào ngày 24.11.1978: “Nhà của chúng con trước hết phải là những trung tâm cầu nguyện, hồi tâm và đối thoại – cá nhân và nhất là cộng đoàn – với Đấng luôn phải là người đàm thoại chính yếu và trên hết trong mọi diễn tiến của một ngày sống rất bận rộn của chúng con. Nếu chúng con biết nuôi dưỡng bầu khí kết hiệp mật thiết và yêu thương với Thiên Chúa, chúng con có thể tiếp tục công cuộc canh tân đời sống và kỷ luật mà Công đồng Vaticanô II mong muốn chúng con nỗ lực thực hiện, mà không sợ rơi vào tình trạng căng thẳng, kiệt sức hay những phân tán nguy hiểm.”[39]

 

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

 

DT: Sắc lệnh về canh tân thích nghi Dòng tu (Perfectae caritatis)

PV: Hiến chế về phụng vụ (Sacrosanctum concilium)

GH: Hiến chế tín lý về Giáo hội (Lumen Gentium)

CN: Chiều kích chiêm niệm của đời tu

CT: Tông huấn Chứng tá Phúc âm (Evangelica testificatio)

GL: Bộ Giáo Luật

HL: Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các Dòng tu (Potissimum institutioni)

LH: Các liên hệ hỗ tương giữa Giám mục và các tu sĩ trong Giáo hội (Mutuae relationes)

TH: Tông huấn hậu thượng hội đồng Giám mục về đời thánh hiến (Vita Consecrata)

YT: Những yếu tố cốt yếu của đời tu

EA: Tông huấn Giáo hội tại Á châu (Ecclesia in Asia)

[1] Tertuliano, De Oratione, cc 28.29.

[2] GL 663.

[3] DT 8.

[4] PC 6.

[5] CN 1.

[6] CN 5.

[7] Thánh Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995); Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, Tập II, tr. 65.

[8] ĐGH. Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995); Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, Nxb Tôn Giáo, Tập II, tr. 65-66.

[9] x: TL 16,4-5.

[10] x: Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh VII, Cầu Nguyện Kitô Giáo: Lịch Sử Và Thần Học, Nxb. Phương Đông, tr. 155.

[11] DT 7.

[12] GH 44.

[13] GH 44, TH 16.

[14] TH 22.

[15] TH 6.

[16] GH 46.

[17] TH 8.

[18] TH 14.

[19] TH 32.

[20] Collat 10,6: SC 54, tr. 80-81.

[21] Ep. ad Paulinum 58,4,2; PL 22,582.

[22] DT 9.

[23] CN 25.

[24] CN 25.

[25] ĐGH. Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995), số ; Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, NXB. Tôn Giáo, Tập II, tr. 68.

[26] PV 2 Và CN 24.

[27] ĐGH. Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995), số 7; Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, NXB. Tôn Giáo, Tập II, tr. 68.

[28] DT 7.

[29] Thánh Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995), số 7; Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, Nxb Tôn Giáo, Tập II, tr. 69.

[30] DT 7; TG 40, TH 8

[31] CT 8.

[32] Thánh Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nutiandi, số 41.

[33] CN 26.

[34] EA 44.

[35] Thánh Gioan Phaolô II, Sống Cầu Nguyện Trong Đời Thánh Hiến (04.01.1995), số 8; Lm Phan Tấn Thành (Chủ biên), Theo Đức Kitô, Những Văn Kiện Đời Tu, Nxb Tôn Giáo, Tập II, tr. 69-70.

[36] VC 2.

[37] DT 5.

[38] GL 1174, §1.

[39] CN 30.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục