danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (05) – NGUYỆN GẪM ĐAN TU

NGUYỆN GẪM ĐAN TU

Ánh nhìn của cha Tổ Phụ qua lời giáo huấn, số 119 và 120

 

Tác giả: Duyên Thập Tự

Đan viện Phước Sơn – Dòng Đức Bà An nam – được cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận thành lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1918 với một định hướng rõ ràng, đó là một cộng đoàn đan tu “chuyên về chiêm niệm”. Điều này khẳng định cuộc sống của các đan sĩ xoay quanh việc “sống kết hiệp với Chúa” và “chiêm ngắm Thiên Chúa”. Đó cũng là tuyên ngôn trang trọng của Hội dòng Xitô Thánh Gia.

Để có thể kết hiệp với Chúa, những phương thế được các đan sĩ trong Giáo hội, từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo cho đến ngày nay sử dụng, đó là việc suy niệm hay nguyện gẫm. Đây là một phương tiện “tối cần” để vừa làm phong nhiêu đời sống nội tâm, vừa có một cuộc đời ý nghĩa và nhất là để sống kết hiệp với Chúa.

Để dẫn đưa các đan sĩ đi vào kho tàng phong phú của đời sống nội tâm, phần đông các môn sinh thời ngài thành lập cộng đoàn là những người “nhà quê” rất ít kiến thức về đời sống thiêng liêng, cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã chỉ dạy họ – và chúng ta – qua những lời giáo huấn của ngài. Trong lời giáo huấn 119 và 120, vấn đề nguyện gẫm, được đề cập tới một cách vắn gọn, nhưng cũng lột tả được những điểm chính yếu và những thực hành cụ thể.

Nhân dịp nội san Hạt Giống Chiêm Niệm số 32 chuyên đề về “Cầu nguyện đan tu”, chúng ta cùng đọc lại và suy nghĩ về hai giáo huấn trên của cha Tổ Phụ về nguyện gẫm, với hy vọng chúng ta thêm ý thức về hoạt động thiêng liêng này và làm sống động thực hành để mang lại nhiều lợi ích cho đời đan tu chiêm niệm của chúng ta.

  1. Một thắc mắc và cũng là một phê bình

Sau Công đồng Vaticanô II cho đến nay, việc tiếp cận với Lời Chúa được đề cao trong Giáo hội. Và trong thời gian gần đây, “lectio divina” được thực hiện rộng rãi hơn tại Việt Nam. Có một nhận định rằng lectio divina quan trọng hơn việc nguyện gẫm. Đúng thôi! Và từ nhận định đó, có “đấng bậc” nào đó đã đưa ra một nhận xét phê bình rằng cha Biển Đức Thuận đã coi trọng việc suy niệm hơn là lectio divina.

Ở đây, tôi không muốn biện hộ cha Tổ Phụ hoặc phản biện nhận xét trên, vì không phải mục đích của bài viết này. Nhưng tôi muốn làm rõ một chút sự việc khi quay lại thời điểm mà cha Biển Đức Thuận lập dòng và thời gian sau đó.

Như chúng ta biết, Lời Chúa thật quan trọng trong đời sống Kitô hữu, trong sinh hoạt Giáo hội cũng như trong các cử hành phụng vụ. Nên chúng ta cũng phải nhận định rằng, Lời Chúa và việc đọc, suy niệm Lời Chúa như bị quên lãng một thời gian dài ngay trong lòng Giáo hội Công giáo. Chỉ trong các tu viện, đặc biệt đan viện và hàng giáo sĩ mới tiếp cận Lời Chúa. Đại đa số giáo dân và ngay cả một số bộ phận các tu sĩ chỉ thực hành những việc đạo đức như kinh nguyện và việc suy niệm (nguyện gẫm). Nhưng việc nguyện gẫm này không dựa trên Lời Chúa mà nhấn mạnh đến tâm tình, cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng. Trong khi đó, Lời Chúa đối với anh em Tin Lành lại là nguồn duy nhất “sola Scriptura” (chỉ Kinh thánh mà thôi). Việc trở về nguồn Lời Chúa được nhấn mạnh trong Công đồng Vaticanô II, và từ đó Lời Chúa hiện diện một cách “hữu hình” trong mọi sinh hoạt của Giáo hội, ngay cả trong những nghiên cứu các bộ môn thần học.

Trong bối cảnh như thế, cha Tổ Phụ không thể trao cho các môn sinh của mình điều mà không có hay chưa có trong sinh hoạt thiêng liêng. Vả lại, thời đó, chưa có bản dịch Lời Chúa, có chăng một vài trích đoạn được sử dụng trong các dịp cần thiết. Còn lại, tất cả đều bằng tiếng Latinh, một ngôn ngữ “đọc lên mà chẳng hiểu.” Chính vì thế, việc suy niệm hay nguyện gẫm là một sinh hoạt thiêng liêng cần thiết, quan trọng và bổ ích cho đời sống nội tâm, mà đời sống nội tâm là nền tảng của đời chiêm niệm.

Một vài nhận định trên giúp chúng ta nhận ra rằng việc suy niệm (nguyện gẫm) luôn cần thiết. Và ngày nay chúng ta được cơ may là thực hiện việc suy niệm với chính Lời Chúa. Dù thực hành Lectio divina, việc nguyện gẫm cũng không vì thế mà bị xoá bỏ, nhưng được phong phú hoá bởi chính Lời Chúa như chất liệu “đệ nhất” cho việc thực hành thiêng liêng này.

Bây giờ chúng ta trở lại với lời giáo huấn của cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận.

  1. Một sự đồng hóa: nguyện gẫm là cầu nguyện

Trong lời giáo huấn số 119, cha Tổ Phụ nói: “Nguyện gẫm là cầu nguyện. Khi nguyện gẫm chúng ta nói khó với Chúa, và xin ơn này ơn khác. Cho nên, sự nguyện gẫm là một cách cầu nguyện để chịu lấy ơn Chúa.”

Khẳng định trên rất quan trọng, vì đặt việc cầu nguyện trong bầu khí của sự gặp gỡ: GẶP GỠ CHÚA. Trong bầu khí gặp gỡ này, chúng ta “nói khó” với Chúa, nghĩa là thưa chuyện với Chúa, đối thoại thân tình với Thiên Chúa yêu thương của chúng ta. Đồng thời, chính trong sự tiếp xúc thân ái này mà chúng ta nhận được những ơn phúc của Thiên Chúa cho cuộc hành trình của mình.

Như vậy, nguyện gẫm không phải là một thứ “suy tư triết lý” khô khan hay một loại “thần học bàn giấy,” chẻ vấn đề như chẻ sợi tóc làm tư. Đây là không gian và thời gian của gặp gỡ và đối thoại, của “lòng kề lòng,” lắng nghe tiếng nói của nhau, những suy nghĩ và những ước muốn của nhau: của Thiên Chúa và của chúng ta. Lại nữa, trong thời khắc nguyện gẫm, tất cả con người chúng ta đều nhập cuộc để việc gặp gỡ thật sự mang tính chất vừa linh thiêng vừa hiện sinh. Và việc nguyện gẫm phải đưa đến một cuộc sống triển nở về nhiều phương diện, mà cha Tổ Phụ đề cập đến trong ba hoạt động và ba cấp độ của việc nguyện gẫm.

  1. Ba hoạt động và ba cấp độ

Trong giáo huấn số 119, cha Tổ Phụ nêu lên ba hoạt động chủ yếu của các quan năng con người.

– Hoạt động thứ nhất: “Nguyện gẫm cũng là cách chúng ta được thông hiểu hơn. Đang khi chúng ta nguyện gẫm, cũng có suy xét, sau rồi mới nguyện gẫm. Cho nên chúng ta học thêm lẽ mới, và hiểu cách thế đi đàng nhân đức rõ ràng hơn.”

Đây là hoạt động của tư duy bao gồm những hành động của trí năng. Nguyện gẫm cần thiết phải có trí năng nhập cuộc. Nơi đây, những “mầu nhiệm về Thiên Chúa” hay “huyền nhiệm cuộc sống con người” cũng như “kỳ diệu thiên nhiên” như là đối tượng của nguyện gẫm. Thời gian và không gian nguyện gẫm như bao trùm tất cả những “điều huyền nhiệm” mà trí khôn nhân loại của chúng ta, cùng với ơn mặc khải của Thiên Chúa, nhập cuộc để khám phá. Chắc chắn, ký ức, sự chú tâm, hồi tưởng, cũng có chỗ đứng trong hành trình nguyện gẫm. Những “nhận thức” này mang đến những điều mới mà cha Tổ Phụ dùng từ ngữ “mới lạ” để diễn đạt. Những cái mới lạ này có mối liên kết với những gì trong quá khứ, những cái cũ, để làm thành một tổng thể những “chân lý.” Nhưng những chân lý này phải được nhập thể trong cuộc sống, mà cha Tổ Phụ diễn đạt bằng cụm từ “hiểu cách thế đi đàng nhân đức rõ ràng hơn”. Biết để sống. Đó là hoạt động thứ nhất, “hoạt động nhận thức” và cũng là lợi ích thứ nhất là “hiểu rõ hơn.”

– Hoạt động thứ hai: Cha Tổ Phụ đề cập đến hoạt động thứ hai bằng diễn tả ngắn gọn: “Khi nguyện gẫm chúng ta nói khó với Chúa, và xin ơn này ơn khác. Cho nên sự nguyện gẫm là một cách cầu nguyện để chịu lấy ơn Chúa.” Hoạt động thứ hai được đánh dấu bằng “tình yêu”, “tình cảm.” Việc đối thoại với Chúa – cuộc đối thoại thân tình – luôn mời gọi tình yêu dấn thân vào, và cùng với tình yêu là những tình cảm, ngay cả những cảm xúc, rung động. Việc nguyện gẫm là hành động gặp gỡ. Những hiểu biết trên kia đưa đến yêu. “Tri” để “mộ”. Cho nên, chúng ta cần phải huy động tất cả tâm trí mình vào cuộc nguyện gẫm, nghĩa là cuộc gặp gỡ yêu thương với Đấng Yêu Thương. Dù rằng có những giới hạn, nhưng những rung động của con tim cũng cần thiết và có giá trị. Nơi đây, thái độ “nhận lãnh” từ Thiên Chúa những phúc lộc của Người là một diễn tả tình yêu tri ân thật đẹp.

– Còn hoạt động thứ ba: hoạt động cao nhất – mà cha Tổ Phụ quả quyết là các thánh đang làm trên thiên đàng, đó là “Chiêm Ngắm”, “Chiêm Niệm” Thiên Chúa. “Sự nguyện gẫm chính là việc chúng ta phải tập cho được kết hiệp với Chúa, ấy là chính việc nguyện gẫm. Chúng ta hãy tập cho được sự ấy, vì cũng là việc các thánh đang làm trên thiên đàng, là hằng kết hiệp với Chúa luôn, hầu được kính mến Chúa không khi nào nhàm chán.”

Trong giai đoạn này, “thần trí” chúng ta vào cuộc. Thần trí là “trung tâm điểm”, là “điểm sâu thẳm”, nơi mà không thụ tạo nào có thể bước vào và ngay cả ma quỉ cũng phải dừng lại bên ngoài. Nơi kết hiệp sâu thẳm với Chúa, “cùng một thần trí” với Thiên Chúa. Việc các thánh đang làm trên thiên đàng là “hằng chiêm ngắm Thiên Chúa” “diện đối diện”, như cha Tổ Phụ đã nói ở một nơi khác. Đây là hoạt động cao nhất, thu hút, qui tụ và hiệp nhất mọi quan năng của con người. Hoạt động thứ ba của nguyện gẫm này mang lại chính là “sự kết hiệp không ngừng với Thiên Chúa” và “yêu không bao giờ nhàm chán”. Đây là trải nghiệm “không thể diễn tả được” mà những “thầy dạy đàng thiêng liêng” đề cập đến.

Như vậy, việc nguyện gẫm đưa từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ thấp đến cao, từ bên con người đến phía Thiên Chúa, từ việc “chúng ta đi tìm Chúa” đến việc “Chúa đi tìm chúng ta”. Ba giai đoạn, ba hoạt động trên đây dẫn đưa đến ba cấp độ mà cha Tổ Phụ đề cập trong giáo huấn số 120, mà ngài đặt tên tên là “SUY”, “NÓI” và “LẶNG.”

* Cấp độ thứ nhất: “Bậc thứ nhất là kẻ biết suy gẫm mà thôi. Bậc này suy nhiều, còn nói chuyện với Chúa thì ít lắm.” Chúng ta đã nói đến trên kia hoạt động thứ nhất của nguyện gẫm. Nơi cấp độ này, người nguyện gẫm dừng lại nơi mình, với những “kiến thức thủ đắc.” SUY mang lại hứng thú vì đạt đến “những điều mới mẻ.” Dầu vậy, nơi đây, cũng ẩn chứa nguy cơ “tự thoả mãn” về những gì mình có, đạt được. Sự kiện “nói với Chúa thì ít lắm” diễn tả tình trạng “sơ khởi” của việc nguyện gẫm. Để tránh nguy cơ đó, việc “nối mạng” với Thiên Chúa là cần thiết, nghĩa là nối tương giao qua và trong đối thoại với Thiên Chúa. Lúc này, các quan năng của con người hoạt động mạnh mẽ, và theo ngôn từ của thánh Gioan Thánh Giá, chúng chưa “đi vào đêm tối.” Dầu sao, cấp độ này đã là một thành quả, một tiến bộ, và nhờ đó, đà tiến của đời sống nội tâm, của việc nguyện gẫm được tiếp diễn.

* Cấp độ thứ hai: “Bậc thứ hai, là ưng nói chuyện với Chúa nhiều, còn suy lẽ thì ít.” Nơi cấp độ thứ hai này, trật tự đảo lộn, “Nói nhiều suy ít”. NÓI ở đây là nói chuyện với Chúa, thưa chuyện với Chúa, đối thoại với Chúa. Đó là cầu nguyện. Những kiến thức thủ đắc đã trở thành bàn đạp dẫn đến việc gặp gỡ Thiên Chúa. Trong cấp độ này, người nguyện gẫm ít dừng lại nơi mình, nhưng sống tương giao với Thiên Chúa. Nơi đây, “Ngôn Ngữ Tình Yêu” được sử dụng. Đó có thể là ngôn ngữ bên ngoài. Đó có thể là ngôn ngữ âm thanh. Nhưng đó cũng và hơn thế nữa, là nơi xuất hiện ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ vô thanh. Trong cấp độ này, các quan năng bước vào “đêm tối chủ động” như diễn tả của thánh Gioan Thánh Giá. Và từ cấp độ này, một giai đoạn mới mở ra mà không phải bất cứ ai cũng đạt tới hay can đảm bước vào.

* Cấp độ thứ ba: “Bậc thứ ba, là hằng ở bình an trước mặt Chúa, ít nói, một hai khi cũng nói một hai lời. Tuy không nói chi, nhưng hơn nói nhiều lắm, hằng ở bình an với Chúa lâu giờ mà không ngủ gục lo ra. Khi phải ra nhà thờ vì hết giờ, lấy làm tiếc vì phải bỏ đi.” Từ ngữ diễn tả cấp độ này là “ở bình an.”  Trong cấp độ này, người nguyện gẫm – linh hồn – bị “Hớp Hồn” bởi chính Thiên Chúa. Đây là không gian và thời gian đậm thấm tính chất “LẶNG.” Tất cả các quan năng con người như bị “treo,” và tất cả đi vào “đêm dày” như diễn ngữ của thánh Gioan Thánh Giá. Trong đêm dày của giác quan, của trí năng, chỉ còn lại “đức tin mang lại bình an.” Đây là không gian và thời gian của chiêm niệm, của sự kết hiệp thân tình với Thiên Chúa. Nơi đây, không lời, không âm thanh, không tư duy, mà chỉ còn “ánh nhìn yêu thương của Thiên Chúa” và “cái liếc tình của linh hồn,” như các linh phụ Xitô diễn tả.

Như vậy, nguyện gẫm mang đến rất nhiều lợi ích cho đời sống con người, về nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm và cuộc hiện sinh. Nguyện gẫm dẫn chúng ta tới đích điểm của nó, chính là sự nên thánh.

  1. Nên thánh”: điểm tới của nguyện gẫm

Những điều cha Tổ Phụ diễn tả về nguyện gẫm cho chúng ta nhận ra tầm quan trọng của hoạt động thiêng liêng “tối cần” này. Nhưng, khi đề cập đến nguyện gẫm, cha Tổ Phụ đề cập nhiều lần đến “các thánh” như một lời nhắc bảo về việc “nên thánh”: “Vậy, chúng ta phải ước ao nên thánh… Còn ước ao cho mình được nên thánh lớn trước mặt các thánh ở trên trời, thì được… Ước ao cho mình được nên thánh, thì nên lắm.”

Như vậy, việc nguyện gẫm không chỉ là một hoạt động thiêng liêng nuôi sống đời nội tâm, mà còn đóng góp rất lớn cho việc nên thánh, đến nỗi chúng ta dám quả quyết rằng đích điểm của việc nguyện gẫm là nên thánh. Thật vậy, mục đích của đan sĩ là nên thánh và mọi sinh hoạt đan tu đều nhắm đến và quy hướng về việc nên thánh. Khi nguyện gẫm, mọi quan năng được huy động để chúng ta đạt được điều mong ước. Mà điều mong ước lớn nhất và bao trùm tất cả, đó chính là nên thánh. Những giai đoạn và những cấp độ của nguyện gẫm là để giúp chúng ta uốn nắn nên “giống Chúa Giêsu,” mà nên thánh không gì khác hơn là “trở nên đồng hình đồng dạng với Đấng Tình Quân,” Đấng mình hằng yêu mến.

Hiểu như vậy, nguyện gẫm không còn là điều phải bắt buộc, một qui định ngay cả quy định của Hiến pháp; mà là một “ân phúc” Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Kết: làm sống lại ân phúc

“Cầu nguyện đan tu” là chủ đề của nội san “Hạt Giống Chiêm Niệm” cho dịp phát hành lần này. Đây là dịp tốt đẹp để mỗi chúng ta với tư cách là đan sĩ Xitô Thánh Gia và rộng hơn là mỗi Kitô hữu, ý thức hơn nữa và làm sống lại ân phúc nguyện gẫm mà truyền thống tốt lành trong Giáo hội vẫn được thực hiện. Chúng ta đã có kinh nghiệm về một cuộc sống đan tu và một đời nội tâm phong phú thế nào khi được nuôi dưỡng bởi nguyện gẫm. Và ngược lại, cũng đã trải nghiệm thế nào là một cuộc sống khô héo, không ý nghĩa về ơn gọi thánh hiến cũng như ơn gọi Kitô hữu khi mà việc nguyện gẫm – nguyện gẫm dựa trên Lời Chúa – vắng bóng trong sinh hoạt hằng ngày, hoặc làm một cách chiếu lệ, không chú tâm và thiếu tình yêu.

Nguyện gẫm như bất cứ thao tác thiêng liêng nào cũng đòi hỏi sự quyết tâm và cố gắng. Chính thái độ này giúp chúng ta đạt đến những bến bờ “không ngờ” với những “điều kỳ diệu” mà “không sao diễn đạt được.” Nhưng, cũng phải thực tế là hiện tại ở đây và lúc này – hic et nunc – là thời gian của vất vả hướng tới bến bờ hy vọng đó, như cha Tổ Phụ kết luận trong giáo huấn về nguyện gẫm: “Chúng ta hãy cố gắng mà chèo cho đến khi ra khơi, thì được gió, bớt mỏi mệt. Song, bao lâu thuyền còn trong cửa, cực nhọc hoài, vì ít khi gặp gió. Vậy, chúng ta hãy gắng mà chèo đã, chờ đến khi Chúa muốn thì sẽ được.”

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC