danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (06) – THÁNH NỮ GERTRUDE (1256-1301)

Tác giả: M. Martino Phạm Thanh Toàn

Tại Hội nghị về Đấng Đáng Kính nữ đan sĩ Maria de Agreda do Học viện giáo hoàng về thánh mẫu tại Rôma tổ chức ngày 16.11.2023[1], Đức Thánh cha Phanxicô nói rằng, đời sống đan tu có ba chứng tá: thinh lặng, thần bí và truyền giáo. Thinh lặng để lắng nghe Lời Chúa; thần bí là tương quan mật thiết với Thiên Chúa do lắng nghe Lời Chúa; hệ quả là truyền giáo với sức mạnh của lời cầu nguyện chuyển cầu.

Bản tin trên đây trùng hợp ngẫu nhiên hay có sự quan phòng của Chúa? Đang khi Nội san HGCN số 32 với chủ đề Cầu nguyện đan tu, một trong các “cấp độ” của đời sống cầu nguyện chính là thần bí – kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, Đức Thánh cha Phanxicô như là “tiếp sức cho gió” khi nhắc đến đặc tính thần bí trong cầu nguyện đan tu. Vậy để tìm được một tác giả phù hợp cho chủ đề, không ai khác hơn chính là thánh nữ đan sĩ Gertrude, một tác giả thần bí của dòng Xitô chúng ta, mừng kính ngày 16.11 hằng năm.

Dưới đây xin lược dịch bài viết của tác giả Pierre Doyère[2] về thánh nữ Gertrude.

  1. Đời sống thánh nữ Gertrude

Thánh nữ sinh ngày 6 tháng giêng năm 1256. Ngài được gia nhập nữ đan viện Helfta lúc mới 5 tuổi, nhưng chúng ta không biết gì về gia đình, nơi sinh cũng như hoàn cảnh vào dòng của thánh nữ. Những người đương thời dường như cũng không biết gì hơn. Biên niên sử của đan viện có ghi đầy đủ họ tên của các nữ đan sĩ khi nhập dòng, bởi lẽ đan viện được thành lập năm 1229 dường như cũng thuộc hàng “danh giá”, theo nghĩa thuộc về số những “đan viện sang trọng” thuộc tầng lớp quý tộc theo chế độ cổ xưa, và vì thế đan viện được một số gia đình khá giả trong vùng bảo trợ. Trái lại, với thánh nữ Gertrude, không một minh họa nào về gia đình của ngài được ghi chép, tuy nhiên có nhiều chỗ trong các bản văn chống lại sự im lặng này, chắc hẳn với ý định tâm linh, nhưng những người đương thời không biết gì về ngài.

Một vấn đề lịch sử khác cũng được đặt ra đối với thánh nữ Gertrude: đó là thánh nữ thuộc dòng Biển Đức hay Xitô? Ở đây không nên tìm xem thánh nữ thuộc dòng nào. Việc thành lập nhà trong đan tu, nhất là đối với ngành nữ, tự bản chất không có tính tập trung. Trong tư tưởng các người thủ cựu như xã hội tại Đức ở thế kỷ XIII, đan viện của miền Mansfeld, trong đó các nữ đan sĩ xuất thân từ các Sơ áo xám Halberstadt, lại giữ Tu Luật thánh Biển Đức cách độc lập, mà vẫn theo tinh thần mới của Xitô thời đó, nhưng lại không cam kết pháp lý với dòng Xitô.

Vào dòng lúc 5 tuổi, thánh nữ Gertrude cùng với các bạn cùng lớp đã nhận được một nền giáo dục rất chu đáo từ nữ đan sĩ Mechtilde de Heckeborn, là em của viện mẫu. Ngài có trí thông minh rất sắc sảo, nói năng lợi khẩu và được mọi người thương mến. Đặc biệt thánh nữ rất say mê học hành.

Khi được 25 tuổi, thánh nữ khám phá ra đời sống thần bí, ngang qua một thị kiến dẫn đường, vào ngày 27.01.1281 sau Giờ Kinh Tối. Cuộc sống của thánh nữ không có gì nổi bật ngoài những diễn tiến của đời sống nội tâm. Thánh nữ làm công việc sao chép các thủ bản trong phòng học của đan viện. Sức khỏe không được tốt đã ngăn trở ngài phần nào, nhất là vào cuối đời, đã phải rời phụng vụ trong ca tòa, dù ngài là ca phó bên cạnh thánh nữ Mechtilde de Heckborn. Vị thánh nữ này cũng được ơn thần bí và các khải thị. Hai vị này trao đổi cho nhau những bí nhiệm và tên tuổi của họ không thể tách rời trong lịch sử linh đạo. Mechtilde qua đời năm 1298 khi 57 tuổi và thánh nữ Gertrude qua đời ngày 17.11.1302 (1301) hưởng dương 45 tuổi.

  1. Các tác phẩm

Các tác phẩm của thánh nữ Gertrude đều được soạn thảo bằng tiếng La tinh. Khi nói về tên tác giả, những ký lục biết đến các ngôn ngữ thiểu số của nước Đức, như Drudis, Druda, Trutha, v.v. Gồm những tài liệu sau đây:

  1. Les Revelationes (Những khải thị) gồm năm quyển. Quyển chính yếu là quyển 2 trong đó chính thánh nữ đã xác nhận vào năm 1289 kỷ niệm về ơn thần bí. Trong những năm tiếp theo, có lẽ thánh nữ đã soạn thảo một số tài liệu và ghi lại những “khải thị” khác nữa, hoặc đơn giản là một số linh ứng gợi hứng thầm kín. Khi ngài qua đời, tất cả các thủ bản của ngài đã được một nữ đan sĩ của đan viện thu thập, làm thành một bản tóm lược tiểu sử và chân dung linh đạo của thánh nữ, đó là cuốn 1.

Hiện nay chúng ta chỉ còn biết đến 4 thủ bản của tác phẩm, 2 trong số đó không còn trọn vẹn. Xuất bản lần đầu bằng tiếng La tinh là của các cha Chartreux tại Cologne, gọi là phiên bản Lanspergius (Insinuationes…, 1536). Vào thế kỷ 16 và 17 những phiên bản La tinh khác chỉ in lại của phiên bản Lanspergius trước đó và cuối cùng chỉ tính có phiên bản Lanspergius. Có 5 phiên bản: Cologne, 1579 (Bredenbech); Madrid, 1599 (Castaniza); Salzbourg, 1662 (Clément); Paris, 1662 (N. Canteleu) và 1664 (J. Mège). Năm 1875, các cha dòng Biển Đức tại Solem (L. Paquelin), Legatus…) đã cho ra phiên bản mới nhờ kết hợp 2 thủ bản. Một phiên bản cuối cùng gồm bốn thủ bản đang được các cha dòng Biển Đức Wisques chuẩn bị (bản Latinh và bản dịch Pháp ngữ, trong hợp tuyển Sources Chrétiennes).

  1. Những bài Exercitia spiritualia (Linh thao). – Tên nguyên thủy của tác phẩm có lẽ không phải như thế. Tác phẩm gồm bảy bài suy niệm đạo đức có hướng dẫn. Việc chọn con số này biểu tượng sự hoàn hảo, là một chỉ dẫn quý giá về ý định của tác giả. Những bài linh thao này được trình bày như một nghiên cứu nhỏ về sự hoàn thiện thiêng liêng. Chúng thức tỉnh tâm hồn ý thức về tiến trình thánh hóa; chủ đề được tiếp tục của chuỗi này là sự kết hiệp với Thiên Chúa ngày càng hoàn hảo hơn. Sự kết hiệp này giả thiết sự huy động nguồn lực của Bí tích Rửa tội và đời sống tu trì (tu phục), thánh hiến và khấn dòng, nguồn lực vốn là hành động dẫn tới sự hòa hợp giữa tình yêu xót thương và niềm vui của tiệc cưới huyền nhiệm; cái chết được thực hiện như một lễ toàn thiêu vĩnh cửu và tuyệt đỉnh.
  2. Les Preces gertrudianae (Những lời cầu nguyện của thánh nữ Gertrude). – Được một tu sĩ dòng Tên tại Cologne soạn thảo (1670), tuyển tập này không thể được xem là của thánh nữ soạn thảo theo đúng nghĩa. Nhưng cần phải kể đến vì được phổ biến rộng rãi và tái bản nhiều lần; nhiều tâm hồn đã biết đến nhà thần bí lớn của Helfta ngang qua tác phẩm thấm đẫm tư tưởng và văn phong rất đặc thù của thánh nữ.
  3. Như đã nói, những tên gọi và những bản văn của thánh nữ Mechtilde và Gertrude không thể tách rời nhau và làm nên đặc tính linh đạo của đan viện Helfta. Dường như tác phẩm Revelationes của thánh nữ Mechtilde (de Heckeborn), dưới cái tên là Liber specialis graciae, được quảng bá nhiều hơn tác phẩm của thánh Gertrude. Tác phẩm này đã không được thánh nữ Mechtilde soạn thảo, mà do một nữ đan sĩ khác đã nhận mật nhiệm của ngài, người đó không ai khác chính là thánh nữ Gertrude.
  4. Thánh nữ Gertrude đã kín múc từ Kinh thánh, Phụng Vụ, Tu Luật thánh Biển Đức và các bản văn của thánh Bernard; ngài cũng biết đến các nguồn linh đạo dòng Phanxicô và Rhénans (vùng sông Rhin). Và các cha dòng Đaminh đảm nhận linh hướng cho các nữ đan sĩ Helfta. Một nhà thần bí dòng ba, tên là Mechtilde de Magdebourg sống tại đan viện Helfta khoảng từ 1270 cho đến khi qua đời năm 1292.
  5. Học thuyết

Linh đạo thần bí của đan viện Helfta chính yếu là “quy Kitô” (christocentrique), và không cần nêu lên quá nhiều lý lẽ của các lý thuyết gia về tầm quan trọng của sự phân biệt, chúng ta cũng thấy linh đạo thần bí ấy thiên về tình yêu (tình cảm) – (Brauptmystik) hơn là lý tính hệ thống (Wesenmystik). Vào thế kỷ XIII, tại Đức, một vài nữ đan viện Xitô, có hướng đi thiên về hệ thống đã làm mồi cho khuynh hướng trừu tượng nơi các trào lưu linh đạo của vùng sông Rhin và Hòa Lan. Thánh nữ Gertrude ở Helfta có vẻ hơi xa lạ với trào lưu này. Trong công cuộc tìm kiếm sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa của thánh nữ dường như được điều khiển bởi đời sống kết hiệp hoàn toàn và sâu xa với Ngôi Lời nhập thể. Khởi đi từ cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Kitô vào ngày 27 tháng Giêng năm 1281, những “mặc khải” tiếp theo đó chỉ là phát triển ân huệ tuyệt đối của cuộc “hoán cải” này mà thôi.

Về đặc điểm kinh nghiệm này, trước tiên đã mang âm hưởng tình cảm của sự kín nhiệm thiêng liêng. Chắc hẳn, những dữ kiện về sự chừng mực và những điều kiện của một “thể loại văn chương” trở nên dễ dàng cho điểm nhấn này. Nhưng cái tệ là có sự trái chiều khi chỉ thấy chứng tá của thánh nữ như một tình cảm cực đoan, hoặc là chối bỏ “tính trẻ con” này những giá trị vững mạnh trong đó, hoặc là dễ dàng quảng bá sự tôn sùng quá tầm thường lại khó diễn tả được.

Càng dấn sâu vào mầu nhiệm của thông điệp này, càng khám phá ra phẩm chất đời sống nội tâm của thánh nữ Gertrude, một nền thần học vững chắc, nhiệt huyết thật sáng ngời trong giáo huấn của ngài, và kết quả là những yêu sách sâu xa lòng đạo đức của ngài không tước đi động năng cảm tính cũng như xác tín của một đức tin được tôi luyện và một học thuyết tâm linh chắc chắn. Và nhất là lối diễn tả rất tình cảm có mục đích chuyển tải thực tại khách quan của tình yêu vốn gắn kết tâm hồn thánh nữ với Chúa hằng sống của mình.

Như vậy, thánh nữ sống sự kết hiệp này trong ánh sáng của mầu nhiệm Nhập Thể, trong viễn cảnh rất cởi mở với sự viên mãn của bản tính nhân loại nhờ Ngôi Lời, mà trong nhiều lần, những khải thị của sự kết hiệp có thể đồng thời tương tác với Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Chúa Giêsu, Con Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Giáo hội, cũng như tiệc cưới với linh hồn. Hạn từ “quy Kitô” được áp dụng cho linh đạo này nhất định không thể được hiểu sai. Quy Kitô ở đây là định hướng và dẫn tới chiêm ngưỡng  cũng như vui hưởng sự sống thần linh trong sự “rạng ngời và hoàn toàn bình lặng của Ba Ngôi.” Mặt khác, chỉ từ trung tâm mầu nhiệm Ngôi Lời làm người mà tuôn chảy tất cả các chủ đề thần học đã gây âm hưởng cực kỳ phong phú nơi các ân huệ của thánh nữ. Đương nhiên, những chủ đề này đã không được trình bày trong tác phẩm Révélations (những mặc khải) như thể được soạn thảo, đúng hơn, chúng linh hứng cách hữu hình những trực giác trong cầu nguyện của thánh nữ như thể phát triển suy niệm hoặc những thực hành khổ chế và lòng sùng kính của ngài, cũng dễ dàng giống như hoàn thành một giờ kinh phụng vụ vậy.

Thật là không đủ khi nhận định rằng những quy định và những bản văn phụng vụ nâng đỡ kinh nguyện của ngài và đồng thời cung cấp cho ngài những hình ảnh hay nhất ngang qua vần thơ và câu văn. Chính phụng vụ có ý nghĩa sâu xa đã làm nên kinh nghiệm thần bí của thánh nữ. Chính Sacramentum fidei, là dấu chỉ hữu hình và sống động sự hiện diện của Chúa, là con đường đích thực của sự kết hiệp ngôi vị với Ngôi Lời nhập thể, là Trung Gian và là Đấng thánh hóa. Những mầu nhiệm phụng vụ ý nghĩa nhất của sự kết hiệp này, và lôi kéo sự chú ý nhất của thánh nữ Gertrude chính là Giáng Sinh, nơi đó Giáo hội tưởng nhớ Bê lem và giáng sinh thiêng liêng trong tâm hồn chúng ta: “Dominus in intimis nostris quasi spiritualiter natus” (Revelationes, lib. 4, c. 3, in fine), và Thăng Thiên, nơi đó,  “in substantia nostra”, Đức Kitô, Đấng mặc lấy bản tính của chúng ta trình diện trước Tôn Nhan Chúa Cha. Vả lại, tất cả phụng vụ đều có chóp đỉnh là bí tích Thánh Thể; chính nhờ Chúa Kitô Thánh Thể đã khai mở trong tâm hồn thánh nữ Gertrude sự kết hiệp thực thụ với Lang Quân (cf. DS, t. 4, col. 1616).

Từ việc tôn sùng Thánh Thể chuyển sang lòng sùng kính cuộc Khổ Nạn, đến các Thương Tích và Thánh Tâm Chúa Giêsu (cf. DS, t. 2, col. 345, 1027; t. 3, col. 1693). Vai trò các nhà thần bí của đan viện Helfta đối với lịch sử sự tôn thờ này là rất quan trọng. Lòng sùng kính Thánh Tâm của họ không chỉ đơn thuần “thiên về thương khó” đối với các vết thương trong cuộc Khổ Nạn; cũng không nhấn mạnh đến chủ đề này trong việc sửa mình vốn sẽ khuếch trương sau đó. Theo linh đạo của những đan sĩ chiêm niệm thời trung cổ, trái tim không chỉ là biểu tượng cũng như trung tâm đời sống tình cảm, nhưng chính là toàn thể con người. Do vậy, chính trong con người của Ngôi Lời nhập thể mà ước muốn kết hiệp có thể đạt được trong Thánh Tâm Người, “nơi đó gói trọn tất cả phẩm cách thần linh”; thật sâu thẳm và cử chỉ đầy đủ của tình yêu Chúa Giêsu khi Người ước rằng, lưỡi đòng đã khai mở lối vào cho tình yêu chúng ta đến với Người.

Còn về lòng sùng kính Đức Maria của thánh nữ Gertrude, cũng được định vị trong cùng sự thuộc về mầu nhiệm Chúa Kitô. Từ Đức Maria, thánh nữ nhận được những ân huệ chính yếu khi kết hiệp với Ngôi Lời nhập thể; Hài Nhi mới sinh như thể được giao cho thánh nữ bởi Mẹ Người, đồng thuận cho thánh nữ được tháp nhập vào sự ưu tiên của Người. Cho dù ơn cao trọng thế nào đi nữa vốn được dành riêng cho Mẹ Thiên Chúa, thì mầu nhiệm kết hiệp cũng như thế mà thông truyền cho các linh hồn trong cương vị “Trung Gian của Trung Gian” (Revelationes, lib. 2, c. 7). Và vì sự kết hiệp này mà Đức Maria là Mẹ của các tín hữu. Mẹ nói: “Chúa Giêsu là con đầu lòng của Mẹ, vì sau Ngài và nhờ Ngài, các con được chọn để trở nên anh em với Ngài và là con của Mẹ, từ trong cung lòng mẫu tử của Mẹ, Mẹ đã sinh ra tất cả các con” (lib. 4, c. 3). Trương độ lòng sùng kính Đức Maria của thánh nữ Gertrude không bao giờ dẫn đến lạm dụng, cho dù một ngày kia có một vị giảng thuyết cực đoan nào đó (lib. 3, c. 20), bởi lẽ thánh nữ không thể chịu được khi lời chúc tụng Đức Maria, cho dù thế nào, bị tách khỏi Chúa Con, là tác giả ơn cứu độ và sự sống của chúng ta.

  1. Libertas cordis (sự tự do của trái tim)

Những mặc khải rất dồi dào nhưng khá phức tạp liên hệ đến những tình huống rất khác nhau, với cái nhìn ban đầu dường như không luôn luôn dễ dàng phân định tư tưởng và ứng xử của thánh nữ. Đôi khi ta cũng ngạc nhiên và ngay cả những người đương thời của ngài cũng thế về sự đa dạng và uyển chuyển thái độ của thánh nữ. Ngài có được khả năng trực giác rất lớn, trí phán đoán và cảm thức siêu nhiên sinh động cho việc lắng nghe những sự đa dạng kín nhiệm thần linh, ngài cho thấy khi thì rất nghiêm túc, chu đáo và sốt sắng, khi thì chừng mực, cảm thông, bàng quan với chủ nghĩa chi tiết hình thức, ngày nay chúng ta nói đó là người không thống nhất. Tiểu sử cuốn 1, Héraut tìm cách thu thập về một mối nhân đức nền tảng tất cả cá tính của người bạn đồng môn của mình, tiếp nhận từ Chúa Giêsu việc giải nghĩa này, theo đó, nếu tâm hồn thần bí của thánh nữ Gertrude đạt đến đỉnh cao nhất của ơn chiêm niệm và đức ái, thì ngài phải đạt đến tự do của con tim (liberté de coeur), nghĩa là với phẩm cách ấy, không một vật nào có thể làm ngăn trở nguồn lực hướng về thông hiệp với Chúa (Revelationes, lib. 1, c. 11). Chìa khóa vàng cho định nghĩa đích thực về tự do, được xác định trong tương quan cốt yếu với một cứu cánh. Nơi thánh nữ Gertrude, sự kết hiệp với Chúa giải phóng tất cả bí mật: chỉ có một đòi buộc đích thực là sự kết hiệp, và sự kết hiệp này điều hướng tất cả những đòi buộc khác. Sự thuần khiết của cầu nguyện hệ tại tính triệt để của cứu cánh duy nhất, và do đó kéo theo sự mềm dẻo mà thuận theo thánh ý Chúa. Với cảm thức về sự cô độc trong tình yêu, nhờ tính chừng mực nhân bản và nhờ ơn gọi siêu nhiên, thánh nữ Gertrude có được lợi khí giáo huấn và tham vấn. Chính nhờ buông mình cho sự hướng dẫn của Chúa mà thánh nữ hóa giải được vấn đề bề ngoài có vẻ mâu thuẫn giữa ơn thần bí siêu vời khôn tả với nhu cầu diễn tả nó cho người khác sự phong phú của tình yêu Thiên Chúa (lib. 4, c. 2).

Một trong những hệ quả tâm đắc nhất của thánh nữ về sự kết hiệp này là sự liên kết giữa tình cảm và sự xứng hợp, vốn làm cho thánh nữ niềm xác tín này là tất cả những yếu đuối, những khiếm khuyết và những chểnh mảng của ngài đều được Chúa đắp (supplée), khi làm cho thánh nữ nên người thừa hưởng kho tàng hoàn thiện vô biên của Ngài. Với niềm tin vào sự bù đắp ấy, tất cả được hòa điệu, từ cảm thức khiêm tốn nhất về sự bất xứng của mình đến khả năng phát ngôn với uy quyền nhân danh Chúa.

Kinh nghiệm của thánh nữ Gertrude minh họa cách tuyệt hảo đặc tính nhất quán về linh đạo thực hành trong nội vi đan viện, nhờ thấu nhập cách bền bỉ vào các sinh hoạt đan tu, từ nguyện gẫm, lectio divina cho đến những trách vụ khiêm hạ nhất của công việc tay chân, những công việc mà bề ngoài có vẻ rập khuôn và đơn điệu nhàm chán. Như thế sự tương thích giữa việc giữ luật dòng hoặc ngay cả kinh nguyện tại ca tòa và việc hồi tâm suy niệm cũng không đặt ra vấn đề lớn, dù đôi khi sự căng thẳng vẫn có, nhưng sớm được giải quyết (Revelationes, lib. 3, c. 44, 85).

  1. Ơn linh hứng

Những ân huệ lớn lao của sự kết hiệp, thường được kèm theo một vài hiện tượng rất ý nghĩa cách ngoại thường. Cùng với nhiều nhà thần bí khác, thánh nữ Gertrude cũng biết đến những vết thương tình yêu, việc trao gửi con tim và những dấu đinh trong nội tâm,… Chúng ta cũng có thể nhận ra nơi một số đoạn nhất định trong tác phẩm của ngài, dấu vết của sự ngất ngây khi xuất thần, nhưng sự ám chỉ này rất ý nhị kín đáo và không bao giờ thánh nữ vội vàng mô tả “tình trạng” này. Trái lại, để xác quyết và thông truyền sứ điệp tâm linh của mình, thánh nữ kiên trì theo đuổi tìm cách thể hiện và nơi những hội thảo.

Các nhà thần học có thể bị cám dỗ tự hỏi về bản chất nào của những trao đổi này. Một số nhà xuất bản thậm chí đi đến chỗ dựa vào những xác minh thần học gây nên sự chú ý đối với những “mặc khải tư” như thế. Rất nhiều scholiae (phê bình) của nhà xuất bản Tây Ban Nha năm 1599 trả lời cho những toan tính này, và trong xuất bản đầu tiên bằng Pháp ngữ (Paris, 1619), việc thêm vào một “vấn đề thần học về mặc khải thần linh, những thị kiến, cuộc trao đổi và những ân huệ khác tương tự” của thầy Denys thuộc dòng Mẹ Thiên Chúa, nói chung là những nốt thần học ấy được lấy lại trong các bản dịch sau này. Vả lại, người ta có thể nói rằng người viết bản thảo đầu tiên đã giữ lại chúng bất chấp phản ứng của các nhà thần học và đã cố gắng chứng minh một số ân huệ do “thẩm quyền Kinh thánh hoặc các Giáo phụ” được trích dẫn bên lề, cũng đồng thời được các tiến sĩ đương thời xác nhận.

Thực ra, vấn đề mặc khải nơi thánh nữ Gertrude không giúp gì nhiều cho những thần học gia có tính tỉ mỉ. Chắc chắn không dễ dàng xếp những mặc khải đó vào loại nghiêm ngặt, có chăng xếp chúng vào loại văn chương thiên về những hiện tượng ngoại thường đặc biệt nhất. Nhà xuất bản đầu tiên là Lanspergius năm 1536 tuyên bố rằng việc xếp loại như thế là hoàn toàn vô ích đối với việc ý thức về sứ điệp và lợi dụng sứ điệp đó. Ý cốt yếu ở đây là diễn tả thực tại khách quan ơn linh hứng của Thiên Chúa, hoặc là ơn linh hứng này dưới dạng chính xác và ngay cả dạng xuất thần, hoặc là được rút tỉa từ ơn kết hiệp liên lỉ. Hai nhận định của nữ đan sĩ chịu trách nhiệm soạn thảo cuốn Héraut về việc này thật rõ ràng minh bạch. Một đàng, việc “đạo diễn” nếu có thể nói như vậy, về các hoạt động của Thiên Chúa trên các suy niệm và phán đoán của thánh nữ nhắm đến thiện ích của độc giả hơn là bản thân thánh nữ vì chính ngài cũng ý thức về sự lệ thuộc của mình (Revelationes, prologue). Đàng khác, khi thánh nữ càng tiến sâu vào con đường thần bí trút bỏ hoàn toàn này, càng không cần đến những xác nhận tích cực từ phía Thiên Chúa; chính sự thân mật càng sâu xa của đời sống kết hiệp đã dạy cho tân nương biết những kín nhiệm của Tân Lang (lib. 1, c. 17).

  1. Việc tôn kính và sự ảnh hưởng

Hiếm có thủ bản nào được biết cho đến hôm nay là buộc chúng ta nói rằng các bản văn đã không được quảng bá, ngay cả tại Đức, trước đợt xuất bản năm 1536 do các đan sĩ Chartreux ở Cologne. Vả lại những người này cũng ý thức rất rõ việc không để lãng quên chứng tá thần bí này. Viện phụ đan viện Liessies – Louis de Blois (+1566) đã vay mượn các bản văn của đan viện Helfta trong tác phẩm Monile spirituale của mình đã quảng bá thánh nữ Gertrude trong môi trường đan tu từ thế kỷ 16. Các giai đoạn tôn kính thánh nữ cho thấy các chuyển biến sự nổi danh của thánh nữ.

Có người tin rằng trong một tài liệu vào năm 1360 đã nói đến ngày lễ thánh nữ Gertrude. Nhưng chắc không phải thánh nữ Gertrude Cả, mà có lẽ thánh nữ Gertrude vùng Nivelles qua đời năm 659.

Các nam nữ đan sĩ của Hội dòng Mont-Cassin chọn cử hành lễ thánh nữ vào năm 1654, Hội dòng Olivet năm 1663 và tại Bồ Đào Nha năm 1670, Tây Ban Nha năm 1673, và trong toàn dòng Biển Đức vào năm 1674. Được ghi tên vào Sổ Bộ Các Thánh ngày 22 tháng Giêng năm 1678. Lễ kính ngài tại vùng Saxe chỉ vào năm 1738 và được tôn kính trong Giáo hội hoàn vũ vào năm 1739.

[1] Đài phát thanh Vatican, chương trình Việt ngữ ngày 17.11.2023.

[2] Linh đạo Xitô, Nxb Beauchesne, 1998, tr. 188-199.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://www.smp.org/resourcecenter/resource/7394/)

CÙNG CHUYÊN MỤC