danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (08) – CẦU NGUYỆN – MỘT TIẾP CẬN TRIẾT HỌC

Tác giả: FM. Théophane Ven Phạm Hữu Ái

 

Từ điển bách khoa triết học cũ có trình bày một bài viết về từ “cầu nguyện,”[1] chủ đề này lại vắng bóng trong các tự điển bách khoa triết học ngày nay. Điều đó cho thấy dường như có một cái nhìn tiêu cực về việc cầu nguyện. Một số lớn các triết gia cho rằng cầu nguyện chẳng khác nào là một phép thuật hay cầu nguyện sẽ làm suy giảm tính siêu việt của Thiên Chúa.[2] Dầu vậy, chưa có một lời phê bình nào của các triết gia đạt được mức thành công là loại bỏ việc cầu nguyện. Tương tự như thế, chưa có một lý tưởng cầu nguyện triết học nào có thể thay thế việc cầu nguyện trong tôn giáo. Có chăng chỉ là phương tiện giúp cho việc cầu nguyện trong tôn giáo được hoàn bị hơn. Bởi vì cầu nguyện là chức năng thiết yếu của tinh thần con người.

Vì lý do đó mà có nhiều cách cầu nguyện khác nhau: cầu xin, tạ ơn, chuyển cầu, thờ phượng… Và cũng có nhiều định nghĩa và các sắc thái, hình hài khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một điểm là: cần có niềm tin. Người ta chỉ cầu nguyện khi người ta tin tưởng và càng có niềm tin, con người càng có một đời sống cầu nguyện thâm sâu hơn.

Tuy nhiên, niềm tin không chỉ hiện diện trong lãnh vực tâm linh mà là một thành tố căn bản trong cấu trúc bản thể học và ngay cả trong kinh nghiệm sống của con người. Con người chỉ có thể tồn tại viên mãn, có ý chí vươn lên và sinh tồn khi có niềm hy vọng và sống cho một lý tưởng. Hy vọng, lý tưởng là điều con người phải hướng đến. Nó chưa hiện hữu trong hiện tại. Nếu đã hướng đến thì niềm tin chính là động lực. Do đó, với ánh nhìn này, “cầu nguyện” theo nghĩa rộng là một yếu tố thiết thực trong hành trình làm người.

Yếu tố này theo cách tiếp cận hiện sinh là một tổng hợp của lý trí, ý chí, tình cảm và tâm linh trong cơ cấu của bản thể học. Nó bao gồm và phát sinh từ kinh nghiệm sống; từ một cuộc tìm kiếm chân lý và cả một lòng khao khát vươn lên cho một “nỗi khát khao” của con người. Nó rất thiết thực nhưng thường bị lãng quên.

  1. Kinh nghiệm sống

Auguste Comte phân chia lịch sử nhân loại thành ba thời kỳ: Thời kỳ siêu hình học, tôn giáo và cuối cùng là thời kỳ khoa học. Trong hai thời kỳ đầu con người hướng về “Thượng Đế.” Nhưng theo ông, khi con người sống và sinh hoạt với những thành tựu của khoa học, thượng đế không còn lý do để tồn tại. Con người không còn sợ hãi trước sự hùng vĩ của thiên nhiên nữa, vì họ biết rằng đó chỉ là những hiện tượng rất tự nhiên có thể giải thích và kiểm soát được nó. Trong khi đó, với Feuerbach, tôn giáo là một phóng chiếu của ước vọng con người lên một Thiên Chúa không hề hiện hữu.[3] Henry Bergson nhìn nhận tôn giáo như là một phương tiện rất hữu ích giúp cho cuộc sống con người vui hơn, tốt hơn và đáng sống hơn. Tất cả những ý kiến này đều chấp nhận một thực tế mang tính lịch sử: niềm tin vào một “Thượng Đế” được hình thành trong và nơi cuộc sống thường nhật. Một cuộc sống, một lịch sử do chính sự hiện hữu của con người (Dasein) tạo nên, khi họ “tiếp thông” và “khai mở” với thế giới. Thế mà con người có giới hạn, con người không thể có một tiếp thông vô hạn, nên mở ra với thế giới trong một không gian và thời gian nhất định. Điều ấy có nghĩa rằng con người tiếp nhận thế giới trong một chân trời mà mình đang sống và việc tiếp nhận này mở ra cho họ một chân trời mới hơn. Cứ như thế, tầm nhìn con người càng mở rộng, kinh nghiệm thêm phong phú. Tầm nhìn giúp cho chiều sâu của kinh nghiệm càng phong phú hơn. Ngược lại, bề dày của kinh nghiệm củng cố thêm tầm nhìn và tạo ra một tiếp cận thật mới mẻ trong cuộc sống con người. Tương tự thế, kinh nghiệm về con người như là một “hữu thể nhân học,” “hữu thể cầu xin” được in sâu trong cuộc sống tại thế của con người.

Kinh nghiệm đầu tiên chính là kinh nghiệm về xã hội. Tôi được sinh ra trong một gia đình. Vừa mở mắt chào đời, tôi đã có người nâng niu, âu yếm và hỗ trợ cho tôi, tôi cần họ. Lớn lên, tôi cần đến những người bạn đến nỗi khi vào tuổi thiếu niên, tôi tin bạn hơn tin cha mẹ tôi. Khi trưởng thành, tôi cần sự giúp đỡ của các đồng nghiệp để chắp cánh cho tôi thăng tiến sự nghiệp. Một cách tự nhiên, tôi cần người bạn thân thiết hơn để đồng hành với tôi suốt đời. Đó có thể là người bạn đời, cũng có thể là người bạn cùng chí hướng, cùng lý tưởng hay cùng một sứ vụ. Cần bạn đương nhiên phải tin bạn. Tin bạn là bước vào một hành trình hy vọng. Thế mà tất cả niềm hy vọng đều bấp bênh và dở dang vì tự tôi, tôi không thể làm chủ nó được. Nó lệ thuộc vào đối tượng, nhưng đối tượng cũng bấp bênh và dở dang như tôi. Thực tế này đã biến tôi trở thành một “lời cầu khẩn” mặc nhiên với Thiên Chúa vô hình, mà trong thực tại tôi cứ lầm tưởng mình hoàn toàn tự chủ, tự quyết cuộc đời mình.

Từ kinh nghiệm này, tôi nhận ra xã hội không phải là một cỗ máy, được vận hành theo một nguyên lý và tiếp xúc với nhau dưới vai trò như một chức năng. Bởi vì tôi cần người khác, tôi có niềm tin vào người khác. Niềm tin và lời cầu khẩn mặc nhiên này cho tôi một cảm nghiệm và một kinh nghiệm: Tôi hiện hữu trong tương quan với tha nhân. Tha nhân mà tôi đối diện, mặt đối mặt được dựng nên theo và giống hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,26). Những người đó hiện diện trong cuộc đời, trong sự nghiệp và ngay cả trong sự sống của tôi. Theo Lévinas, họ là người tạo nên tôi, vì nhờ qua tương giao với họ mà người khác nhận biết tôi là một chủ thể mang tính xã hội. Chúa Giêsu nhắc cho tôi: tha nhân là chính Chúa, vì khi các con làm cho những người bé mọn này là làm cho chính Ta (x. Mt 25,31-46).

Mặt khác, Lévinas đã triển khai sự thật này rất hay qua việc phân tích “gương mặt” của tha nhân và khám phá được “Siêu Việt Thể,” khám phá ra Thiên Chúa mà tôi hướng về trong sự tôn kính. Như vậy, chính trong tương quan đạo đức này tôi có một kinh nghiệm mới trong tương quan với Thiên Chúa, Đấng siêu việt.

Ngoài ra, Lévinas cảm hứng từ Tin mừng khi nhấn mạnh đến cách thức nhận ra tha nhân không phải bằng lý trí, tư tưởng mà là qua thân xác, với thân xác: “mỗi lần các con cho kẻ đói ăn, kẻ khát uống… là các con làm cho chính Thầy”. Chính với thân xác tôi nhận ra tha nhân và cũng nhận ra tôi. Kinh nghiệm này khiến cho tôi nhận ra mình mãi mãi là con người dang dở như cảm nghiệm của thánh Augustinô: “Lạy Chúa linh hồn con mãi khắc khoải khôn vơi cho đến khi nào được nghỉ an trong Chúa” (Tự thuật 1,1). Từ đây, tôi càng thêm xác tín: trải nghiệm cuộc sống làm người là trải nghiệm của một lời “cầu khẩn mặc nhiên” và tôi chỉ thực sự hiện hữu khi gắn bó với Thiên Chúa, nguồn sự sống và sung mãn.

  1. Khao khát chân lý

Aristote định nghĩa “con người là con vật có lý trí”. Đông phương khẳng định: “Nhân linh ư vạn vật”. Cả Đông và Tây đều nhìn nhận lý trí như là đặc tính của con người so với các loài thụ tạo khác. Với lý trí, con người khao khát muốn đi tìm chân lý, tìm về căn nguyên của vũ trụ, nguồn suối của nhân loại. Lịch sử triết học từ Cổ đại cho đến thời Trung cổ, ngay cả Cận đại và Đương đại hình như là một sự cố gắng tìm kiếm “động cơ đệ nhất” hay cái “nền tảng nhất” theo nhiều cách thức và cách gọi khác nhau. Khi đi tìm như vậy, rất nhiều triết gia chấp nhận “Động cơ đệ nhất” ấy là đỉnh điểm tuyệt đối. Vì là tuyệt đối nên đương nhiên phải là tuyệt hảo, là sự thiện tối hậu, nguồn hạnh phúc mà con người, vũ trụ hướng tới để đạt được sự sung mãn tròn đầy. Xem ra triết học mang tính duy lý nhất thì vấn đề của nó cũng không chỉ nhằm vào một kết luận thuần lý, phục vụ cho khía cạnh tri thức, nhưng song song với nó là cả một ước vọng mong muốn tìm kiếm “sự thiện tối hậu” nằm trong nỗi khao khát hướng thiện của con người.

Hiểu như thế nhưng không thể đồng hoá Thiên Chúa của lý trí và Thiên Chúa của đức tin được, vì một bên thuần lý, bên kia là một ngôi vị. Phải chăng cầu nguyện vừa hướng về Thiên Chúa của lý trí và Thiên Chúa của mặc khải?

Chỉ có Thiên Chúa ngôi vị là Đấng mà chúng ta có thể cầu nguyện, vì Ngài thông suốt và biết được ý muốn của con người. Sách Xuất Hành đã tường thuật lại câu chuyện “Bụi gai bốc cháy” (x. Xh 3,1-22), qua đó Thiên Chúa mặc khải tên mình cho Môsê: “Ta là Yahve” (x. Xh 3,14). Đức Bênêdictô XVI đã chuyển dịch tên Thiên Chúa bằng những hạn từ rất hiện sinh: “Ta là Hiện hữu”.[4] Người hiện diện nên Người ở bên, kề cận chúng ta và sẵn sàng lắng nghe, cũng như đáp ứng lời kêu cầu của dân chúng. Người đã nghe tiếng kêu than của dân Người và mời gọi Môsê như cánh tay nối dài tỏ bày tình yêu và lòng thương xót của Người.

Khi cầu nguyện, chúng ta cần một Thiên Chúa ngôi vị để lắng nghe, để đáp lại chúng ta, nhưng lý trí không dừng ở đó, nó buộc con người phải chấp nhận Thiên Chúa phải là Đấng bất biến. Tính bất biến này không theo nghĩa tĩnh tại, trái lại sống động tuyệt đối và không bị chi phối bởi bất cứ tác động ngoại tại nào (xem tư tưởng của Aristote về động cơ đệ nhất, nguyên nhân đệ nhất). Trong lịch sử thần học, hai yếu tố này được diễn tả qua hai con đường thần học: Augustinô và Kinh viện. Một bên nhấn mạnh đến tính duy nhất; bên kia là tính bất biến tích cực, gắn liền với sự trở thành và thay đổi. Như vậy, Thiên Chúa của lý trí và mặc khải có những chủ ý khác nhau, nhưng cũng chỉ nói về  một Thiên Chúa. Ngài là “Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob”, nghĩa là một ngôi vị; Thiên Chúa đó cũng đồng thời là Đấng tuyệt đối, bất biến và là nguyên nhân đệ nhất. Ngài vừa gần gũi, vừa siêu việt.

Thật vậy, cầu nguyện với Thiên Chúa là đối thoại, là yêu. Nếu là đối thoại, là yêu thì Thiên Chúa sẽ như là một người bạn. Ngài là bạn mà lại siêu việt và bất biến. Hai yếu tố bạn và bất biến không hề đối lập nhau. Vì khi đối thoại Thiên Chúa phải là Đấng đang hiện diện, cụ thể, gần gũi, lắng nghe như một người bạn, nó thuộc về khía cạnh hiện sinh. Nhưng Ngài cũng là bất biến, siêu việt thì mới thực sự hợp lý khi đề cập đến một Thiên Chúa sẵn sàng lắng nghe và đáp ứng lời kêu cầu của con người. Ở đây, rõ ràng tri thức và hiện sinh song hành, đồng thời bổ túc cho nhau khi con người cầu nguyện. Tri thức (lý trí) soi sáng cho cầu nguyện (đức tin), và ngược lại, cầu nguyện củng cố tri thức (lý trí). Trong thực tế, nếu chúng ta không quan tâm khía cạnh hiện sinh (cụ thể) khi cầu nguyện, thì trước mặt chúng ta chỉ là thần tượng của một siêu việt thể trống rỗng. Nếu chỉ dừng lại khía cạnh hiện sinh, thì tính siêu việt của Thiên Chúa có nguy cơ hạ thấp và trở thành tầm thường. Nếu thiếu một trong hai thì con người không đủ động lực để kiên trì với đời sống cầu nguyện. Lúc đó, cầu nguyện trở thành như một trò ma thuật, áp đặt ý muốn của mình trên Thiên Chúa và “ép” Ngài thực hiện những gì chúng ta muốn. Như vậy, kinh nghiệm sống, tri thức và khát vọng là ba chiều kích tạo nên một tác động cầu nguyện thật sự nơi người Kitô hữu.

  1. Khát vọng

Qua cuộc sống, chúng ta có những kinh nghiệm về sự linh thánh khác nhau. Theo Rudolph Otto[5], con người tiến lên theo ba cấp độ mỗi ngày một cao siêu hơn.

Trước hết, kinh nghiệm linh thánh như là một sự gặp gỡ với “nỗi sợ hãi”. Nó cũng giống như tư tưởng của Auguste Comte khi đề cập đến giai đoạn siêu hình học trong tiến trình phát triển của con người. Con người đứng trước một Thiên Chúa, một Thượng Đế quyền năng, oai nghiêm. Nên gặp gỡ với Thiên Chúa này như là gặp gỡ một điều gì đó cao cả hơn chúng ta. Đứng trước “Đấng này” chúng ta cảm thấy mình quá nhỏ bé, yếu đuối và chẳng là gì cả. “Đấng ấy” giống như một ông vua mà chúng ta được biết qua lịch sử, qua những thước phim… rất oai phong và quyền uy mà tất cả thần dân phải cúi mình, không dám diện kiến. Cựu ước một phần nào đã từng phác hoạ một Thiên Chúa như thế mà không ai có thể nhìn thấy “nhan thánh” Ngài. Ngay cả Môsê đã được diện kiến, nhưng chỉ thấy ở phía sau, vì Ngài là Đấng chí thánh, ai nhìn thấy sẽ phải chết (x. Xh 33,18-33).

Thứ đến, sự linh thánh như là cuộc gặp gỡ với huyền nhiệm. Jaspers đã diễn tả kinh nghiệm này trong quyển sách với tựa đề “Philosophie”, gồm ba quyển, mà quyển thứ 3 đề cập đến Siêu Việt Thể. Theo ông, Siêu Việt Thể là đối tượng của hiện sinh, của kinh nghiệm sống, chứ không phải là đối tượng của tri thức. Đây là kinh nghiệm tinh thần. Thế nhưng, chúng ta chỉ có thể chứng nghiệm có Siêu Việt Thể và biết mình đang tiếp cận, nhưng không bao giờ bao quát được. Đây cũng là kinh nghiệm của Pascal “nếu có một Thiên Chúa thì Ngài vô cùng khôn dò, chúng ta không thể biết Ngài như Ngài có”. Thiên Chúa đó hoàn toàn khác biệt, con người hướng đến gặp Ngài trong sự tôn kính và bối rối, hoàn toàn xa lạ với chúng ta.

Cuối cùng, thực tại linh thánh thì “hấp dẫn”, lôi kéo chúng ta đến với nó, làm cho con người khát khao. Nó không làm cho chúng ta khiếp sợ, trái lại hấp dẫn lôi kéo tới và đồng thời đẩy chúng ta ra xa. Kinh nghiệm này là kinh nghiệm của Môsê khi đối diện với bụi gai bốc cháy (x. Xh 3,1-22). Ông bị hấp dẫn bởi “Bụi Gai” kỳ lạ, với lời mời gọi của Chúa nhưng đồng thời ông phải tháo dép ra “vì nơi đây là nơi thánh.”

Trong khi đó, Tân ước trình bày một kinh nghiệm rất hiện sinh về linh thánh: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18), để “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9b). Như vậy, Chúa Giêsu là “nhan thánh” của Chúa Cha mà con người có thể chiêm ngưỡng, tiếp cận, đối thoại và sống cùng. Ngài trở nên bạn, rất gần gũi, trở nên của ăn và hiệp thông trọn vẹn qua việc trao ban chính mình qua bí tích Thánh Thể. Kinh nghiệm linh thánh cho con người giải được “cơn khát” nằm sâu trong cấu trúc căn bản của bản thể, luôn hướng về sự thiện hảo tối thượng. Sự Thiện Hảo mà con người đạt đến qua con đường hiện sinh và ân huệ đến từ Thiên Chúa.

Các kinh nghiệm này tuy được phân chia rạch ròi, nhưng trong thực tế, nó pha trộn vào nhau. Việc pha trộn này tuỳ thuộc vào hai yếu tố: Thiên Chúa mà họ khao khát hướng đến theo kinh nghiệm nào và tình yêu nuôi dưỡng lòng khao khát này là eros, philia hay agape. Thực tế cuộc sống cho thấy Thiên Chúa mà ta hướng về cũng có thể thay đổi: thay đổi từ một ông vua qua huyền nhiệm hay ngược lại; hoặc trở thành “Đấng hấp dẫn” chúng ta hay một Thiên Chúa tình yêu. Trong chiều hướng khác, tình yêu mà chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng thay đổi, vì trần gian đang dang dở, nên eros, philia và agape không bao giờ là một đường thẳng, trái lại là một sự pha trộn, thay đổi liên tục tuỳ theo chủ hướng và hoàn cảnh của con người. Bởi thế mà cấu trúc bộ ba của cầu nguyện: kinh nghiệm sống, lý trí và khát vọng luôn tương tác lẫn nhau. Trong cấu trúc này luôn bao hàm tính nội tại và ngoại tại. Tính nội tại nhấn mạnh đến thái độ tự do, thúc đẩy để ngoại tại đạt đến trạng thái tròn đầy của hành vi cầu nguyện: nâng mình lên với Thiên Chúa, trong cuộc đối thoại thân tình, với một tình yêu thực sự.

Trong niềm tin Kitô giáo, tự do phải là tự do của con cái Chúa, là ân huệ nhưng không, luôn hướng về sự thiện. Với triết học hiện sinh hữu thần, trong đó, G. Marcel quan niệm tự do hiện sinh là một cam kết cụ thể trong mỗi hành vi của một tinh thần nhập thể, nghĩa là không phải tinh thần suông hay thân xác suông. Theo ông, tự do mời gọi chúng ta phải hiện diện với thế giới trong từng giây phút hiện tại với cả tinh thần và thể xác. Jaspers thì chủ trương tự do là một trách nhiệm và một lo âu của một nhân vị đã tự giác và dám tự quyết. Quan niệm của G. Marcel và Jaspers, mỗi người có một dáng vẻ khác nhau, nhưng nhấn mạnh đến trách nhiệm của nhân vị tự do, đảm nhận những hoàn cảnh cụ thể. Theo đó, tính nội tại của cầu nguyện là một thái độ tự do trách nhiệm với mình, với tha nhân và với thế giới. Một thái độ như thế rất gần với tự do Kitô giáo.

Nếu việc cầu nguyện của chúng ta có được động lực của tự do này, lòng khao khát hướng về Thiên Chúa ngôi vị sẽ lần lượt tiến lên từ  “yêu mình vì mình”, một tình yêu vị kỷ, để tiến tới “yêu Chúa vì mình”, vì Chúa là Đấng tốt lành và vươn xa hơn là “yêu Chúa vì Chúa”, để cuối cùng đạt tới mức thần hoá: “yêu mình vì Chúa.”[6] Đây là đích đến của việc cầu nguyện và là tiếng Amen tròn đầy của một cuộc đối thoại tình yêu giữa Thiên Chúa và con người.

Cầu nguyện không phải là chủ đề của triết học, ít là theo trào lưu của triết học cận đại và hiện đại, nhưng hành vi cầu nguyện là hành vi của một “tinh thần nhập thể”. Nó cần có đức tin như là ân huệ của Thiên Chúa; nó cũng cần đến những gì thuộc về thân xác, vì cầu nguyện luôn luôn là cầu nguyện trong thân xác. Theo Merleau Ponty: tôi là thân xác tôi; thân xác tôi là tôi. Vì thế, đề cập đến cầu nguyện theo góc độ triết học là một nỗ lực giúp mỗi người khám phá ra tầm quan trọng của kinh nghiệm sống, tri thức và khát vọng.

Kinh nghiệm sống được hình thành qua cuộc sống của mỗi người. Kinh nghiệm ấy có trở thành trợ lực cho hành vi cầu nguyện đích thực hay không tuỳ thuộc vào ý hướng của mỗi người. Nếu cuộc đời chúng ta “chỉ tìm kiếm một mình Thiên Chúa” và “mến mộ việc phụng vụ”, đương nhiên tâm hồn sẽ mãi hướng về Chúa và ước mong được “nên một” như lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong “Lời Nguyện Hiến Tế” (x. Ga 17). Song song với việc đào luyện chủ ý của mình, thiết nghĩ phải toàn tâm, toàn ý thanh luyện lý trí để có một sự hiểu biết Thiên Chúa đích thực, là nền tảng vững chắc cho một tình yêu agape trọn hảo, vì “chúng ta không thể không yêu Chúa nếu chúng ta biết rõ Chúa”.

[1] Johann Georg Walch, xuất bản năm 1775 hay của Wilhelm Traugott Krug, xuất bản 1832.

[2] E. Kant, Tôn giáo trong giới hạn của lý trí đơn thuần, 1793.

[3] Weger. K., Phê bình tôn giáo qua các tác giả, tr. 88.

[4] Bênêđictô XVI, Đức Giêsu thành Nazareth, q. 1, tr. 144.

[5] Michael. D. Moga, Lê Đình Trị chuyển dịch, Trong sự tìm kiếm Tôn giáo đích thực, Nxb Phương Đông, 2013, tr. 11-13.

[6] Thánh Bênadô, khảo luận “Thiên Chúa là tình yêu”, số 23-27.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC