danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (11) – CUNG CÁCH KHI HÁT THÁNH VỊNH THEO TU LUẬT THÁNH BIỂN ĐỨC

Tác giả: FM. Tôma Aquinô Thái Văn Dũng

 

Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn mọi Kitô hữu. Đan sĩ sẽ không còn là đan sĩ nếu không cầu nguyện. Đó là lý do tại sao cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận đã đưa ra một định nghĩa tuy rất ngắn nhưng đầy đủ về đan sĩ như sau: Đan sĩ là con người cầu nguyện.[1] Nhưng cầu nguyện ra sao và bằng cách nào? Có nhiều cách để diễn tả sự cầu nguyện. Theo thánh Têrêxa Avila: “Cầu nguyện là một sự trao đổi thân tình, chuyện vãn với Chúa, Đấng chúng ta biết là Ngài yêu chúng ta,”[2] “là một tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô.”[3] Hay theo cách nói của cha Tổ Phụ Biển Đức Thuận thì cầu nguyện là “sự gặp Chúa cách thân tình, như giữa cha và con.”[4]  Nhưng làm sao để giúp các đan sĩ chuyện vãn luôn với Chúa? Truyền thống xa xưa trong đời sống Giáo hội, đặc biệt là trong đời sống đan tu đã cho đan sĩ một phương thế tuyệt hảo để tâm sự và cầu nguyện luôn với Chúa và nó vẫn còn tồn tại mãi tới nay. Đó là dùng các Thánh vịnh mà cầu nguyện, cũng được gọi là cầu nguyện với các giờ thần vụ hay Phụng vụ Giờ kinh[5]. Đề tài của bài viết này: Cung cách khi hát Thánh vịnh theo Tu Luật thánh Biển Đức (chương 19), gợi lên cho ta một vài suy tưởng cần tìm hiểu và phân tích về việc cầu nguyện với Thánh vịnh, và cung cách khi cầu nguyện với các Thánh vịnh những mục sau: 1) Thánh vịnh là gì? 2) Tầm quan trọng của cầu nguyện với Thánh vịnh trong đời sống Giáo hội nói chung và trong đời sống đan tu nói riêng? 3) Cung cách khi hát Thánh vịnh theo Tu luật thánh Biển Đức.

1. Thánh vịnh là gì?

Các Thánh vịnh được kết lại với nhau thành bộ sách Thánh vịnh, là “một cuốn Kinh thánh thu gọn trong đó bao gồm những gì đẹp nhất và ngắn gọn nhất của Kinh thánh.”[6] Nó bao gồm hầu như toàn vẹn những yếu tố thần học.[7] Nơi đó diễn tả tất cả những tâm tư, tình cảm, cả những nỗi khắc khoải, và tất cả mọi cảnh huống mà dân Israel đã từng cảm nhận và sống. Chính họ dâng lên Thiên Chúa tất cả những tâm tư ấy trong cuộc sống lữ hành. Nếu cầu nguyện là cuộc chuyện vãn giữa con người với Thiên Chúa, thì sách Thánh vịnh của người Do thái là cuốn sách tuyệt hảo để diễn đạt cuộc sống cũng như tâm tư của những cuộc chuyện trò ấy. “Thiên Chúa cũng như con người, mà đại diện là vịnh gia, đã ký thác vào trong từng Thánh vịnh, từng câu, từng chữ những tâm tình, ưu tư hay ước nguyện của mình dưới sự hướng dẫn của Thần Khí.”[8] Vì thế, nếu đi xa hơn một chút ta nhận ra một điều, nếu Kinh thánh là lời của Thiên Chúa nói với con người, thì ở đây “các Thánh vịnh – không chỉ là Kinh thánh – mà nó còn chứa đựng cả lời cầu nguyện của con người.”[9]

Bộ sưu tập Thánh vịnh của người Do thái chứa đựng tâm tình chúc tụng, bao gồm 150 Thánh vịnh và được chia thành 5 cuốn. Cuốn thứ nhất khởi từ Thánh vịnh 1- 41, cuốn thứ hai từ Thánh vịnh 42-72, cuốn thứ ba từ Thánh vịnh 73-89, cuốn thứ tư từ Thánh vịnh 90-106, và cuốn thứ năm từ Thánh vịnh 107-150. Theo ngôn ngữ của bản văn Kinh thánh Hipri, các Thánh vịnh được gọi là “Tehillim”, có nghĩa là những bài ca chúc tụng,[10] theo nghĩa tiếng Việt “là lời tán tụng thần linh (vì “thánh”: thuộc về thần linh; và “vịnh”: là tán tụng).”[11] Vì thế, cuốn sách Thánh vịnh được gọi là sách Ca ngợi, mà theo thánh Giêrônimô đó là cuốn sách ca ngợi thánh thiêng hay nhất.[12]

Vì mang nhiều sắc thái khác nhau, các Thánh vịnh cũng được chia theo nhiều chủ đề: Thánh vịnh tạ ơn, chúc tụng, cầu xin, giáo huấn, và vương đế.[13] Thánh vịnh tạ ơn là những lời ca mừng về những can thiệp của Đức Chúa trong lịch sử xa xưa, cũng như hiện tại. Trong đó Israel nhắc lại về những lần Đức Chúa đã can thiệp để giải thoát họ, đặc biệt là sự can thiệp của Người để giải thoát những con người nghèo hèn và yếu thế. Để từ đó hướng họ về tương lai với niềm tin tưởng và phó thác vào Đức Chúa. Còn Thánh vịnh chúc tụng “thường mang dấu ấn của phụng vụ và cộng đoàn, qua đó, cá nhân hay cộng đoàn tôn vinh Thiên Chúa.”[14] Các Thánh vịnh này mang màu sắc sự sống và niềm vui dâng tràn, vì Thiên Chúa ban cho Israel sự sống, sự sống ấy không chỉ đơn thuần nhưng là với trọn cả nhân phẩm, nhân phẩm của những người được Thiên Chúa chọn. Thế nên những lời ca tụng này không sáo rỗng, nhưng nó đến từ chính cảm nhận của Israel, nên họ sung sướng mà cất lời chúc tụng về những gì mà Đức Chúa đã, đang, và sẽ thực hiện cho họ.

Nếu sắc thái của Thánh vịnh chúc tụng là hoan lạc và niềm vui, thì Thánh vịnh cầu xin lại mang âm hưởng u buồn. U buồn bởi thiên tai, chiến tranh, thành Giêrusalem bị phá đổ, hay từng cá nhân đang trong tình trạng khốn quẫn của tật nguyền, bị vu khống, bách hại, lưu đày…Những Thánh vịnh này là những lời da diết, than vãn, được kêu gào lên Chúa, để tế nhị nhắc khéo Thiên Chúa về những việc uy quyền của Người đã làm trong quá khứ, nhằm được trợ giúp và xót thương trong hoàn cảnh hiện tại. Tâm tình ấy là sự tin tưởng phó thác vào quyền năng của Chúa. Kế tiếp là các Thánh vịnh mang tính giáo huấn. Chúng thường mang đặc tính của những bài giáo huấn về sự khôn ngoan, đời sống luân lý, lề luật, và cả vấn đề thưởng phạt. Những giáo huấn ấy nhằm giúp Israel ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày, giúp họ suy tư, và cảm nhận được qua chính kinh nghiệm mà họ kinh qua hằng ngày. Sau cùng là các Thánh vịnh mang thể văn vương đế. Là những Thánh vịnh vương đế vì chúng sử dụng khá nhiều hình ảnh và nghi lễ bên Babylon. Chúng miêu tả quang cảnh đăng quang của các bậc đế vương. Thiên Chúa là vua, Đấng có chủ quyền tối cao và được xưng tụng là vua oai hùng, Chúa các chúa, Vua các vua. Đồng thời “vị Vua ở đây chính là vị thủ lãnh lý tưởng tương lai mà các vua trong Thánh vịnh là hình ảnh tiên báo: vừa là Vua Israel vừa là Vua mọi dân nước, Người chính là Đức Kitô: là Vua các vua, Đấng thống trị đến muôn đời (Kh 11,15; 19,16).[15]

Dù mang các sắc thái khác nhau như thế, nhưng chúng ta nhìn ra được chủ đích thâm thuý ở điểm kết thúc trong năm cuốn của bộ sưu tập Thánh vịnh. Các chủ đề của các Thánh vịnh trong từng cuốn có thể khác nhau, nhưng Thánh vịnh kết thúc của mỗi cuốn lại quay lại với tên gọi của sách Thánh vịnh là “chúc tụng”, với những lời tung hô như: “Hãy chúc tụng Đức Chúa!” Hoặc các kiểu diễn đạt khác như “hãy ca ngợi Thiên Chúa!” hay Alleluia.[16] Điều ấy như muốn minh định rằng mọi sự đều dưới sự cai quản của Thiên Chúa, dù cuộc sống này có ra sao, quá khứ, hiện tại, hay tương lai, sau cùng Thiên Chúa vẫn là Đấng chiến thắng. Người sẽ đứng lên đúng lúc và đúng thời mà Người muốn để cứu thoát những ai hằng cầu xin Người, để rồi muôn nơi, muôn người sẽ vang lời chúc tụng và tạ ơn Chúa không bao giờ cùng.

2. Tầm quan trọng của cầu nguyện với Thánh vịnh trong đời sống Giáo hội nói chung và trong đời sống đan tu nói riêng

2.1 Trong đời sống Giáo hội

Qua bao đời, dân Israel đã cầu nguyện với Thánh vịnh. Chúng ta biết, các Thánh vịnh được sưu tầm và ghi lại từ nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử của dân Chúa. Dù thật khó để xác định niên biểu của chúng, nhưng phần lớn các học giả đều đồng thuận rằng đại đa số các Thánh vịnh được soạn thảo dưới thời các vua (Tk X-VI tCN), một số khác lại được biên soạn trong thời lưu đày (Tk VI tCN) và phần còn lại là vào thời đền thờ được tái thiết (khoảng năm 538 tCN), tức sau thời lưu đày. Chúng hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đời sống phụng vụ của Israel.[17] Và vua Đavít được coi là tác giả của các Thánh vịnh. Như thế, lịch sử của Israel luôn gắn liền với các Thánh vịnh. Đó là cách thức họ cầu nguyện trong mọi biến cố của cuộc sống. Họ dùng chính các Thánh vịnh để bộc bạch hết tâm tình với Thiên Chúa, Đấng đã chọn họ làm dân riêng, và hằng luôn đồng hành với họ trong suốt hành trình. Đúng như lời Katheleen đã nói: “Các Thánh vịnh mặc khải nhật ký hành trình đức tin của Israel và nhờ cầu nguyện với Thánh vịnh mà họ vượt qua được hành trình này.”[18] Lời sau đây của André Chouraqui, một thi sĩ người Do Thái, cho ta thấy mức độ của sách Thánh vịnh trong đời sống cầu nguyện của dân tộc ông thế nào, ông viết: “Chúng tôi sinh ra với tập sách này trong bụng. Một tập sách nhỏ một trăm năm mươi bài thơ, một trăm năm mươi bậc cấp đặt giữa sự sống và sự chết, một trăm năm mươi bức gương phản chiếu những sự nổi loạn cũng như sự thành tín của chúng tôi, những cơn hấp hối cũng như những cuộc hồi sinh của chúng tôi. Còn hơn là một cuốn sách, đây như là một sinh vật đang sống – đang ngỏ lời với bạn – đang đau khổ, đang rên siết và chết, đang phục sinh và ca hát trước ngưỡng cửa của vĩnh hằng.”[19]

Chúa Giêsu và các Tông đồ là những người Do thái, nên cầu nguyện với các Thánh vịnh là việc làm rất quen thuộc. Trong các trang Tin mừng, ta không khó để bắt gặp thấy hình ảnh Chúa Giêsu cầu nguyện. Người dùng Thánh vịnh mà cầu nguyện. Các thánh sử Tin mừng đã ghi lại khoảnh khắc linh thánh trước lúc bước vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đã hát Thánh vịnh với các môn đệ của Người (Mt 26,30; Mc 14,26). Và trên thập giá, Chúa Giêsu cũng dùng lời của Thánh vịnh mà thân thưa với Chúa Cha: “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con” (Tv 31,6; Lc 23,46). Thế rồi, tiếp bước Chúa Kitô, các cộng đoàn tiên khởi cũng dùng Thánh vịnh mà cầu nguyện (Cv 16,25; Ep 5,19; Cl 3,16). Như thế, “Giáo hội trong suốt lịch sử của mình, không ngừng đọc và hát Thánh vịnh trong phụng vụ, một phụng vụ chắc chắn đã in đậm dấu ấn của dân Do thái.”[20] Đến hôm nay, Giáo hội vẫn khát mong con cái mình được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện qua cử hành Giờ kinh Phụng vụ, mà trong đó các Thánh vịnh chiếm phần lớn nội dung. Lời của Giáo hội trong hiến chế Phụng vụ thánh là một minh chứng điển hình: Giờ kinh phụng vụ là lời cầu nguyện chung của Giáo hội, là nguồn phát khởi lòng đạo đức và lương thực cho những ai tham dự. Nhưng điều họ cần để việc cử hành này mang lại hiệu quả tốt nhất là kiến thức phong phú về phụng vụ và Thánh Kinh, nhất là về các Thánh vịnh.[21] Thế nên, Thánh vịnh vẫn thể hiện được tầm quan trọng của nó trong đời sống cầu nguyện của Giáo hội xưa và nay.

2.2 Trong đời sống đan tu

Trong đời sống đan tu, vai trò của Thánh vịnh trong đời sống phụng vụ càng được nhấn mạnh rõ nét hơn. Trước thời thánh Biển Đức, các đan sĩ, nhất là ở Ai Cập, thực hiện châm ngôn “cầu nguyện không ngừng”. Thế nên, 150 Thánh vịnh được họ đọc trong một ngày. Họ thuộc nằm lòng các Thánh vịnh vì thời ấy điều kiện chưa cho phép họ có sách như chúng ta bây giờ. Điều ấy nói lên rằng lời Thánh vịnh hằng luôn trên môi miệng, trong tâm trí, và lời ấy trở nên hơi thở của các đan sĩ. Nếu ta phải nói về họ, thiết tưởng phải nói là họ sống thần vụ, hay thần vụ chính là sự sống của các đan sĩ. Chính thánh Biển Đức, với sự nể phục, mà nói về họ, “bởi vì khi đọc truyện các thánh tiền bối, chúng ta thấy các ngài đã hăng hái chu toàn nhiệm vụ đó trong một ngày” (TL. 19,25). Noi gương các bậc tiền bối, thánh Biển Đức luôn đặt các Thánh vịnh ở một tầm mức quan trọng nhất định.

Đối với thánh Biển Đức, cầu nguyện là hát các Thánh vịnh. Ngài dường như đồng hoá thần vụ là hát các Thánh vịnh. Chương 19 có tựa đề “cung cách khi hát Thánh vịnh”, nhưng trong đó ngài lại ưa dùng những cụm từ như “tham dự thần vụ”, “hát thần vụ”. Thế nên, ngài dùng tới 13 chương, từ chương 8 tới 20, trong Tu luật của mình để chỉ dẫn cách chia các Thánh vịnh trong mỗi giờ kinh, thời điểm và cung cách để cử hành. Chắc hẳn ngài cũng muốn noi gương các vị tiền bối mà nghiền ngẫm hết 150 Thánh vịnh trong một ngày, nhưng hiểu được giới hạn, yếu đuối của con cái và để quân bình trong đời sống cầu nguyện và lao động, ngài sắp xếp đọc hết 150 Thánh vịnh, thay vì trong một ngày, thì nới ra trong một tuần. Theo đó, các đan sĩ sẽ đọc liên tiếp từ Thánh vịnh 1 tới 150, bắt đầu từ kinh Đêm Chúa nhật đến kinh Chiều ngày thứ bảy. Cách sắp xếp này của ngài có sức ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống đan tu những thập kỷ kế tiếp.

Ngày xưa, các đan sĩ của thánh Biển Đức cầu nguyện với Thánh vịnh, ngày nay các đan sĩ chúng ta là con cái của ngài vẫn cử hành thần vụ mỗi ngày, thì hẳn nhiên, chúng ta vẫn cầu nguyện với các Thánh vịnh. Tuy cách phân chia Thánh vịnh trong hai tuần thay vì một tuần và thời gian để cử hành trong đời sống chúng ta có thể khác, nhưng tầm quan trọng của Thánh vịnh thì không thay đổi. Câu hỏi được đặt ra cho các đan sĩ chúng ta hôm nay: Tại sao chúng ta vẫn cầu nguyện với các Thánh vịnh, là những bản văn được sáng tác cách đây mấy ngàn năm, trong bối cảnh của truyền thống đức tin lâu đời khác? Câu trả lời: “dĩ nhiên, câu chuyện của Israel xưa cũng chính là câu chuyện Giáo hội hôm nay. Mỗi khi chúng ta kể, nghe, hay cất cao giọng hát các Thánh vịnh, chúng ta như được đưa trở lại toàn cảnh câu chuyện và rồi ta nhận ra rằng đây chính là câu chuyện của mỗi chúng ta.”[22]

Qua dòng thời gian, giá trị của Thánh vịnh vẫn thế, chỉ có điều cách thức nào giúp cầu nguyện với các Thánh vịnh hay cử hành giờ Kinh thần vụ hiệu quả nhất?

3. Cung cách khi hát Thánh vịnh theo Tu luật thánh Biển Đức

Có rất nhiều yếu tố quyết định tới thành công của một hành động, một trong những yếu tố quan trọng nhất là thái độ làm việc. Cũng vậy, để có một buổi cử hành thần vụ thật sốt sắng, thái độ người tham dự đóng một vai trò rất quan trọng. Đó là lý do tại sao thánh Biển Đức lại dùng cả chương 19 trong Tu luật của ngài để diễn giải về vấn đề này: Cung cách khi hát các Thánh vịnh. Vậy theo ngài, đâu là thái độ hay cung cách đan sĩ cần có khi hát các Thánh vịnh?

3.1 Cử hành thần vụ với đức tin.

“Chúng ta tin Thiên Chúa hiện diện khắp nơi và mắt Người hằng nhìn xem người lành kẻ dữ khắp chốn” (TL. 19,1). Theo tác giả Kardong, cụm từ “chúng ta tin” ở đây là sự thể hiện đức tin Công giáo chứ không phải là phép lịch sự đơn thuần như cụm từ “chúng ta nghĩ”. Toàn bộ lập luận của chương 19 này dựa trên đức tin vào Thiên Chúa, vì ngoài lý do này chẳng còn lý do nào khác để cầu nguyện các giờ thần vụ.[23] Hẳn thật nếu cầu nguyện với Thánh vịnh mà không được soi sáng dưới ánh sáng của đức tin, thì chẳng khác gì đan sĩ đang hát những bài ca xa lạ và khó hiểu. Việc cử hành thần vụ sẽ trở nên niềm vui và hạnh phúc khi cử hành trong đức tin, còn nếu không sẽ trở thành một gánh nặng và nhàm chán biết bao! Vậy nên, đức tin là điều không thể thiếu đối với thái độ của người hát ca vịnh. Mà đức tin lại là một ân ban, nên chỉ những ai được Chúa ban cho thì mới có khả năng nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong cử hành thần vụ.

Cụm từ “đôi mắt của Chúa” được thánh Biển Đức trích lại từ sách Châm Ngôn chương 15 câu 3 làm ta có nhiều cảm xúc. Có thể nó làm ta bối rối nếu cách ta sống phụng vụ chưa được chu đáo, nó cũng có thể làm ta an tâm vì biết Chúa hằng luôn hiện diện. Kardong giải thích hình ảnh của “đôi mắt Chúa” như sau: Tất nhiên, cái nhìn của Thiên Chúa, Vị Thẩm Phán, có thể gây bối rối, nhưng đó cũng là một sự hiện diện đầy trấn an, cảm giác cho thấy rằng Thiên Chúa không hề chết mà ngài hiện diện trọn vẹn với chúng ta khi chúng ta kêu cầu Người.[24] Như thế, ta tin Thiên Chúa hiện diện trọn vẹn với ta khi cử hành thần vụ, thái độ này diễn tả rất chuẩn mực về một cử hành thần vụ phải có. Trong cử hành thần vụ chúng ta trở nên “tiếng của chính Hiền Thê nói với Đấng Phu Quân mình và hơn thế nữa, còn là lời cầu nguyện của Chúa Kitô và thân thể Người dâng lên Thiên Chúa Cha. Bởi vậy, tất cả những người thực thi các việc đó, thì vừa chu toàn trách vụ của Giáo hội, vừa thông phần vinh dự tối cao của Hiền Thê Chúa Kitô, bởi vì họ đứng trước ngai Thiên Chúa, để nhân danh Giáo hội là Mẹ mà chu toàn việc ca khen Người.”[25] Với đức tin, chính khi cử hành thần vụ, Đan sĩ nhận ra họ đứng trước ngai Thiên Chúa mà ca ngợi, chúc tụng và tạ ơn. Chính lúc ấy ca toà thiên triều và trần thế được hợp ca. Có lẽ giờ đây chúng ta đã hiểu được tại sao thánh Biển Đức khẳng định: “Đừng lấy gì làm hơn việc Chúa” (TL. 43,3). Nhưng điều này giả thiết sự khiêm nhường, vì thánh Biển Đức sắp đặt bậc đầu tiên trong các bậc khiêm nhường là luôn cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính cảm thức ấy dẫn đến thái độ kế tiếp trong khi cử hành thần vụ, đó là cử hành với lòng kính sợ Chúa.

3.2 Cử hành thần vụ với lòng kính sợ Chúa

“Anh em hãy phụng thờ Chúa với lòng kính sợ” (TL. 19,3). Thái độ này đi ngay sau cử hành thần vụ với đức tin, vì sẽ chẳng thể có lòng kính sợ Chúa nếu ta không tin nhận Chúa đang hiện diện. “Kính sợ Chúa” không được hiểu theo nghĩa tiêu cực trong cử hành thần vụ. Nghĩa là ta sợ Chúa phạt nếu ta không làm tốt. Sợ Chúa khiển trách vì chểnh mảng, lười biếng. Cha thánh Biển Đức nói: “Mỗi người hãy nhớ rằng từ trời cao Chúa luôn nhìn xem mình, và dù ở đâu, lúc nào và làm gì, Chúa đều nhìn thấy hết, lại có các thiên thần không ngừng tường trình lên Chúa” (TL. 17,3). Chúng ta có cảm tưởng như việc Chúa hằng nhìn thấy việc ta làm, canh chừng để bắt lỗi ta. Lại nữa việc làm của các thiên thần trở thành hành động dòm ngó để báo cáo lỗi ta phạm. Không phải thế. Tất cả những gì Thiên Chúa làm cũng chỉ vì yêu chúng ta, và vì yêu nên muốn chúng ta luôn làm đẹp lòng Người, vì làm đẹp lòng Chúa chỉ thêm lợi cho ta mà thôi. Vịnh gia đã cảm nếm được nên diễn tả: “Phần Ngài, muôn lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86,15). Chính thánh Biển Đức cũng diễn tả Thiên Chúa là một Người cha “hằng lắng nghe các con khẩn nguyện, và ngay khi các con chưa kịp kêu lên thì Cha đã bảo: ‘Có Cha đây’” (TL. Lời mở, 18). Thế nên, sự kính sợ ở đây là sợ làm mất lòng Chúa. Đó là thứ sợ của một người con hiếu thảo. Bởi đó khi ta cử hành thần vụ, ta làm tất cả cũng chỉ để làm hài lòng Cha, chứ không vì hình phạt hay phần thưởng.

3.3 Ca vịnh cho thật khéo

Hãy ca vịnh cho thật khéo”. Khi cử hành với đầy lòng kính mến Chúa, đan sĩ phải hát ca vịnh thật khéo. Đơn giản là vì họ ý thức mình đang đứng trước Đấng họ mến yêu và hằng muốn làm đẹp lòng Người. Thánh Augustinô đã diễn tả về điều này, khi nói: “Trước mặt một người sành âm nhạc, nếu người ta bảo bạn: ‘Hãy hát cho ông ấy thưởng thức’, mà bạn không được huấn luyện về âm nhạc, thì bạn sợ không dám hát kẻo làm mất lòng người nghệ sĩ. Thật thế, những lỗi người không thông thạo nhạc chẳng nhận ra, thì người nghệ sĩ sẽ thấy rõ. Vậy ai dám cho mình là hát hay để hát mừng Thiên Chúa, Đấng đánh giá người hát, Đấng xem xét mọi sự, Đấng nghe thấy tất cả?”[26] Thiên Chúa là người Nghệ Sĩ tài ba, Người thấu triệt tất cả mọi chiều kích của âm nhạc, thế nên các đan sĩ là những ca viên, chuyên viên hát phụng vụ, phải hát làm sao để không làm chói đôi tai của Người. Phận con người mỏng dòn, yếu đuối và đầy giới hạn, chúng ta sẽ chẳng thể nào tránh được việc làm chói tai người Nghệ Sĩ, nhưng với sự nỗ lực hết mình hát cho khéo, chúng ta sẽ làm Người vui lòng. Vì Chúa yêu thích sự cố gắng của chúng ta. Nhưng làm sao có thể hát hay nếu không được đào luyện. Công đồng Vaticanô II đã nói lên tầm quan trọng của việc hát ca cho thật khéo: “Thánh nhạc sẽ mang tính linh thiêng hơn nếu liên kết chặt chẽ với hoạt động phụng vụ, hoặc dễ diễn đạt lời cầu nguyện cách dịu dàng hơn hay để cổ vũ sự đồng tâm, làm tăng thêm tính long trọng cho các nghi lễ,”[27] thế nên, việc học hỏi và thực hành thánh nhạc phải được chú trọng trong toàn thể Giáo hội.[28]

Nghệ thuật trong phụng vụ còn đòi hỏi đan sĩ phải am tường những gì đang được cử hành. Đức Thánh cha Phanxicô đã khẳng định trong Tông thư Desiderio Desideravi rằng nghệ thuật cử hành phụng vụ bao gồm việc am hiểu tất cả những biểu tượng, ngôn từ, và tất cả những gì liên hệ đến từng cử chỉ trong cử hành phụng vụ.[29] Lại nữa, “Những cử chỉ và lời nói đó không phải là lời giải thích về một lý tưởng mà chúng ta đang kiếm tìm để gợi lên cho chúng ta những tâm tình cảm nghĩ, nhưng thay vào đó, là một hành động của thân xác trong trạng thái toàn vẹn, nghĩa là trong con người toàn diện với cả thân xác và linh hồn.”[30] Nghệ thuật ấy giúp toàn thể con đan sĩ hoà mình vào trong cử hành, cũng là “hoà mình” vào trong chính Thiên Chúa.

Tác nhân quan trọng ta không thể không nhắc tới trong nghệ thuật ca vịnh, đó chính là Chúa Thánh Thần. Đức Thánh cha Phanxicô khẳng định trong Tông thư Desiderio Desideravi, “Nghệ thuật cử hành phải hoà hợp với hành động của Chúa Thánh Thần.”[31] Nỗ lực của con người sẽ là vô hiệu nếu không nhịp bước với tác động của Thần Khí, nhất là trong cử hành thần vụ thánh. Thần Khí là người linh hứng để các Thánh vịnh được viết ra, thì chẳng ai thích hợp hơn để làm cho lời ấy được vang lên cách tuyệt hảo nhất. Khi dành cả đời để hát ca vinh danh Chúa, trong tác động của Thần Khí, đan sĩ không chỉ diễn tả lòng yêu mến của họ đối với vị Nghệ Sĩ tài ba, mà còn là cách thế mang Chúa đến với những người khác. Vì lời Thánh vịnh thì đầy quyền năng, âm nhạc lại dễ đi vào lòng người, lại có tác động của Thần Khí hẳn việc hát thần vụ sẽ làm cho lòng người náo nức và tạo nên nhân cách của đan sĩ. Đức Thánh cha Phanxicô còn nói: “Từng cử chỉ và lời nói của cử hành phụng vụ, khi được thể hiện cách “nghệ thuật”, sẽ hình thành nhân cách Kitô hữu của mỗi cá nhân và của cả cộng đoàn.”[32]

Một yếu tố khác nữa giúp ta hát ca vịnh thật khéo, theo thánh Augustinô là phải hát với “tiếng hát của tâm hồn,”[33] hay “tâm trí hoà hợp lời ca” theo thánh Biển Đức.

3.4 Tâm trí hoà hợp với lời ca

Chúng ta hãy hát Thần Vụ thế nào cho tâm trí hoà hợp với lời ca.” Một bài ca sẽ chẳng thể nào hay và đi vào lòng người nếu người hát không hát lời ca với hết cả tâm tình. Điều mà đan sĩ phải có khi hát các Thánh vịnh là “tâm trí hoà hợp với lời ca.” Kardong đã diễn giải ý này như sau: Khi các đan sĩ hát các Thánh vịnh, là những bản văn được linh hứng trích từ trong Kinh thánh, “tiếng nói” của Chúa trong các Thánh vịnh và tâm trí người hát là phải hoà cùng nhau.[34] Chính khi cả hai hòa điệu, Thiên Chúa tái tạo lại con người và đưa họ trở về với thuở ban đầu. Thuở ban đầu, ‘chiều chiều gió hiu hiu, Thiên Chúa cùng đi dạo với hai ông bà trong vườn địa đàng’ (x. St). Khi tâm trí hoà hợp với lời ca trong cử hành thần vụ, đó chính là lúc định nghĩa về cầu nguyện được trở nên hiện sinh hơn bao giờ hết, là một cuộc trò chuyện tinh tuyền giữa Thiên Chúa và con người. Nhưng để làm được điều ấy hẳn không dễ chút nào.

Kardong giải thích rằng làm được điều ấy không hề dễ dàng vì các bản văn Thánh vịnh không phải là những bản văn dễ hiểu cho mọi người và nó chuyển tâm trạng luôn.[35] Có khi người cầu nguyện đang trong tâm trạng vui, lại hát Thánh vịnh buồn, và ngược lại. Điều ấy nhiều khi tạo nên sự khó tiếp nhận. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải biết trong phụng vụ luôn có hai chiều: chiều đi lên, con người hướng lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đáp lại, chiều ngang, con người trong tương quan với nhau. Nên trong cử hành thần vụ, không ai cử hành lẻ loi, dù người ấy cử hành một mình, ở đó ta thấy chiều kích hiệp thông trong Hội thánh được tỏ lộ cách rõ ràng nhất. Vì thế, các Thánh vịnh chuyển tâm trạng luôn, ví như tâm trạng khác nhau của mỗi người trong cùng một Giáo hội, nhưng cũng chỉ là một hành động tôn vinh Thiên Chúa và mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Bên cạnh đó, để tâm trí có thể hoà hợp với lời ca trong các Thánh vịnh, các đan sĩ phải được học hỏi và nghiên cứu thêm về ý nghĩa của các Thánh vịnh. Đó là lý do tại sao Giáo hội đòi hỏi người cử hành thần vụ “phải có một kiến thức phong phú hơn về phụng vụ và Thánh Kinh nhất là về các Thánh vịnh.”[36]

Kết luận

Cầu nguyện là hơi thở của đan sĩ. Sẽ chẳng có chuyện đan sĩ thở nửa vời, thở theo thời, nhưng là phải thở luôn, thì cầu nguyện cũng vậy, đan sĩ phải cầu nguyện luôn. Phụng vụ Giờ kinh, trong đó các Thánh vịnh chiếm nội dung chủ yếu, giúp đan sĩ thở đều và thở luôn trong từng thời khắc trong ngày. Thế nên thái độ cần có khi cử hành thần vụ đóng vị thế rất quan trọng, và nó là điều mấu chốt mang lại hoa trái cho đời sống các đan sĩ và tái tạo họ trở nên chính “bài ca của Thiên Chúa và cho Thiên Chúa.”[37] Thánh Biển Đức muốn các đan sĩ chìm đắm vào trong tình yêu Thiên Chúa cách trọn vẹn trong mỗi cử hành thần vụ, với đức tin tinh tuyền, với lòng kính sợ, sự hiệp nhất với Thiên Chúa qua chính nghệ thuật trong từng cử chỉ của việc cử hành. Viện phụ Dom Guillaume Jedrzejczak đã giải thích khá hay về chương 19 này, ngài nói: “Phụng vụ là ngôi trường đích thực dạy thống nhất nội tâm, tái tạo hữu thể. Khi dần đi sâu vào ý nghĩa các Thánh vịnh, ta sẽ nhận ra vết thương nội tâm, sự rạn nứt trong linh hồn mình, do bởi sự dối trá, độc dữ, dục tính, ghen tương. Nhưng cũng nhờ các Thánh vịnh mà ta có thể nhận ra giữa những tội lỗi của mình và vết tích của Thiên Chúa, dấu hiệu về sự hiện diện của Người.”[38] Chính khi khám phá ra sự hiện diện ấy, con người được đưa trở lại thuở ban đầu: hiệp thông, cảm thông và hoà hợp với Thiên Chúa.

Vậy, liệu rằng ngày nay, các đan viện đã đặt vị trí của cử hành thần vụ đúng mực chưa? Có khi nào cộng đoàn các đan sĩ vẫn chỉ cử hành với thái độ là một bổn phận bắt buộc phải tuân theo mà chẳng dành thời gian cho việc học hỏi, nghiên cứu, tập luyện, và sống thần vụ trong bầu khí thánh thiêng để cộng đoàn được thấm đẫm lời ca tiếng hát mà chúc tụng ngợi khen Chúa? Nếu đời đan sĩ chưa chìm đắm trong cầu nguyện, thì bầu khí đan viện chưa thực sự đạt đến sự thánh thiêng, mà có thể chỉ là một nhà nông phu. Khi viết chương 19 này, cha thánh Biển Đức không mong muốn gì hơn là các đan sĩ được thở trong bầu khí cầu nguyện và họ dành trọn con người để sống phụng vụ với cách thức xứng hợp nhất, để qua đó họ phục vụ Thiên Chúa và mang ơn cứu độ đến cho con người.

[1] DN 118.

[2] Thánh Têrêxa Avila, Tự truyện, chương 8. Trích lại từ trong footnote 222, Di Ngôn cha Biển Đức Thuận.

[3] Sách Giáo lý Công giáo, số 2564.

[4] Di Ngôn, số 118.

[5] Từ Công đồng Vaticanô II, cụm từ Phụng vụ Giờ kinh thay thế cho thuật ngữ Thần vụ vốn là danh xưng cổ điển nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trước đây trong thời kỳ Trung cổ để ám chỉ toàn bộ phụng vụ. Dù sau Công đồng hạn từ thần vụ vẫn còn được sử dụng nhưng không bao hàm thánh lễ và các cử hành phụng vụ khác, nên nó không còn thông dụng như hạn từ Phụng vụ Giờ kinh.

[6] Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS và Lm. Phaolô Nguyễn Văn Bình, PSS. Sách Thánh vịnh. Tìm hiểu, giải thích, suy niệm, và cầu nguyện. Nxb Đồng Nai, 2018, tr. 10.

[7] Ibid.

[8] Ibid., tr. 9.

[9] Kathleen Harmon. Trở Nên Những Bài Thánh vịnh. Chuyển ngữ: Tôma Aquinô Thái Văn Dũng, O.Cist. Nxb. Đồng Nai, 2022, tr. 20.

[10] Giuse Phạm Đình Ái, Cho Con Cất Tiếng Ngợi Khen Ngài. Nxb Đồng Nai, 2018, tr. 119.

[11] Ibid.

[12] Ibid.

[13] Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS và Lm. Phaolô Nguyễn Văn Bình, PSS. Sách Thánh vịnh, tr. 43-55.

[14] Ibid., trang 45.

[15] Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ, Giờ Kinh Phụng vụ, tr. 168.

[16] Kathleen Harmon, Sđd., tr. 17.

[17] Võ Đức Minh, Thánh vịnh, Tp. HCM: UBĐKCG, 1992, tr. 7.

[18] Kathleen Harmon, Sđd., tr. 63-64.

[19] Trích lại trong Etienne Charpentier, Pour lire L’Ancient Testament, Paris, 1994, tr. 94.

[20] Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS và Lm. Phaolô Nguyễn Văn Bình, PSS. Sách Thánh vịnh, tr. 9.

[21] Công đồng Vaticanô II. Hiến chế Phụng vụ Thánh Sacrosantum Concilium, số 90.

[22] Kathleen Harmon, Sđd., tr. 8.

[23] Terrence G. Kardong. Benedict’s Rule, A Translation and Commentary, The Liturgical Press, Collegele, MN, 1996, tr. 204.

[24] Ibid., tr. 205.

[25] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 84-85.

[26] Thánh Augustinô, trích sách Giải thích Thánh vịnh. Được trích từ Bài đọc Kinh Đêm lễ thánh Xêxilia, trinh nữ, tử đạo.

[27] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 112.

[28] Ibid., số 115.

[29] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi, số 48.

[30] Ibid., số 51.

[31] Ibid., số 49.

[32] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi, số 53.

[33] Thánh Augustinô, trích sách Giải thích Thánh vịnh. Được trích từ Bài đọc Kinh Đêm lễ thánh Xêxilia, trinh nữ, tử đạo.

[34] Terrence G. Kardong, Benedict’s Rule. A Translation and Commentary, tr. 206.

[35] Ibid.

[36] Công đồng Vaticanô II. Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 90.

[37] Kathleen Harmon, Sđd., tr. 7.

[38]Dom Guillaume Jedrzejczak – Viện phụ đan viện Mont-Des-Cats. Trên Đường Tự Do – Chú Giải Tu Luật Thánh Biển Đức Theo Từng Ngày, chương 19.

.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://ccaoutreach.org/conditions-for-answered-prayers/)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục