danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (12) – THINH LẶNG THÁNH

Tác giả: Lm. Quốc Vũ

“Thinh lặng thánh” được hiểu là một sự thinh lặng nội tâm, là để tâm trí chúng ta gặp gỡ Chúa, tâm hồn chúng ta hướng về Chúa trong cử hành phụng vụ và trong đời sống hằng ngày. Trong thực tế, “thinh lặng thánh” là cụm từ quá quen thuộc với chúng ta. Bởi lẽ, thuộc từ “thánh”, thường thích hợp hơn khi được ghép với danh từ chỉ người, chẳng hạn như: thánh nhân, bậc thánh hiền…; hay với danh từ chỉ vật, như: đất thánh, đền thánh, phòng thánh, bàn thánh…; còn khi ghép thuộc từ này với ‘thinh lặng’, cho dù là ở dạng động từ hay danh từ, thiết tưởng đó chỉ là sự dùng từ cách khiên cưỡng, vì nó đều tạo ra một cụm từ mang nghĩa rất hàm hồ. Quả thật, cụm từ “thinh lặng thánh” chỉ có nghĩa khi nó được dùng để diễn tả một mục đích cụ thể, hoặc được đặt vào trong một bối cảnh thích hợp nào đó mà thôi. Vì thế, để tìm hiểu sâu hơn vấn đề, người viết xin được khai triển đề tài này trong hai mục chính: Thinh lặng thánh trong cử hành phụng vụ, và thinh lặng thánh trong đời sống đan tu chiêm niệm.

1. Thinh lặng thánh trong cử hành phụng vụ

 Trước Công đồng Vaticanô II, phụng vụ thánh lễ gần như là cử hành riêng của vị tư tế, bởi những người tham dự thường thụ động và chỉ lo làm việc đạo đức bình dân, mỗi người tham dự vào phụng vụ một cách độc lập. Đó là lý do tại sao một trong những chủ đề hàng đầu của công cuộc canh tân phụng vụ được trình bày trong Hiến chế về “Phụng vụ thánh – Sacrosanctum Concilium” của Công đồng Vaticanô II là mời gọi các tín hữu tham gia tích cực vào các cử hành phụng vụ.[1] Các nghị phụ của Công đồng nhất trí rằng, trong việc canh tân và cổ võ phụng vụ thánh, cần phải hết sức lưu tâm đến việc tham dự trọn vẹn và linh động của toàn thể cộng đoàn dân Chúa: vì “phụng vụ là nguồn mạch trước tiên và thiết yếu, từ đó các tín hữu múc lấy tinh thần Kitô giáo đích thực”.[2] Tuy nhiên, trong thực tế, việc cử hành phụng vụ nhiều khi lại diễn ra cách quảng, các phần được cử hành nối tiếp nhau không ngưng nghỉ và thiếu khoảng lặng.

Trong bối cảnh đó, Giáo hội qua nhiều văn kiện, đã nêu bật ý nghĩa thần học cũng như sự hướng dẫn việc cử hành phụng vụ thánh, như Hiến Chế Phụng Vụ Thánh và Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của thinh lặng thánh, đến nỗi có thể nói rằng một trong những thành quả của cuộc cải cách phụng vụ từ Công đồng Vaticanô II là tái khám phá các truyền thống cổ xưa về sự thinh lặng phụng vụ. Thừa hưởng tinh thần đó, Đức Thánh cha Phanxicô, trong Tông thư Desiderio Desideravi[3], số 52, đã nhấn mạnh đến vị trí quan trọng tuyệt đối của thinh lặng thánh trong phụng vụ như sau: “Trong số các động tác nghi lễ dành cho toàn thể cộng đoàn, thinh lặng thánh chiếm một vị trí quan trọng tuyệt đối”.

1.1. Thinh lặng thánh chiếm vị trí quan trọng tuyệt đối

Chúng ta nên hiểu rằng: “Thinh lặng không phải là một thái độ thụ động, là thời khắc không ngôn từ và không có bất cứ hành động nào diễn ra. Trái lại, thinh lặng thánh đúng nghĩa là vượt trên mọi lời, để từ cảm nghiệm ý nghĩa cũng như cảm nghiệm chiều sâu mà chúng ta có cảm nghiệm tôn giáo, nghĩa là chúng ta có thể chạm đến mầu nhiệm cao cả mà không ngôn từ nào có thể diễn tả được: đó là thực tại hiện diện của Thiên Chúa siêu việt và thánh thiện nhưng cũng thật gần gũi chúng ta.”[4] Bởi lẽ, phụng vụ là cầu nối giữa con người và siêu việt. Trong không gian thánh, những khoảnh khắc thinh lặng hết sức quan trọng, vì nhờ đó chúng ta mới có thể tìm được “cảm thức linh thánh” như lòng ước mong và hướng đến, nghĩa là cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tiếp nối tinh thần của Công đồng Vaticanô II, Đức Thánh cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta rằng: “Thinh lặng thánh trong phụng vụ được quy định rõ trong luật chữ đỏ. Toàn bộ cử hành Thánh Thể chìm đắm trong thinh lặng trước khi bắt đầu và đánh dấu mọi khoảnh khắc của nghi lễ đang diễn ra”[5]. Những khoảnh khắc thinh lặng đó được Ngài nói tiếp như sau: “Mọi người thinh lặng trong nghi thức sám hối, sau lời mời gọi ‘chúng ta dâng lời cầu nguyện’, trong phần phụng vụ Lời Chúa (trước các bài đọc, giữa các bài đọc và sau bài giảng), trong Kinh nguyện Thánh Thể, và sau hiệp lễ.”[6]

a. Thinh lặng thánh trong Nghi thức sám hối

Quy chế Sách lễ Rôma hướng dẫn rằng: “Tiếp theo, vị tư tế mời mọi người sám hối. Sau một chút thinh lặng, tất cả cộng đoàn đọc công thức thú tội chung và vị tư tế đọc lời xá giải để kết thúc. Lời xá giải này không có hiệu quả của Bí tích Thống hối”.[7]

Như thế, “thinh lặng trong nghi thức này không những để hồi tâm suy niệm về thân phận bất toàn và tội lỗi của chúng ta, nhưng hơn hết là để hướng chúng ta đến tình thương của Chúa, ngợi khen lòng từ bi lân tuất của Người, hầu có thể chuẩn bị tâm hồn mình lãnh nhận và cảm nhận ơn tha thứ của Chúa qua Bí tích Thánh Thể.”[8]

b. Thinh lặng thánh trước khi đọc Lời nguyện Nhập lễ

“Tiếp đến, linh mục mời cộng đoàn cầu nguyện; và mọi người cùng linh mục thinh lặng trong giây lát, để ý thức mình đang ở trước thánh nhan Thiên Chúa và có thể nói lên trong lòng những nguyện ước của mình. Rồi linh mục đọc lời nguyện, quen gọi là “Lời nguyện Nhập lễ”, lời nguyện này nói lên đặc tính của việc cử hành”.[9]

Lời nguyện Nhập lễ còn có tên gọi là Lời tổng nguyện của Thánh Lễ. Lời nguyện này vừa là lời nguyện để tập hợp cộng đoàn, vừa để dẫn vào phần Phụng vụ Lời Chúa, nên cần có khoảng thời gian thinh lặng cho mọi người trước khi vị chủ tế đọc lời nguyện. Một số tác giả cho rằng Lời Tổng nguyện là vết tích lâu đời của những lời nguyện đọc tại Nhà thờ quy tụ (ecclesia collecta) trong các lễ Chặng viếng.

Trong cuộc cải cách phụng vụ sau Công đồng Vaticanô II, Giáo hội đã nỗ lực phục hồi một vài yếu tố thuộc về chức năng độc nhất của Lời Tổng nguyện xa xưa, như dành một thời gian ngắn cho mọi người thinh lặng nêu lên ý nguyện của mình, trước khi vị chủ tế đọc Lời Tổng nguyện.

c. Thinh lặng thánh trong phần phụng vụ Lời Chúa

Quy chế Tổng Quát Sách lễ Rôma đề cập đến “thinh lặng thánh” trước khi cử hành phần phụng vụ Lời Chúa như sau: “Phụng vụ lời Chúa phải được cử hành thế nào để giúp cho cộng đoàn suy niệm, nên phải tránh mọi hình thức vội vã khiến người ta khó hồi tâm. Trong phụng vụ Lời Chúa, nên có những lúc thinh lặng ngắn, phù hợp với cộng đoàn đang hiện diện, nhờ đó, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, lời Chúa thấm nhập lòng người và chuẩn bị họ đáp lại bằng lời cầu nguyện. Tùy hoàn cảnh, có thể giữ thinh lặng sau bài đọc thứ nhất và thứ hai, cũng như sau bài giảng”[10].

Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và tiên tri Êlia trên núi Hôrép được Sách các Vua quyển thứ I ghi lại rằng ngôn sứ nhận ra tiếng Thiên Chúa không ở trong cơn gió lốc, động đất hay sấm chớp và lửa, nhưng ngôn sứ chỉ nhận ra tiếng Người trong sự lặng thinh của cơn gió mát nhẹ (x. 1V 19,11-13). Bước sang Tân ước, thánh Luca thuật lại: “Có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa “ (Lc 3,2); còn Chúa Giêsu thì dạy: “Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh em, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6,6). Không những dạy bằng lời, Chúa Giêsu còn làm gương bằng cách thường xuyên cầu nguyện nơi hoang vắng và trong thinh lặng, lúc sáng sớm, lúc trời còn tối mịt… (x. Mc 1,35).

Như vậy, để có thể lắng nghe được tiếng Chúa cách hiệu quả, chúng ta cũng cần có một khoảng lặng thích hợp; nghĩa là, phải cử hành Phụng vụ Lời Chúa thế nào để tạo thuận lợi cho việc suy gẫm. Chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa trong bầu khí thinh lặng, như lời huấn dụ của Đức Thánh cha Biển Đức XVI: “Cần có thinh lặng bên trong và bên ngoài để có thể lắng nghe được lời đó. Đây là điểm đặc biệt khó đối với con người thời đại chúng ta. Thật thế, thời đại chúng ta là một thời đại mà trong đó người ta không tạo thuận tiện cho việc cầm trí; trái lại, nhiều khi người ta có cảm tưởng con người sợ hãi tách rời mình, dù chỉ trong giây lát, khỏi dòng sông lời nói và hình ảnh ghi dấu làm đầy các ngày sống. Vì thế, cần phải giáo dục sống thinh lặng. Tái khám phá ra Lời Chúa trong cuộc sống Giáo hội cũng có nghĩa là tái khám phá ra ý nghĩa sự cầm trí và thinh lặng nội tâm”[11]. Chính trong sự thinh lặng của nội tâm và nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, mà chúng ta ý thức được sự cao cả của Lời Chúa, khám phá ra ý nghĩa cùng sức mạnh của Lời Chúa và để cho Lời Chúa biến đổi đời sống mình. Nhờ vậy, Lời Chúa và lời diễn giảng được dễ dàng tiếp nhận và đọng lại trong lòng chúng ta, cũng như lời đáp trả của chúng ta qua kinh nguyện được chuẩn bị.[12]

d. Thinh lặng thánh sau khi hiệp lễ

“Thinh lặng thánh là một thành phần của việc cử hành; vì thế phải được giữ vào đúng lúc của nó. Tính chất của sự thinh lặng tùy thuộc vào lúc phải giữ trong mỗi cử hành. Thật vậy, trong hành động thống hối và sau lời mời cầu nguyện, là để mọi người hồi tâm lại; sau bài đọc hoặc bài giảng là để mọi người suy gẫm vắn tắt về những gì đã nghe; còn sau khi rước lễ thì để ca ngợi và cầu xin Thiên Chúa trong lòng.”[13]

Quy chế Tổng Quát Sách lễ Rôma đề cập đến việc phải tuân giữ “thinh lặng thánh” sau khi mọi người đã hiệp lễ xong. Có lẽ đây là thời điểm thinh lặng quan trọng nhất và sâu nhất trong Thánh lễ, vì nó cho phép những người đã rước Chúa tập trung vào sự hiện diện của Người và lắng nghe tiếng Người. Lúc này, vị tư tế và giáo dân tùy nghi cầu nguyện trong lòng một khoảng thời gian.[14]

Mặc dù sau khi rước lễ, thay vì thinh lặng, ca đoàn hoặc toàn thể cộng đoàn cũng có thể hát một Thánh thi, một Thánh vịnh hay một bài Thánh ca ngợi khen nào khác.[15]Thế nhưng, chọn lựa tốt hơn là thinh lặng sau khi mọi người rước lễ, hoặc dành một khoảng lặng ngắn rồi mới hát bài ca sau hiệp lễ, nhằm kết thúc thời gian thinh lặng. Thực hành này chắc chắn sẽ tạo ra hiệu ứng tốt hơn đối với những người tham dự. Bởi vì đây là giây phút Chúa Thánh Thần cư ngụ trong hồn chúng ta và nói với tâm trí chúng ta trong thinh lặng. Thời khắc này, thinh lặng là một cách thế và cơ hội giúp chúng ta suy gẫm trong tâm tình biết ơn về món quà sự sống tuyệt vời Thiên Chúa trao ban cho chúng ta phát xuất từ tình yêu vô biên của Ngài. Chỉ trong sự thinh lặng như thế, chúng ta mới nếm cảm được trọn vẹn hương vị của tình yêu nồng thắm lan tỏa từ chính Chúa Kitô. Từ đó, chúng ta có thể ngụp lặn trong mối tình ấm áp và thẳm sâu của Thiên Chúa.[16]

1.2. Thinh lặng thánh là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.

Thinh lặng thánh là một thành phần của việc cử hành và là cao điểm của trình tự phụng vụ. Đây là động tác dành cho toàn thể cộng đoàn, qua đó, Chúa Thánh Thần hiện diện làm sinh động toàn bộ việc cử hành và uốn nắn người tham dự. Đức Thánh cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta rằng: “Thinh lặng thánh là cao điểm của trình tự phụng vụ. Chính là biểu tượng của Chúa Thánh Thần, nên thinh lặng thánh có sức thể hiện hành động đa dạng của Chúa Thánh Thần. Theo cách này, thinh lặng thánh đưa đến tâm tình đau buồn vì tội lỗi và ước muốn được hoán cải, đánh thức tâm trí sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Chúng ta thinh lặng để tôn thờ Mình và Máu Chúa Kitô. Nơi mỗi người, khi kết hợp mật thiết với Chúa, thinh lặng gợi lên điều Thánh Thần muốn tác động trong cuộc sống để làm cho chúng ta trở nên tấm bánh được bẻ ra”.[17]

a. Thinh lặng thánh dẫn đến ước muốn hoán cải

Khoảng thời gian thinh lặng trước nghi thức sám hối gợi lên trong mỗi tín hữu tâm tình thống hối ăn năn, đồng thời nài xin ơn tha thứ của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và được canh tân bởi Nước và Thánh Thần trong bí tích thánh tẩy đã lãnh nhận. Đó chính là tiến trình của sự hoán cải.

Hoán cải là để trở về với con người thật của mình; hoán cải để quyết tâm thay đổi đời sống; hoán cải để thay đổi hướng đi, là khởi đầu cho việc canh tân đời sống. Hai tác động quan trọng của việc hoán cải chính là gặp gỡ Thiên Chúa và biến đổi chính mình. Quả thật, để có được sự thay đổi và hoán cải tận căn, con người cần có những khoảng lặng mà ở đó chỉ có mình với mình và chỉ có mình với Chúa (solus cum solo). Khoảng lặng đó là thời gian của Chúa Thánh Thần. Chính Người tác động và biến đổi chúng ta, như Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô về việc “sinh lại” bởi nước và Thần Khí khi ông đến gặp Chúa vào ban đêm (x. Ga 3,1-15).

b. Thinh lặng thánh đánh thức tâm trí sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa

“Thiên Chúa nói trong thinh lặng, vì thế chúng ta cần sự thinh lặng để có thể lắng nghe tiếng Chúa”. Đức Thánh cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong buổi tiếp kiến 2.000 tín hữu và du khách hành hương trong sân nhà nghỉ mát Castel Gandolfo vào sáng thứ Tư, ngày10 tháng 8 năm 2011.

Đối với Mẹ Têrêsa Calcutta thì trong khi cử hành phần Phụng vụ Lời Chúa, điều cốt yếu không phải là những lời chúng ta nói, nhưng là những lời Chúa nói nói với chúng ta, và những lời Ngài nói qua chúng ta. Trong sự thinh lặng như thế, Ngài nói với linh hồn ta, và chúng ta nghe được tiếng Ngài. Hãy lắng nghe trong thinh lặng và tâm trí ta sẽ trở nên sẵn sàng để đón nhận Lời Chúa; bởi vì theo thánh Ignatio Antiokia thì Lời Chúa bao giờ cũng vang lên từ trong tĩnh lặng, và điều này đã được Đức Hồng Y Robert Sarah cảm nhận và làm thêm rõ nghĩa khi xác tín rằng: “Chúng ta biết rằng Lời của Chúa xuất phát từ sự thường hằng trong thinh lặng và duy chỉ trong thinh lặng mà Lời ấy mới có thể trổ sinh hoa trái. Vì thế, rõ ràng là Lời của Người chỉ có thể hiểu được một cách đúng đắn nếu ta chìm vào trong chính sự thinh lặng; ta cũng chỉ có thể hiểu Lời Người khi ở lại trong sự thinh lặng này”.[18]

c. Thinh lặng thánh để tôn thờ Mình và Máu Chúa Kitô

Cử hành Hy tế Thánh Thể và tôn thờ Thánh Thể là hai khía cạnh, “động và tĩnh”, hai nhịp điệu bất khả phân ly của một thực tại cội nguồn là Hy Lễ Tạ Ơn, là bản hoà âm chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa của toàn thể Giáo hội. Vì thế, trong khi cử hành Hy tế Thánh Thể luôn bao trùm chiều kích thinh lặng để tôn thờ và cảm tạ. Theo truyền thống, Giáo hội diễn tả niềm tin vào sự hiện diện của Mình và Máu Đức Kitô trong Thánh Thể và không ngừng thể hiện một lòng tôn thờ chỉ dành riêng cho Chúa. Giáo hội đã và tiếp tục tổ chức nền phụng tự tôn thờ đối với bí tích Thánh Thể, không những trong Thánh lễ mà còn ngoài giờ cử hành Thánh lễ nữa, qua việc cẩn thận lưu giữ những bánh lễ đã được hiến thánh, qua việc trưng bày cho các tín hữu long trọng chầu kính… Cầu nguyện trước Thánh Thể, những giờ tôn thờ Thánh Thể cách ngắn ngủi, lâu giờ hay hằng năm, chầu Phép lành, kiệu Thánh Thể, các Đại Hội thánh Thể…[19]

Theo những lời huấn dụ và những thao thức đó của Đức Thánh cha, chúng ta cảm nhận được lý do sâu xa cũng như ý nghĩa thiêng liêng của việc tôn thờ Thánh Thể, để có thể “nếm thử và nghiệm xem cho biết Chúa thiện hảo dường bao” (Tv 33,9). Bên cạnh đó, tôn thờ Thánh Thể cũng chính là thinh lặng cầu nguyện trước Thánh Thể.

d. Thinh lặng thánh để cầu nguyện và tạ ơn

Theo nguyên ngữ Latinh, danh từ “Adoratio”: sự tôn thờ, là sự kết hợp bởi chữ “Ad”: hướng đến hay đến gần và chữ “Ora”: cầu nguyện. Như vậy, tôn thờ thánh Thể là một cuộc xuất hành thiêng liêng, nghĩa là ra khỏi chính mình, vượt qua cõi riêng mình, mà đến gặp gỡ Chúa, trong nhiệm tích Thánh Thể, để trọn vẹn sống cho và chạm được Đấng đang chờ đợi và ngự giữa chúng ta, trong tấm bánh rất đơn sơ, tầm thường. Bên cạnh đó, với nguyên ngữ “Adoratio”, tôn thờ còn mang ý nghĩa chiêm ngắm, chiêm nghiệm và tạ ơn. Vì thế, cầu nguyện không nhất thiết là nói nhiều, mà là yêu mến nhiều, cũng như kinh nghiệm của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu: “Đối với tôi, cầu nguyện là sự hướng lòng lên, là cái nhìn đơn sơ, là tiếng kêu tri ân và yêu mến, trong cơn thử thách, cũng như lúc vui mừng”.

Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện trước hết là thinh lặng. Nhưng thinh lặng không phải chỉ là im lặng, mà thực ra là thái độ lắng nghe Đấng là Lời và Bánh hằng sống của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và ở giữa chúng ta, Đấng ấy đã làm tràn đầy mọi khoảng không gian của cuộc sống chúng ta.

Tóm lại, thinh lặng thánh là một thái độ rất quan trọng và cần thiết phải giữ để tạo bầu khí phụng vụ: thinh lặng để lắng nghe và thinh lặng để suy niệm và cầu nguyện. Như thế, nếu những khoảnh khắc thinh lặng thánh trong phụng vụ quan trọng đối với các tín hữu tham dự thế nào thì đối với các thừa tác viên cử hành lại càng quan hơn. Bởi vì, thinh lặng thánh là thành phần không thể thiếu của phụng vụ và thuộc về nghệ thuật cử hành. Vì vậy, chúng ta không nên làm cho Thánh lễ thành một buổi cử hành ồn ào, vội vã[20] như một dịch vụ hay làm mất đi cảm thức linh thánh, ý nghĩa huyền nhiệm.[21] Thay vào đó, chúng ta nên tôn trọng những giây phút thinh lặng cần thiết và giữ sự thinh lặng linh thiêng đúng lúc.[22]

2. Thinh lặng thánh trong đời sống đan tu chiêm niệm

Giáo hội nhìn nhận đời sống chiêm niệm là một đặc sủng, là hồng phúc của Thiên Chúa ban cho Giáo hội, một hồng phúc sinh tồn qua nhiều thời kỳ thoái trào và thăng hoa. Nói về đời sống chiêm niệm, Đức Giáo hoàng Phanxicô không định nghĩa chiêm niệm như một kinh nghiệm cầu nguyện phú bẩm vượt quá giai đoạn chiêm niệm suy lý mà ta có thể tìm thấy trong các trước tác của thánh Têrêxa Avila, hay của thánh Gioan Thánh Giá, hoặc các nhà huyền bí khác. Ngài cũng không định nghĩa đời sống chiêm niệm như một lối sống nội cấm, mặc dù ngài thừa nhận đời sống cầu nguyện và chiêm niệm cần được sống “trong thinh lặng và nội cấm” và trong “thâm cung lòng mình”. Nhưng, ngài định nghĩa đời sống chiêm niệm là việc đi tìm dung nhan Thiên Chúa và duy trì một tình yêu vô điều kiện với Chúa Giêsu Kitô. Một cách cụ thể, trong Tông hiến Tìm Nhan Thiên Chúa, ngài coi thinh lặng là điều cần thiết đối với các đan sĩ[23], một yếu tố không thể thiếu trong đời sống cầu nguyện; vì qua thinh lặng, con người lắng nghe và chuyện vãn với Thiên Chúa. Vậy sự thinh lặng ở đây được hiểu như một sự lắng nghe và nghiền ngẫm Lời Chúa như thánh Biển Đức, ngay từ lời mở đầu của cuốn Tu luật, ngài mời gọi các môn sinh hãy biết lắng nghe: “Con ơi, hãy lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời cha hiền khuyên nhủ và thực hành cho bằng được”.[24] Cụm từ ‘ghé tai lòng’ diễn tả rằng thinh lặng đan tu là thinh lặng bề trong, nghĩa là sẵn sàng lắng nghe để ca tụng Lời, trở nên đồng hình đồng dạng với Lời và rao truyền Lời. Vì thế, ở đây xin chia sẻ ba chiều kích của thinh lặng đan tu: Thinh lặng để ca tụng Lời; thinh lặng để nên đồng hình đồng dạng với Lời; và thinh lặng để rao truyền Lời.

2.1. Thinh lặng để ca tụng Lời – Cho con cất tiếng ngợi khen Ngài

Thinh lặng, một trong những yếu tố căn bản làm nên nếp sống đan tu chiêm niệm. Thinh lặng không đồng nghĩa với im lặng, thinh lặng đan tu không phải là không nói, bởi đời đan tu là một đời cất tiếng ca tụng Thiên Chúa, như lời Vịnh gia: “Con ca tụng Chúa mỗi ngày bảy lượt” (Tv 118,164). Vì thế, có thể nói, thinh lặng đan tu là để suy niệm Lời và cất tiếng ca tụng Thiên Chúa. Bên cạnh đó, trong cuốn sách Với Thiên Chúa, bạn không bao giờ cô đơn, Đức Thánh cha Biển Đức XVI đã viết như sau: “Đối với thánh phụ Biển Đức, những lời trong Thánh vịnh: ‘Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa – Coram angelis psallam Tibi, Domine’ (Tv 138,1), chính là quy tắc quyết định chi phối toàn bộ việc cầu nguyện và Thần vụ của các đan sĩ”.[25] Điều này thể hiện một sự nhận thức rằng, Thần vụ đan tu là được hát trước sự hiện diện của toàn thể thiên quốc, và do đó được tiếp xúc với những tiêu chuẩn tối cao, được hòa hợp với âm nhạc của các tầng trời[26], nên nó trở thành một việc cao trọng nhất của đời đan tu, đến nỗi thánh phụ Bênađô phải khẳng định rằng: “Văn hóa ca hát phụng vụ cũng là một nền văn hóa hiện hữu, và các đan sĩ phải cầu nguyện và hát Thần vụ sao cho ‘tâm trí hòa hợp với lời ca – ut mens concordet voci’, tương ứng với sự cao cả của Lời Chúa được truyền lại cho họ, với nhu cầu vẻ đẹp đích thực của Lời Chúa”.[27]

Thật thế, trong truyền thống đan tu Biển Đức và Xitô, Kinh Thần vụ được xem là phận vụ trên hết của đan sĩ theo tinh thần của Thánh Biển Đức: “Không được coi gì quý hơn việc Chúa (Opus Dei)”[28]. Đan sĩ hát kinh nhân danh Giáo hội và toàn thể nhân loại, để ngợi khen vinh danh Chúa vì muôn ơn huệ Người ban, đồng thời nài xin ơn trợ lực của Người ban xuống trên nhân loại và cầu nguyện mưu ích cho phần rỗi các linh hồn.

Thần vụ đan tu là mượn lời của Vịnh gia để ca tụng Thiên Chúa bảy lần trong ngày, bao gồm Giờ Kinh Sách, Kinh Sáng, Kinh giờ III, Kinh giờ VI, Kinh giờ IX, Kinh Chiều và Kinh Tối. Truyền thống đan tu theo cuốn Luật Thầy cũng như Tu luật Biển Đức, thường khai mạc giờ kinh đầu tiên trong ngày bằng một dẫn nhập gọi là giáo đầu (invitatorium): “Lạy Chúa Trời xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài”[29], để phá vỡ sự im lặng lâu dài phải giữ trong đêm. Hơn nữa, lời dẫn giáo đầu này còn diễn tả một tâm tình và ý thức của người đan sĩ về thân phận thấp hèn và tội lỗi của mình, nên phải cần ơn Chúa trợ giúp mới có thể xứng đáng cất tiếng ca tụng Người. Bên cạnh đó, Thần vụ (Officium Divinum) còn được gọi là Giáo vụ (Officium ecclesiasticum) vì được thiết lập bởi Giáo hội và là tiếng của chính Hiền Thê ngỏ cùng Đức Lang Quân; hơn nữa, đó còn là lời nguyện của Chúa Kitô cùng toàn Nhiệm Thể dâng lên để chúc tụng Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.[30]

Bên cạnh đặc tính ca tụng Thiên Chúa của các giờ Kinh Thần vụ, từ xa xưa, theo tinh thần của cuốn Luật Thầy (Regula magistri), các đan sĩ đã có thói quen dành khoảng thời gian thinh lặng ngắn giữa các Thánh vịnh, mỗi Thánh vịnh đều kết thúc bằng sự thinh lặng và phủ phục[31]. Phụng vụ đan tu ngày nay đã được thích nghi theo tinh thần canh tân của Công đồng Vaticanô II. Trong hầu hết các đan viện không còn cử hành giờ thần vụ vào ban đêm, 150 Thánh vịnh trước kia được cử hành theo chu kỳ một tuần, nay được cử hành theo chu kỳ hai tuần. Cấu trúc, cách thức cử hành và nhịp điệu các giờ Kinh Thần vụ đều được cử hành theo sự hướng dẫn của Giáo hội như Quy chế Tổng quát Phụng vụ các Giờ kinh đề nghị: “phải có một thời gian thinh lặng thánh sau mỗi Thánh vịnh của Giờ kinh, để cho tiếng của Chúa Thánh Thần vang dội mãnh liệt hơn trong tâm hồn và để lời cầu nguyện riêng của mỗi người được kết hợp chặt chẽ hơn với Lời Chúa và lời cầu nguyện chính thức của Giáo hội”.[32]

Như vậy, thinh lặng thánh trong các giờ Kinh Thần vụ không chỉ đơn thuần là tạm dừng theo nghi thức, mà còn là hành vi phụng vụ thực sự chuyển tải một cách mạnh mẽ ý nghĩa của mầu nhiệm, Thần khí và Giáo hội. Thật thế, thinh lặng ở đây mang chiều kích Thánh Linh, nhấn mạnh đến sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, bởi không có Ngài kể như không có kinh nguyện Kitô giáo. Vì vậy, ‘Văn kiện Trình bày và quy định Các Giờ kinh Phụng vụ’ hiện nay mong ước khi cử hành Phụng vụ Giờ Kinh thường phải liệu sao cho “có những khoảng thời gian thinh lặng thánh vào những lúc thích hợp”[33]. Văn kiện đề nghị một số chỗ thinh lặng như sau: Sau mỗi Thánh vịnh, sau Điệp ca, sau các Bài đọc dài hay ngắn, sau câu Xướng đáp[34], sau mỗi Lời cầu[35], và trong giờ Kinh tối, nên dành một khoảng thinh lặng để xét mình sám hối theo công thức trong sách lễ Rôma.[36]

Từ sự hướng dẫn của Giáo hội, Hội dòng Xitô Thánh Gia đã có những quy định áp dụng luật giữ thinh lặng thánh trong khi hát Kinh Phụng vụ như sau: “Để gia tăng sự sốt sắng chiêm niệm, sau mỗi Thánh vịnh hay Thánh ca, Đoản huấn, các Bài đọc trong giờ kinh Sách và sau các Lời cầu, anh em giữ thinh lặng trong giây lát (khoảng 10 giây)”.[37]

Tóm lại, đời đan tu là đời chiêm ngưỡng, một đời sống luôn kết hợp sâu xa với Thiên Chúa, một sự cảm nghiệm về sự hiện diện thân mật của Thiên Chúa, nhằm khai triển sự hiệp nhất thẳm sâu với Thiên Chúa. Sự hiệp nhất này gói trọn cuộc sống đan sĩ trong bầu khí thinh lặng và cầu nguyện. Người đan sĩ ra sức biến đổi những sinh hoạt trong ngày thành kinh nguyện, bằng cách hướng tâm hồn về một mình Thiên Chúa. Có thể nói, trong suốt ngày sống, đan sĩ vẫn âm thầm hâm nóng tình yêu bằng những lời cầu nguyện và kết hợp với Thiên Chúa trong sự thinh lặng; còn trong các Giờ Thần vụ, đan sĩ bày tỏ tất cả tâm hồn qua lời kinh tiếng hát để ca tụng Thiên Chúa; chính vì thế mà Thánh Biển Đức đã dạy các đan sĩ phải hết sức trân trọng khi thi hành phận vụ này: “Hãy luôn sẵn sàng để khi vừa nghe hiệu là đua nhau nhanh chân đi cử hành Thần vụ”.[38]

2.2. Thinh lặng để nên đồng hình đồng dạng với Lời – sống chiều kích Vượt Qua

“Truyền thống giáo phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Kitô gắn liền với sự thinh lặng, và chỉ trong thinh lặng Ngôi Lời mới có thể tìm ra chỗ ở trong chúng ta, như đã xảy ra với Đức Mẹ Maria, người phụ nữ của Ngôi Lời và sự thinh lặng không thể tách rời nhau”[39]. Tiếp nối truyền thống giáo phụ, thánh Biển Đức xem thinh lặng là điều hệ trọng giúp đan sĩ xây dựng đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, qua những lời ngài viết trong Tu luật sau đây: “Lúc nào đan sĩ cũng phải chuyên tâm giữ thinh lặng, nhất là vào ban đêm. Sau giờ Kinh Kết, không ai được nói gì nữa. Nếu lỗi luật thinh lặng này sẽ bị nghiêm phạt”.[40]

Theo thánh Biển Đức, thinh lặng gắn liền với việc lắng nghe Lời. Trước hết là lời bên ngoài, nhưng cũng lắng nghe Lời bên trong, Lời nội tâm. Chắc hẳn ban đêm là thời gian thuận tiện hơn cả để lời bên ngoài có thể gợi lên bên tai lòng một Lời khác, tức là Lời nội tâm. Đối với Ngài, sự thinh lặng ban đêm được xem là “thinh lặng thánh”, bởi vì thinh lặng không phải chỉ để im lặng, nhưng là để mở lòng ra cho Đấng đã đi vào cõi thinh lặng thâm sâu nhất của nhân loại đó là cái chết. Nói cách khác, với thánh Biển Đức, thời khắc ban đêm còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, đó là thời gian mà việc giữ thinh lặng của các đan sĩ đồng nghĩa với việc họ đi vào thời điểm quan trọng nhất, thời gian đỉnh điểm, thời gian trung tâm diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Đó là thời gian mà chính Chúa Giêsu đã trải qua trong mầu nhiệm Vượt Qua.

Quả thật, trước cái chết, Đức Giêsu cảm nhận được sự thinh lặng nhiệm mầu của Thiên Chúa; và với cái chết, Đức Giêsu đã xuống tận cùng vực thẳm thinh lặng rùng rợn nhất của thân phận con người. Đức Giêsu đã đảm nhận sự thinh lặng đau thương của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Người thông phần với sự thinh lặng này để ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Như vậy, sự thinh lặng kỳ diệu nhất của Đức Giêsu trong hành trình nhân thế là sự thinh lặng trong nấm mộ, và sự thinh lặng của người đan sĩ trong thời khắc cuối ngày để đi vào ban đêm cũng mang cùng một ý nghĩa đó:

+ Trước tiên, thinh lặng để đi vào giấc ngủ ban đêm, biểu tượng cho một cái “chết tạm thời”, nghĩa là người đan sĩ giữ thinh lặng tuyệt đối sau giờ kinh tối không phải chỉ đơn thuần là vấn đề giữ thinh lặng, mà là sống cái thinh lặng; nghĩa là làm cho cái tôi hoàn toàn trống rỗng, là chết đi chính mình để dành riêng một cõi riêng tư cho Lời được lên tiếng trong cuộc sống của mình, như thánh Phaolô đã nói về chính Ngài: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

+ Kế đến, thinh lặng để đi vào giấc ngủ ban đêm, cũng là biểu tượng cho một sự kết hiệp với Đức Giêsu trong sự thinh lặng của ngày thứ bảy thánh, đồng thời hy vọng cùng được trỗi dậy với Người trong ánh sáng của sự sống lại, bởi vì chính Người đã đi vào nấm mộ để tiêu diệt sự chết, và đã sống lại trong vinh quang. Như thế, dẫu sự chết mạnh, nhưng sự thinh lặng của Đức Giêsu trong sự chết còn mạnh hơn; dẫu sự chết mạnh, nhưng tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nơi Người còn mạnh hơn; và dẫu sự chết mạnh, nhưng sự sống lại của Người còn mạnh hơn.

+ Và cuối cùng, thinh lặng để đi vào giấc ngủ ban đêm, còn là khởi đầu hành trình hoán cải, đi vào hành trình đức tin và bước đi trên hành trình đức ái. Khởi đầu hành trình hoán cải để nhìn nhận và tránh xa tội lỗi, quyền lực của sự dữ: “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi” (1Cr 15,55-56). Đi vào hành trình đức tin để trở về với chính bản ngã của mình mà nhận biết Thiên Chúa quyền năng và gần gũi, như trong tác phẩm Tự Thuật, thánh Augustinô viết: ”Deus est intimior intimo meo, Deus est interior intimo meo et superior summo meo – Thiên Chúa thân mật với tôi hơn tôi với chính mình’, Thiên Chúa sâu thẳm trong tôi hơn tôi với chính mình và cao cả trong tôi hơn tôi với chính mình”. Và bước đi trên hành trình đức ái để sống trọn vẹn ơn gọi tình yêu với tha nhân trong mọi lúc, mọi nơi, và mọi việc làm, để: “Nếu có phải lên tiếng, thì hãy nói vì tình yêu; và nếu có thinh lặng, thì hãy thinh lặng vì tình yêu,… hãy làm mọi sự vì tình yêu” (Thánh Augustinô).

2.3. Thinh lặng để rao truyền Lời – sống ơn gọi ngôn sứ

Không ai có thể tự gán cho mình tước hiệu “ngôn sứ”. Người ta cũng không thể trở thành ngôn sứ bằng sáng kiến của mình, nhưng bởi Thiên Chúa. Ngôn sứ là một ơn gọi. Chính Thiên Chúa kêu gọi và tuyển chọn con người làm ngôn sứ cho Người và được sai đi.

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, trong buổi tiếp kiến chung ngày 29 tháng 3 năm 1969, đã khuyến dụ các đan sĩ dòng Xitô Nhặt Phép như sau: “Parlez au monde par votre silence”. Có thể giả thiết rằng, khi khuyến dụ các đan sĩ “hãy nói với thế giới bằng sự thinh lặng của các con”, phải chăng thánh Giáo hoàng đã đồng hóa sự thinh lặng của các đan sĩ với chính đời sống chiêm niệm của họ; nói cách khác, đối với ngài, chính đời sống trung thành trong chốn cô tịch của các đan sĩ sẽ là một lời chứng hùng hồn về Thiên Chúa cho thế giới mà ở đó “người ta cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy”[41]. Bên cạnh đó, những lời này của thánh Giáo hoàng cũng muốn nhắc nhở các đan sĩ hãy xác tín mạnh mẽ vào căn tính của mình, đó là gia sản quý giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ qua các đấng sáng lập, để tiếp nối truyền thống, duy trì và phát triển ơn gọi của mình giữa lòng Giáo hội, bằng một sự hiện diện tuy âm thầm nhưng lại mang tính ngôn sứ hữu hiệu cho thế giới hôm nay.

Còn Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong tông huấn Vita Consecrata, đã khẳng định giá trị và đề cao tính ngôn sứ của đời sống chiêm niệm trong lòng Giáo hội và giữa lòng thế giới như sau: “Các dòng hoàn toàn sống đời chiêm niệm, trong cô tịch là thinh lặng, họ hướng toàn thể đời sống và toàn thể sinh hoạt vào việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Như thế họ cống hiến cho cộng đồng Giáo hội một chứng tá độc đáo về tình yêu của Giáo hội dành cho Chúa, và góp phần với sức phong nhiêu Tông đồ huyền diệu vào sự tăng trưởng của Dân Thiên Chúa”.[42]

 Đức Thánh cha Biển Đức XVI, trong buổi tiếp kiến các tín hữu và du khách hành hương trong sân nhà nghỉ mát Castel Gandolfo sáng thứ Tư 10-8-2011, đã đề cập một cách trân trọng tới các đan viện và cuộc sống trong thinh lặng, suy tư, chiêm niệm và cầu nguyện của các đan sĩ khi nói: “Trong mọi thời đại, đều có các người nam nữ thánh hiến cuộc đời cho Thiên Chúa trong đời cầu nguyện như các nam nữ đan sĩ. Sự thinh lặng và vẻ đẹp của nơi chốn, trong đó cộng đoàn đan tu sống – vẻ đẹp đơn sơ và khắc khổ – phản ánh sự hài hòa tinh thần mà chính cộng đoàn tìm thực hiện. Các đan viện là các ốc đảo, trong đó Thiên Chúa nói với nhân loại; và trong nhiều đan viện có sân bên trong, là nơi biểu tượng, bởi vì nó là một khoảng không đóng kín, nhưng mở về trời cao”.

Cuối cùng, Đức Thánh cha Phanxicô thì cho rằng những nam nữ đan sĩ sống đời chiêm niệm là tiếng nói của Giáo hội không ngừng ca ngợi, tạ ơn, nài van và cầu bầu cho toàn thể nhân loại. Bằng cách này, họ là những người cộng sự của Thiên Chúa, đan sĩ chiêm niệm có một sứ mệnh Tông đồ và ngôn sứ trong Giáo hội và cho thế giới, bằng sự “giúp các thành viên ngã qụy của Nhiệm thể vinh quang của Người trỗi dậy”.[43] Ngài cũng bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với các đan sĩ chiêm niệm khi ngài nói tiếp: “Thế giới và Giáo hội cần các con là ánh sáng soi đường cho hành trình của nhân loại trong thời đại chúng ta. Đây chính là chứng tá mang tính ngôn sứ của các con. Mặc dầu các con rời xa thế gian, nhưng các dấu chỉ cho thấy các con thuộc về Đức Kitô, các con sẽ không ngưng nghỉ chuyển cầu cho nhân loại, dâng lên Chúa những sợ hãi và hy vọng, những niềm vui và đau khổ của thế giới”.[44] Chính vì sự cao trọng đó, nên ngài cũng khuyên dạy họ rằng: “Đời sống chiêm niệm, cha thấy điều quan trọng là phải biết lưu ý đến sự thinh lặng được lấp đầy bởi sự hiện diện của Thiên Chúa. Đời sống chiêm niệm trọn vẹn của các con đòi hỏi ‘một thời gian và khả năng thinh lặng và lắng nghe’ Thiên Chúa và con người. Hãy để tình yêu mà các con dành cho Thiên Chúa thúc bách các con, ngõ hầu các con có thể để cho miệng lưỡi của mình trở nên thinh lặng và nhờ đó Thần khí sẽ nói với các con”.[45]

Từ những lời giáo huấn và khích lệ của các Vị cha chung của Giáo hội qua những thời đại khác nhau, chúng ta nhận thấy Giáo hội luôn luôn trân quý đời sống cô tịch và thinh lặng của các đan viện. Đời sống này là nét đẹp quen thuộc bắt nguồn từ trong truyền thống đan tu thời các tổ phụ cho đến ngày nay. Giá trị đời đan tu và lý tưởng ngôn sứ của người đan sĩ không phải là câu chuyện của thời xưa, nhưng vẫn là câu chuyện của ngày hôm nay. Vì người đan sĩ thuộc về hành ngũ những người sống đời thánh hiến, nên ơn gọi phải trở nên dấu chỉ cho thời đại, trở nên ngôn sứ giữa lòng thế giới. Bản Tuyên Ngôn của Hội dòng Xitô Thánh Gia minh định rằng: “Đan sĩ Xitô Thánh Gia làm chứng tá tình yêu Thiên Chúa giữa lòng nhân loại bằng sự thông hiệp với Chúa Cứu Thế, trong hy sinh thầm lặng và cầu nguyện tha thiết để cứu giúp những người chưa nhận biết Chúa”[46]. Đây cũng là điều mà ngày nay Đức Giáo hoàng Phanxicô mong muốn đời sống của các đan sĩ phải “đánh thức thế giới”[47] qua đời sống chứng nhân âm thầm như muối, như men và là ánh sáng cho trần gian (x. Mt 13, 13-16). Đó vừa là một vinh dự, vừa là một nhiệm vụ khẩn thiết đối với các đan sĩ, nghĩa là đan sĩ không chỉ sống cho mình, nhưng còn phải hướng tới một viễn tượng lớn lao hơn, đó là vì phần rỗi nhân loại. Đan sĩ phải trở nên ngôn sứ của Thiên Chúa cho con người thời đại, nghĩa là mang sứ điệp hiệp nhất của Chúa Kitô đến với mọi người bằng lời cầu nguyện và đời sống thánh thiện, bởi vì “họ là vinh dự của Giáo hội và là mạch tuôn trào các ơn thiêng và gương sáng của đời sống cá nhân như là lời giới thiệu hùng hồn nhất cho Hội dòng mình, và là lời mời gọi sống đời Tu dòng hữu hiệu hơn hết.”[48]

Đáp lại lời mời gọi của Đức Thánh cha Phanxicô trong Tông thư Desiderio Desideravi về việc giữ thinh lặng thánh như Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma hướng dẫn, hầu hết các giám mục giáo phận tại Việt Nam đã ra thông báo cho các giáo xứ về việc thực hành này; cụ thể như trong huấn từ vào dịp tĩnh tâm của linh mục đoàn Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, Đức tổng giám mục Giuse Nguyễn Năng đã ra thông báo ấn định như sau: “Thinh lặng thánh là một thành phần của việc cử hành và là cao điểm của trình tự phụng vụ. Đây là động tác dành cho toàn thể cộng đoàn, qua đó, Chúa Thánh Thần hiện diện làm sinh động toàn bộ việc cử hành và uốn nắn người tham dự. Vì thế, các Giáo xứ và các cộng đoàn thực hiện việc thinh lặng thánh trong tất cả các thánh lễ”.[49]

Cũng trong tinh thần đó, các đan viện ngày nay tiếp nối truyền thống đan tu bao đời và đáp lại lời mời gọi của  Đức Thánh cha, đã, đang và mãi là những cộng đoàn đi đầu trong việc thực hiện việc giữ sự thinh lặng thánh, không những trong các cử hành phụng vụ, mà còn cả trong đời sống hằng ngày; bởi thinh lặng và cô tịch là những yếu tố quan trọng làm nên tính đặc thù cho đời sống chiêm niệm của họ trong lòng Giáo hội và giữa lòng thế giới; và mẫu gương về đời sống thinh lặng cho tất cả chúng ta không ai khác chính là Mẹ Maria, như lời của Đức Thánh cha Phanxicô dạy: “Mẹ rất Thánh Maria là gương mẫu của các con. Mẹ có thể lãnh nhận Lời Chúa bởi vì Mẹ là người phụ nữ thinh lặng – không phải là một sự thinh lặng không sinh hoa trái và cằn cỗi, nhưng đúng hơn là một sự phong phú và tròn đầy. Sự thinh lặng của Mẹ cũng là sự tròn đầy của tình yêu, vì tình yêu luôn chuẩn bị cho chúng ta đón chào một Ai Khác và những người khác”.[50]

[1] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium, số 14.

[2] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium, số 14.

[3] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi, ban hành ngày 29-06-2022; chuyển ngữ: Ủy Ban Phụng Tự Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, 2022.

[4] Edward McNamara, The Spirit of the Liturgy, San Francisco, 2000, tr. 209; Sounds of Silence, trong Zenit Daily Dispatch, Rome, 20.01.2004.

[5] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi, ban hành ngày 29.06.2022, số 52.

[6]  Sách đã dẫn, số 52.

[7] Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 51.

[8] Giuse Phạm Đình Ái, SSS, Cử Hành Hy Lễ Tạ Ơn, Nxb. Phương Đông, 2014, tr. 80-89.

[9] Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 54.

[10] Sđd., số 56.

[11] ĐỨC GIÁO HOÀNG Biển Đức XVI, Học biết thinh lặng để lắng nghe Thiên Chúa và tha nhân, Bài huấn dụ sáng thứ tư 7.3.2012, truy cập ngày 17.10.2023, https://tgpsaigon.net/bai-viet/hoc-biet-thinh-lang-de-lang-nghe-thien-chua-va-tha-nhan-37534.

[12] x. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 55.56.

[13] Sđd., số 145.

[14] x. Sđd., số 164.

[15] x. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 164.

[16] x. Joseph Ratzinger, Der Geist der Liturgie (Verlag Herder Freiburg im Breisgau, 8th edition, 2007). Bản dịch Việt ngữ: “Tinh Thần Phụng Vụ” từ bản tiếng Anh “The Spirit of Liturgy” bởi Nguyễn Luật Khoa, Ofm., Nxb Tôn Giáo, 2007, tr. 226.

[17] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông thư “Desiderio Desideravi“, ban hành ngày 29-06-2022, số 52.

[18] ĐHY Robert Sarah, La force du silence, Bản dịch tiếng Việt của Đan viện Trappiste Đức Mẹ Sept-Fons, Sức mạnh của thinh lặng, Thực hiện liên doanh: Nhà sách Đức Bà Hòa Bình, 2019, tr. 9-10.

[19] x. ĐỨC GIÁO HOÀNG Phaolô VI, Thông điệp Mysterium Fidei – Mầu nhiệm Đức tin, Ban hành ngày 3-9-1965, số 56-74.

[20] x. Sách Dẫn nhập Bài Đọc cho Thánh lễ, số 28; Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 56.

[21] x. Joseph De Grocco, A Pastoral on the General Instruction of the Rôman Missal, tr. 31-32.

[22] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng Vụ Thánh, số 30; Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma, số 35. 42.

[23] x. ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông hiến “Vultum Dei quaerere – Tìm Nhan Thiên Chúa“, 29-06-2016, số 31.

[24] Thánh Biển Đức, Tu luật, Lời mở 1.

[25] ĐỨC GIÁO HOÀNG Biển Đức XVI, Với Thiên Chúa, bạn không bao giờ cô đơn, chuyển ngữ: Giuse Phan Văn Phi, Đồng Nai, 2023, tr. 119.

[26] x. Sách đã dẫn, tr. 120.

[27] x. Sách đã dẫn, tr. 121.

[28] Thánh Biển Đức, Tu Luật 43,3.

[29] Thánh vịnh 50,17.

[30] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế “Phụng Vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium”, số 84.

[31] x. J. D. Crichton, Understanding the Prayer of the Church, Geoffrey Chapman, 1993, tr. 77.

[32] Quy chế Tổng quát Phụng vụ Các Giờ kinh, số 202.

[33] Sách đã dẫn, số 201.

[34] Sách đã dẫn, số 202-203.

[35] Sách đã dẫn, số 193.

[36] Sách đã dẫn, số 86.

[37] Hội Dòng Xitô Thánh Gia, Thói lệ, số 185.

[38] Thánh Biển Đức, Tu Luật 22,6.

[39] ĐỨC GIÁO HOÀNG Biển Đức XVI, Tông huấn ‘Lời Thiên Chúa – Verbum Domini’, Ban hành ngày 11-11-2010, số 66.

[40] Thánh Biển Đức, Tu Luật 42,1.8-9.

[41] Câu nói thời danh thánh Giáo hoàng Phaolô VI trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi – Loan Báo Tin Mừng, số 41: “Người đương thời sẵn sàng lắng nghe những nhân chứng hơn là những thầy dạy; hoặc nếu họ có nghe những thầy dy, thì bởi vì chính những thầy dạy đó đã là những nhân chứng”.

[42] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Vita Consecrata – Đời sống Thánh hiến, Ban hành ngày 25-3-1996, số 8.

[43] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông hiến “Vultum Dei quaerere – Tìm Nhan Thiên Chúa“, ban hành ngày 29-06-2016, số 9.

[44] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Sách đã dẫn, số 36.

[45] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Sách đã dẫn, số 33.

[46] Hội Dòng Xitô Thánh Gia, Tuyên Ngôn, số 4.

[47] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông thư Năm Đời Sống Thánh Hiến, Ban hành ngày 21-11-2014, số 2.

[48] Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Canh Tân Thích Nghi Đời Sống Dòng Tu: Perfectae Caritatis – Đức Ái Trọn Hảo, 1965, số 7 và 24.

[49] Văn phòng Tòa Tổng Giám Mục, 180 Nguyễn Đình Chiểu – Quận 3, Tp.HCM, Thông báo về việc giữ thinh lặng thánh trong thánh lễ, 25-11-2022, Lm. Phêrô Kiều Công Tùng, Chưởng ấn, ký tên và đóng dấu.

[50] ĐỨC GIÁO HOÀNG Phanxicô, Tông hiến “Vultum Dei quaerere – Tìm Nhan Thiên Chúa“, Ban hành ngày 29-06-2016, số 33.

.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục