danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (14) – TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN

Tác giả: PM. Grégoire Phan

“Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mc 14,38)

Là đan sĩ, chúng ta không lạ lẫm gì với thuật ngữ “tỉnh thức và cầu nguyện.” Điều này có làm chúng ta vốn là những người được coi là “chuyên viên cầu nguyện,” chạnh lòng khi được nhắc nhở là hãy tập trung vào bổn phận của mình, đừng sao lãng việc bổn phận! Tại sao lại nhắc đến vấn đề tỉnh thức trong bối cảnh hôm nay? Phải chăng đan sĩ đã không còn đủ tỉnh thức, đan sĩ mất cảnh giác với sứ vụ của mình?

Điều gì nhắc nhớ người đan sĩ về nếp sống của mình khi thiếu đi sự tỉnh thức cầu nguyện đích thực? Mệnh lệnh “hãy tỉnh thức và cầu nguyện” đến từ Chúa có thức tỉnh tâm hồn đan sĩ, hay chỉ là một vấn đề để bàn thảo, mổ xẻ theo kiểu văn chương triết tự. Vì những hệ luỵ có thể xảy ra nếu thiếu đi tỉnh thức, thiếu đi cầu nguyện trong cuộc sống của đan sĩ, chúng ta cùng nhau nhấn mạnh đến chiều kích tỉnh thức và cầu nguyện, hầu nhắc nhớ bổn phận quan trọng của nếp sống chúng ta.

1. Khái quát hạn từ

1.1. Tỉnh thức

Theo ngữ nghĩa Hán-Việt, tỉnh thức là người không có ảo tưởng về bản thân và cuộc đời; không nhầm lẫn giữa mộng tưởng và thực tại. Người tỉnh thức sẽ hiểu biết mình trong tương quan với trần thế và tương quan với Thiên Chúa.

Trong giáo thuyết Phật giáo, Thuật ngữ Bắc Phạn “Smrti” có nghĩa là tỉnh thức: Tỉnh thức là thực hiện hành động với đầy đủ ý thức. Mục đích của sự chú tâm trong việc kiểm soát những hành động của người tu thiền. Đây là một trong những điểm trọng yếu của thiền tập trong Phật giáo, bao gồm việc tu tập tỉnh thức thân, khẩu và ý để hoàn toàn tỉnh thức về việc mình làm và cái mình muốn.[1]

Sống tỉnh thức là tự thân duy trì ý thức trên mỗi công việc mình đang thể nghiệm, đang “sống” từng khoảnh khắc và biết rõ những gì đang diễn ra nơi mình và cuộc sống quanh mình. Một vị cư sĩ tu tập đạt đến giác ngộ là tỉnh thức. Vị hành giả “ngộ” ra chân lý để không còn bị những sân si phiền muộn chi phối, làm biến dạng chân lý đang thể hiện nơi mình. Nơi họ có quán chiếu của tâm hồn như mặt trời chân lý chiếu soi vào thâm tâm. Họ nhìn thấy cái đúng với bản sắc thật của chúng.[2]

Theo chiều kích thiêng liêng, người tỉnh thức luôn hướng về siêu việt, nghĩa là luôn hướng đến Chân, Thiện, Mỹ để tư tưởng và hành động luôn đặt ở tình trạng thận trọng, khôn ngoan và đạo đức. Người tỉnh thức cũng chính là người sống đẹp từng giây phút hiện tại, nghĩa là sống toàn tâm, toàn ý trong từng công việc, từng bổn phận, từng mối quan hệ với tâm hồn đầy yêu mến.[3]

1.2. Cầu nguyện

Cầu nguyện là kết nối với vĩnh cửu. Cầu nguyện là thái độ sáng suốt của nếp sống kết nối với Đấng là nguồn thánh thiêng. Khi kết hiệp với Chúa, sống trong ơn nghĩa Chúa, tâm hồn không bị giao động bởi sợ hãi hay những biến chuyển bất thường của cuộc sống; con người vốn dĩ sợ hãi những gì là mong manh, bấp bênh, chóng qua và hay hư mất. Khi được kết nối với vĩnh cửu, con người được trú ẩn nơi chốn an toàn. Thánh vịnh  62 đã diễn tả điều này: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62,2).

Cầu nguyện là tâm tình vượt thời gian và không gian. Lời cầu nguyện không giới hạn chúng ta trong thực tại hữu hình, nhưng liên kết chúng ta với thực tại vô hình. Lời cầu nguyện không ràng buộc chúng ta trong khung cảnh địa lý, nhưng tâm tình cầu nguyện với Thiên Chúa vươn tới người anh em cùng khổ ở tận nơi xa xôi của một vùng trời xa lạ đan sĩ chưa hề đặt chân tới.

2. Tác nhân gây cản trở

2.1. Thể lý không đủ tỉnh thức

Một người thể lý bị rối loạn về thần kinh thì không đủ tỉnh táo để xử lý những thông tin. Một người rối loạn giấc ngủ cũng trở nên mơ hồ trong các vấn đề của cuộc sống. Việc rối loạn thể lý do bệnh tật gây nên làm yếu nhược thể xác.

Đức Giêsu nhấn mạnh tình trạng thể lý trong lối sống thiếu tỉnh thức sẽ ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng: “Anh em hãy đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” (Lc 21,34).

Trong Tin mừng Nhất Lãm, khi ba môn đệ thân tín là thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan được Chúa dẫn vào vườn Cây Dầu để cùng tỉnh thức mà cầu nguyện với Người trước khi chịu khổ nạn. Trong giờ phút quan trọng, Chúa cảnh báo: Hãy cầu nguyện luôn thì mới có thể tỉnh thức, vì “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41). Tuy nhiên, Tin mừng cho thấy các môn đệ thân tín đã không giữ được mình tỉnh thức trong cầu nguyện. Họ đã mê man trong giấc ngủ. Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch là “đôi mắt họ li bì nặng giấc”. Hệ luỵ tai hại của việc thiếu tỉnh thức và thiếu cầu nguyện có thể dẫn người ta xa rời đức tin.

 Vậy nên, điều cần thiết là mối tương quan giữa thân xác và linh hồn được hoà hợp. Khi đó Kitô hữu lướt thắng được những trì trệ trong nếp sống. Người Kitô hữu không bị dòng đời xô đẩy mà ngủ mê trong những yếu đuối của mình.

2.2. Ngủ mê giữa dòng đời xô đẩy

Nhìn vào thực tế của kiếp sống nhân sinh, chúng ta thấy có những người bị dòng đời xô đẩy vào vòng xoáy nghiệt ngã danh, lợi, thú. Khi bị cuốn vào vòng xoáy cuộc đời, chúng ta hiểu đó là trình trạng ngủ mê giữa dòng đời, xoay vần nổi trôi.

Ca dao tục ngữ rất khéo léo diễn tả tình trạng luẩn quẩn của sự u mê này : “Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ hòng ra khỏi, kẻ mong bước vào. Cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô. Tung tăng như cá trong lờ, trong không ra được, ngoài ngờ là vui.”[4]

Đoạn trích dẫn trên đây diễn tả tình trạng của kiếp người bị xô đẩy, dập dờn bởi lợi lộc và danh vọng, tiến thoái lưỡng nan. Người ta có thể chấp nhận cuộc đời theo kiểu “Đời là thế, It’s life ! C’est la vie!” Có người chấp nhận những cái “tầm thường” được mệnh danh thanh tao, thiêng thánh. Có người chấp nhận kiếp sống nổi trôi giữa dòng đời trôi nổi và sống thiếu mục đích. Những suy nghĩ tiêu cực cũng làm cho người ta quên đi mục tiêu sống. Lúc đó, nhãn quan của chúng ta về thế giới bị đóng băng, cảm giác lạnh lùng trước sự vật. Hình ảnh tươi đẹp của thế giới bị giới hạn trong nhãn quan tiêu cực của bản thân. Buông xuôi là điều có thể xảy ra ngay cả đối với một người đã từng sống rất nhiệt thành.

2.3. Sa chước cám dỗ

Trong cuốn sách có tựa đề “Chứng từ kinh nguyện, cuộc chiến của một ẩn sĩ diễn tả về việc cầu nguyện cần phải chiến đấu với thế lực thù địch. Thù địch ở đây chính là ma quỷ, vì ma quỷ làm cho người ta chia trí, cản trở họ cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Ma quỷ là tác nhân gây trở ngại chúng ta kết nối với Thiên Chúa.[5] Thiếu tỉnh thức còn thể hiện ở tình trạng bị ma quỷ điều phối hoạt động với những người thiếu đời sống cầu nguyện. Vì vậy thánh Giacôbê cảnh giác chúng ta về tình trạng tồi tệ có thể xảy ra: “Mỗi người có bị cám dỗ là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt” (Gc 1,14). Bị cám dỗ là điều có thể xảy ra. Chúa không dạy: hãy cầu nguyện để không bị cám dỗ, nhưng là đừng để sa vào chước cám dỗ.

Tác nhân thứ đến làm cho chúng ta không kết nối được với Thiên Chúa chính là thể xác yếu hèn. Khi miêu tả về tình trạng không tỉnh thức của ba môn đệ theo Chúa trong vườn Cây Dầu. Thể lý của các môn đệ mệt mỏi, mắt nhắm nghiền và tinh thần trống rỗng diễn tả về tình trạng tâm hồn u mê và thiếu cầu nguyện. Cần phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đứng vững trong ngày tận cùng. Vì chúng ta hiểu rằng: “Tinh thần thì hăng hái, xác thịt thì yếu hèn (x. Mt 26,41); “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,40).

Với những người Kitô hữu, Chúa Giêsu cảnh giác cao độ cho chúng ta về việc phải “tỉnh thức và cầu nguyện”, để đứng vững trong mọi thử thách (x.Mt 26,41; Mc 13,33; 14,38; Lc 21, 36). Thánh Phêrô cho chúng ta thấy tác nhân đánh mất đi sự thức tỉnh nơi tâm hồn, ấy chính là sự quấy phá của ma quỷ. Vì vậy, cần thiết nơi chúng ta là sống tỉnh thức và chừng mực trong mọi sự: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1Pr 5,8-9). Chúng ta luôn luôn bị những thế lực của sự dữ muốn cướp đi sự phong phú của đức tin và tìm mọi cách gây tổn hại về mặt tinh thần của chúng ta.

Phương thế để không rơi vào cám dỗ chính là cầu nguyện. Chúa ban cho cho chúng ta một huấn dụ để hoàn thiện bằng cách thực hành việc cầu nguyện. Cầu nguyện để xin đừng sa chước cám dỗ. Thậm chí ngay trong khi cầu nguyện, chúng ta cũng được mời gọi tỉnh thức để không xin Chúa chiều theo ước vọng của mình; nghĩa là chiều theo cám dỗ và lầm tưởng rằng điều đó đẹp ý Chúa.

3. Đan sĩ thức tỉnh và cầu nguyện

3.1. Kitô hữu tỉnh thức cầu nguyện

Đức giáo hoàng Phanxicô mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện để tâm hồn không bị sự lười biếng thiêng liêng làm trì trệ: “Chúng ta thấy rằng tỉnh thức gắn liền với sự chú tâm: hãy chú ý, canh thức, đừng xao lãng, nghĩa là hãy tỉnh thức! Không để lòng mình trở nên lười biếng và đời sống thiêng liêng trở nên tầm thường. Hãy quan tâm ta có thể là những “Kitô hữu ngái ngủ”, không có đà tiến tinh thần, không hăng hái cầu nguyện, không hăng say đối với sứ vụ, không say mê Tin mừng. Và điều này làm ta “ngái ngủ,” ù lỳ, rơi vào tình trạng lãnh đạm, dửng dưng đối với mọi sự, trừ những gì làm chúng ta thoải mái.”[6]

Như vậy khi sống tỉnh thức, chúng ta tránh được những ảo tưởng về cuộc sống. Chúng ta nhận ra ánh sáng sự thật và không bị những suy nghĩ tiêu cực làm vạy vọ nếp sống của chúng ta. Đan sĩ vốn là những Kitô hữu cũng xây dựng chiều kích cánh chung cần tỉnh thức và sẵn sàng luôn.

3.2. Tỉnh thức, tâm thế của những người sẵn sàng

Gần đây, các nhà khảo cổ đã tìm khám phá ra nếp sống phồn thịnh của một thành phố cổ xưa Pompeii, gần thành phố Napoli, Italia. Vào mùa hè năm 79 sau Công nguyên, núi lửa Vesuvius gần đó đã phun trào. Khi núi lửa phun trào, khói và khí độc hoà vào không khí nhanh chóng bao trùm thành phố. Gần như chỉ sau một đêm, nhiều người trong số 10.000 cư dân  ở thành phố này đã biến mất dưới lớp tro bụi. Rất nhiều xác chết hoá thạch được tìm thấy trong các tư thế khác nhau: Có người chết trong tư thế ngủ, kẻ chết tư thế đang ăn, kẻ khác chết đang khi làm việc. Tuy nhiên, có những xác chết của những người lính đang đứng trong thư thế canh gác, với cây giáo dài trên cánh tay.

Những hình ảnh trên đây cho chúng ta thấy tâm thế sẵn sàng không lệ thuộc vào việc chúng ta đang thức hay ngủ, đang làm việc hay trong lúc ăn uống. Điều Chúa mời gọi chúng ta sẵn sàng không nhằm chỉ thị cho chúng ta: không được ngủ, nhưng là tâm thế tỉnh thức với đời sống thiêng liêng. Bởi vì cuộc sống trần gian sẽ là: cái có kỳ hạn sẽ qua đi, còn những điều vĩnh cửu sẽ tồn tại mãi. Chúng ta sẽ không thấy rõ được những gì vĩnh cửu ở trần thế này, nhưng chúng ta có một con đường kết nối với vĩnh cửu. Thánh Phaolô xác tín: “Bao giờ cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi (…) Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như một bức gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt” (1Cr 13,10.12).

Người khôn ngoan là người có tâm thế sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh. Dụ ngôn về năm cô khôn ngoan chỉ cho chúng ta thấy tâm thế của người sống tỉnh thức (x. Mt 25,1-13). Người tỉnh thức chủ động trong mọi thời khắc của cuộc sống; thời điểm chuẩn bị cho hành trình gặp gỡ Thiên Chúa, vì Người không ấn định cho chúng ta biết thời giờ Thiên Chúa viếng thăm. Vì vậy, Chúa Giêsu nhắc nhở: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25,13). Người biết dự trù về cuộc sống mai hậu là người sống trong sự hướng dẫn và ơn lo liệu của Chúa Thánh Thần.

Như vậy, tình trạng ngủ mê trong lỗi phạm đánh mất cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa. Chúa muốn chúng ta luôn giữ mối tương quan tình yêu. Tỉnh thức và sẵn sàng giúp cho chúng ta luôn cầm trên tay đèn sáng là đức tin, chứa đầy dầu ân sủng của đức cậy để đức mến luôn cháy sáng trong hy vọng. Đó là tâm thế chờ đợi Chúa với tất cả lòng kính cẩn và sẵn sàng, là cách thế chúng ta đang kiên vững trong bước đường hoàn thiện.

3.3. Đan sĩ cùng nhau thức tỉnh mong chờ “thời khắc lịch sử”

Tâm trạng của người chờ đợi là nôn nóng, vội vàng và ngóng chờ thành quả. Tuy nhiên, nếp sống đan tu tạo cho đan sĩ có được một tâm lý ổn định đứng trước các biến cố của cuộc sống. Việc chờ đợi tập cho đan sĩ đức tính kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh. Thực hành nếp sống chung giúp đan sĩ hoàn thiện hơn và biết đối diện trước thách đố của cuộc sống mà không chạy trốn hay thoái lưu. Bởi lẽ, một tập thể lành mạnh và gắn kết sẽ giúp các thành viên vững mạnh.

Những phương thế của nếp sống đan tu giúp cho tâm hồn đan sĩ hướng về Chúa Kitô với mối dây hiệp thông của một cộng đoàn có chung mẫu số: cùng nhau cầu nguyện và việc làm theo nhịp sống cộng đoàn. Điểm chung này đã được thánh Phaolô nhấn mạnh khi nhắn gửi các tín hữu thành Philiphê: “Anh em hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (Pl 2,2).

Đan sĩ sống tỉnh thức là biết sống hiệp thông với nhau. Khi cầu nguyện trong ca toà, các đan sĩ hướng vào nhau diễn tả nguồn mạch hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa và cùng nhau canh thức trong tâm tình cầu nguyện. Việc cử hành chung mang đặc tính canh thức cộng đồng, vì Chúa đã hứa: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ” (Mt 18,20). Đan sĩ cùng nhau cử hành phụng vụ chung là thánh hoá thời khắc, mang vào thời khắc lịch sử có “âm vang” của thần khí Chúa.

Trong đời sống cầu nguyện, sẽ là một mất mát lớn của cộng đoàn khi tinh thần thế tục lấn át, sự đề cao chủ nghĩa cá nhân đến nỗi nếp sống chung của cộng đoàn bị ảnh hưởng. Đó là dấu chỉ của một cộng đoàn ngủ mê, thiếu tỉnh thức, thiếu nhịp sống chung.

Một cộng đoàn chờ đợi tập trung vào Đấng đang đến nói với nhân loại về ơn tái sinh. Trong tĩnh lặng, đan sĩ đón chờ Chúa xuất hiện trong vinh quang. Khi thoát khỏi thái độ hình thức, đan sĩ sẽ ý thức bước vào không gian tĩnh lặng để chu toàn bổn phận hằng ngày trong tinh thần cầu nguyện, phù hợp với lối sống và đặc sủng của mình.

3.4. Đan sĩ thức tỉnh nhân loại bằng nếp sống thánh thiện

Con đường thức tỉnh của đan sĩ dựa vào điều gì? Đâu là những dấu hiệu đan sĩ đã mất đi sự tỉnh thức và cầu nguyện? Điều dễ nhận ra hơn cả là trong nếp sống hàng ngày, đan sĩ đang tìm kiếm điều gì hơn Chúa cho hành trang sống?

Một cộng đoàn xao lãng chiều kích cánh chung (mục tiêu cứu cánh) thì khó nhận diện được như nào là sống chứng nhân. Một nhân loại chạy theo vật chất, đan sĩ cũng chạy theo vật chất, chạy theo số lượng, vậy việc tỉnh thức của đan sĩ ở mức độ nào ? Đức giáo hoàng Phanxicô cảnh báo: “Anh chị em đừng chiều theo chước cám dỗ về số lượng và hiệu quả, lại càng không nên tín thác vào sức riêng của mình. Hãy lục lọi những chân trời của cuộc đời anh chị em và của thời buổi hiện tại với sự tỉnh thức.”[7]

Đời tu vẫn là nếp sống giúp người đan sĩ đạt đến đức ái hoàn hảo một cách sung mãn nhất. Thực vậy, ngày sống của đan sĩ được dệt bằng bảy giờ Kinh đan xen với công việc lao tác và nghỉ ngơi. Trong đó, giờ kinh đêm (vigile) có nghĩa là giờ kinh canh thức. Đan sĩ cử hành cách trọng thể trong ca toà, sau giờ kinh kết vào ban đêm như một sự nhắc nhở đan sĩ về bổn phận canh thức của mình cho Giáo hội và canh chừng nhân tâm của mình cũng như nhân tâm của thế gian bằng việc chờ đợi thời điểm Thiên Chúa viếng thăm. Đan sĩ giống như bạn của Chàng Rể bước vào tiệc cưới hân hoan.

Khi liên kết bổn phận của mình trong sứ vụ mà Hội thánh trao ban, đan sĩ chuyên chăm cầu nguyện, soi mình vào Chúa chứ không soi mình vào vẻ đẹp và sự quyến rũ của thế gian. Đan sĩ nhận ra rằng những điều dệt nên cuộc đời mình không phải là sự hào hoa của thế gian, nhưng là nét đẹp thánh thiêng của các thánh tổ phụ đã chia sẻ về đặc sủng bằng nếp sống thánh thiêng. Những vị đã hăm hở chạy trong cuộc đua dành vòng hoa cho người công chính.

Tóm lại: Như một ngọn lửa làm cháy cả cánh rừng, như một chút men làm cho cả khối bột dậy men, thì một động lực sống thánh sẽ thành toàn ngang qua nếp sống đan tu. Đan sĩ cũng mang trong mình hy vọng về cánh cửa của cánh chung được mở ra đúng thời, đúng buổi. Niềm hy vọng này như một tín hiệu nhận diện về sự hiện diện của Chàng Rể bước vào tiệc cưới vĩnh cửu. Đó là tiệc hoan lạc của Thiên Đàng, của niềm hạnh phúc dạt dào mà người đan sĩ hằng mong đạt được.

Thật vậy, không cầu nguyện, không kết nối với Đấng vô hình, đan sĩ tự để cho thần trí khác chiếm hữu và điều khiển. Những khoảnh khắc ấy, chiều kích thánh thiêng mất hút nơi người đan sĩ. Thay vào đó là những toan tính trần tục thế chỗ cho những định hướng chọn lựa cơ bản của đan sĩ chúng ta.

 

[1]x.Thiện Phúc, Sống Tỉnh Thức Theo Quan Điểm Phật Giáo– Song Ngữ Vietnamese-English PDF, https://thuvienhoasen.org/a39374/song-tinh-thuc-theo-quan-diem-phat-giao-song-ngu-vietnamese-english-pdf- ; cập nhật 24/05/2023.

[2] x. Liên Trí, Sống tỉnh thức, Nguyệt San Giác Ngộ, https://giacngo.vn/song-tinh-thuc-post47933.html, cập nhật, 12/07/2019.

[3] x. Lm Thái Nguyên, “Sống tỉnh thức”, Gp Đà lạt, https://giaophandalat.com/song-tinh-thuc.html, cập nhật, 03/01/2023.

[4] Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951.

[5] x. Marcel Driot, nguyên tác, Devenir prière, une vie d’ermite – Hoá thành kinh nguyện, dịch giả Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ, Nouvelle Cité, Paris, 1994, Châu Thuỷ, 2004, tr. 106.

[6] ĐGH Phanxicô, “Kinh Truyền Tin”, Chúa Nhật 28.11. 2021.

[7] Đức Thánh Cha Phanxicô,  Tông thư gửi tất cả các người Tận hiến, nhân dịp Năm Đời sống thánh hiến, ngày 02 tháng 12 năm 2014, phần I,3.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://www.godsongs.net/2016/02/my-soul-is-sad-could-you-not-watch-one-hour-with-me.html)

CÙNG CHUYÊN MỤC