danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (15) – HÁT “HAY” LÀ CẦU NGUYỆN HAI LẦN

Tác giả: F. Salesio Duy Đông

HÁT “HAY” LÀ CẦU NGUYỆN HAI LẦN

(Bis Orat Qui Bene Cantat)

Âm nhạc đã “thấm” vào tâm hồn tôi từ bao giờ – Tôi không biết! Trong ký ức của tuổi thơ, tôi vẫn còn nhớ, khi còn đang “ngái ngủ” trên chiếc giường cũ kỹ và đơn sơ của đan viện, tôi chợt nghe tiếng đàn ngân nga, vang vọng cùng với lời ca rất êm ả, nhẹ nhàng tựa như ai đó gõ cửa hồn tôi: “Lạy Chúa Trời xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài”, rồi tiếp tục những lời ca du dương lúc trầm, lúc bổng, nhẹ nhàng, êm đềm như ru tôi vào lại trong giấc ngủ: “Hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca” (Tv 95, 4-6). À! thì ra đó là lời ca, tiếng hát của các đan sĩ. Tôi nghe rất hay và rất thích nhưng tôi không hiểu! Cho đến khi tôi được vào trong Ca tòa và cùng với các đan sĩ, tôi “ngêu ngao” theo “cung điệu của riêng mình” những lời Thánh thi, Thánh ca và Thánh vịnh.

Có lẽ âm vang của những lời kinh, tiếng hát nơi đan viện thời đó đã theo tôi cho đến tận hôm nay – là một đan sĩ. Và bây giờ, tôi lại càng thấm hơn khi đọc được đâu đó câu châm ngôn được xem là của  thánh Augustinô: “Hát hay là cầu nguyện hai lần”. Tại sao thế? Tại sao hát “hay” lại được sánh ví với “hai lần cầu nguyện”? Chắc hẳn rằng, thánh Augustinô đã từng có kinh nghiệm. Bởi vì, lời cầu nguyện của ngài luôn được hòa quyện với một trái tim “cháy lửa” yêu mến Chúa. Và chính kinh nghiệm cầu nguyện bằng lời ca tiếng hát đó, đã cho ngài một xác quyết: “Hát là việc của người đang yêu” hay “ai yêu thì hát”.[1]

1. Âm nhạc và cuộc sống con người

Scot Peck đã nói: “cuộc đời này là gai gốc, khó khăn và đau khổ.”[2] Có lẽ, đây là một thực tế mà nhiều người trong thế giới hôm nay đang phải đối diện. Đời người là thế, hạnh phúc và đau khổ, khó khăn và thách đố luôn cùng nhịp bước trên “con đường chẳng mấy ai đi”. Nếu nhìn trong lăng kính của âm nhạc thì đời người chẳng khác gì một bản tình ca lúc trầm, lúc bổng, có lúc êm ái nhẹ nhàng như ru ta vào trong giấc ngủ nhưng cũng có lúc mạnh mẽ, sôi động làm tim ta rạo rực và trào tràn hy vọng, đôi khi lại đặt để ta vào trong những “khoảng lặng” trên dòng nhạc của cuộc đời với những nỗi đau và ray rứt. Những nốt trầm, những nốt bổng cho ta biết giá trị và sự hiện hữu của những nốt bổng và ngược lại.[3] Cũng vậy, đau khổ, buồn sầu, thất vọng, thử thách cho ta biết giá trị và sự tồn tại của niềm vui, hạnh phúc và hy vọng.

1.1 Âm nhạc và nhân cách

Trong cuộc sống con người, cho dù bạn là ai, hay bạn đang sống trong bậc sống nào thì âm nhạc luôn là một trong những nguồn năng lực tinh thần giúp ta trải nghiệm cuộc sống tốt hơn. Không những thế, âm nhạc còn có thể tác động lớn đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người. Tại sao âm nhạc lại ảnh hưởng đến việc phát triển nhân cách của con người? Thưa, bởi vì, âm nhạc có tác dụng phản ánh lên trí tuệ, tư tưởng, cũng như tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến con tim, nghĩa là cảm xúc của con người.[4]

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy, mỗi khi nghe một ca khúc, với nội dung, ý nghĩa, và tâm tư, tình cảm của tác giả chạm đến trái tim ta, lúc đó ta sẽ cảm nhận được sự rung động của con tim, và làm thức giấc tình yêu đang lắng đọng trong tâm hồn mình. Và hơn nữa, âm nhạc lúc này như chắp thêm cho ta đôi cánh để sức tưởng tượng của ta được bay bổng, giúp con người nhận thức, yêu đời và yêu cuộc sống hơn. Ngoài ra, âm nhạc còn đem lại cho con người những cảm thức về thẩm mỹ và sự tinh tế của cuộc sống và là nguồn hạnh phúc cho tất cả mọi người.[5] Lev Tolstoi là một triết gia và là văn hào người Nga đã từng viết: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Và để minh chứng điều đó thì “văn học nghệ thuật phải luôn gắn cho mình sứ mệnh và trách nhiệm lớn đó là bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, đạo đức, hướng đến giá trị Chân-Thiện-Mỹ.”[6]

Âm nhạc cũng vậy, mỗi một ca khúc đều là kết quả của tình yêu mà tác giả thổi vào đó và nó cũng không đi ra ngoài sứ mệnh và trách nhiệm là hướng con người đến những giá trị và phẩm hạnh cao đẹp nhất là Chân – Thiện – Mỹ. Chính những giá trị cao đẹp này giúp nuôi dưỡng tâm hồn đẹp trong mỗi chúng ta và tạo nên một nhân cách tốt: khiêm tốn, nhẫn nại, cam đảm, kỷ luật, nhân ái, yêu thương… Và vì thế, một người không có nhân cách tốt sẽ khó có thể viết ra được những tình khúc bất hủ và sống mãi trong lòng con người qua muôn thế hệ. Chúng ta có thể chấp nhận một ca – nhạc sĩ “khiếm khuyết” trên thân xác, chứ không chấp nhận một ca – nhạc sĩ “khiếm khuyết” về nhân cách. Vì Nhạc cũng là nhân, giúp ta sống những giá trị cao đẹp của phận người, đó là đạt đến Chân – Thiện – Mỹ.[7]

Đời nguời có lúc bình yên, phẳng lặng trong niềm vui và hy vọng, có lúc lại lắm thử thách, gian nan và đau khổ. Tựa như một bản tình ca, cuộc đời con người khi thì có cao trào với những điệp khúc sôi động, lắm lúc phải đối diện với những “nốt trầm”, những “khoảng Lặng” và đôi khi lại còn bị “đảo phách”. Và đó là những “tình khúc” trong cuộc sống, nó gắn kết với phận người và chúng ta chỉ có thể cảm nhận được bằng con tim.

1.2 Ngôn ngữ của trái tim

Âm nhạc là ngôn ngữ của trái tim và thuộc về cảm xúc. Thế nên, “Con người không thể dùng giác quan của mình để nghe, nhìn, ngửi, chạm đến hay nếm được mà chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim. Đôi khi, chúng ta yêu thích một ca khúc nào đó không chỉ vì giai điệu, ca từ mà còn bởi cảm giác mà bài hát đó mang lại.”[8] Nhất là những tâm tình, ý nghĩa của bài hát đó không đâu xa, nhưng gắn liền với những biến cố trong đời mình. Khi ta “hòa mình trong những giai điệu, ca từ của bản nhạc, thì rất có thể ta được xoa dịu những đau khổ dằn vặt của mình trong cuộc sống, hàn gắn những vết thương lòng, khơi dậy miền xúc cảm và kỷ niệm, “tô màu” cho ký ức, “vẽ” nên những bức họa với đủ các gam màu”[9], “ký âm” lên những nốt nhạc với những “tông thăng trầm”, những “khoảng lặng” của cuộc sống. “Khi buồn, nó là liều thuốc xoa dịu nỗi sầu, làm tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản. Khi vui, nó lại là chất xúc tác điểm tô thêm xúc cảm, giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của cuộc sống”[10].

Đây chính là “phương diện truyền tải cảm xúc trọn vẹn và tuyệt vời nhất, giúp chúng ta cảm nhận được từng ngõ ngách sâu thẩm nhất trong tâm hồn”[11]. Và đây là điều mà tôi cảm nhận được không chỉ bằng lý trí mà bằng cả con tim. Hơn hữa, âm nhạc còn có khả năng giao thoa giữa cuộc sống thể xác và cuộc sống tâm linh (Beethoven)[12],  chỉ vì một lý do rất đơn giản: âm nhạc là ngôn ngữ của con tim. Mặc dù, âm nhạc giúp con người đạt được những giá trị tinh thần, xây dựng nhân cách, khám phá ra những giá trị cao đẹp là Chân – Thiện – Mỹ. Thế nhưng, con người vẫn cảm thấy mình cô đơn, lạc lõng giữa một thế giới đang dần bị “tục hóa” những giá trị đạo đức, luân lý và những giá trị thuần túy của con người. Và vì vậy, con người không ngừng tìm kiếm những giá trị tinh thần và siêu nhiên để “khoác” cho âm nhạc một “sắc màu” mới – cao cả hơn, thánh thiêng hơn.

2. Âm nhạc và cầu nguyện

2.1 Âm nhạc trong phụng thờ Thiên Chúa

Ủy ban Thánh nhạc trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam trong tài liệu hướng dẫn về thánh nhạc đã minh định rằng: “Thiên Chúa đã ban cho Dân Ngài hồng ân ca hát. Thiên Chúa ở trong mỗi một con người, và Ngài hiện diện ở cội nguồn âm nhạc. Thật vậy, Thiên Chúa, Đấng ban tiếng hát cho con người luôn hiện diện bất cứ khi nào dân Chúa lên tiếng ca tụng Ngài.”[13] Kinh thánh cũng cho chúng ta thấy được điều đó.

2.2 Cựu ước

Nếu nói hát là cầu nguyện, là để ca tụng Thiên Chúa, thì từ thời Cựu ước, các tổ phụ, các vị tiền nhân chúng ta đã làm được điều đó. Trong sách Đệ Nhị Luật, Thiên Chúa đã phán cùng Môsê rằng: “Bây giờ các ngươi hãy viết cho mình bài ca này, (các) ngươi hãy dạy cho con cái Israel, hãy đặt vào miệng chúng, để Ta lấy bài ca ấy làm chứng cáo tội con cái Israel” (Đnl 31,19). Và trong cuộc xuất hành, khi Dân riêng của Thiên Chúa đã vượt qua Biển Đỏ ráo chân, bấy giờ ông Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Thiên Chúa bài ca sau đây, họ ca rằng: “Tôi xin hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng: Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương…”  (x. Xh 15,1-18). Trong sách Thủ lãnh cũng ghi lại một mẫu gương, đó là bà Đêbôra, thẩm phán Israel, cùng với ông Barac đã hát mừng Thiên Chúa sau khi được Chúa cho khải hoàn (x. Tl 5,1-31).

Đặc biệt, “Vua Đavít và toàn thể nhà Israel vui đùa trước Nhan Thiên Chúa, với mọi thứ nhạc cụ bằng gỗ trắc bá, với đàn cầm đàn sắt, trống con, chũm chọe, thanh la” (2Sm 6,5). Sự phấn khích của vua Đavít khi hát mừng và nhảy múa để ca tụng Đức Chúa đã làm cho bà Mikhan, con gái vua Saun, từ cửa sổ nhìn xuống sinh lòng khinh dể (x. 2Sm 6,16). Thế nhưng, vua Đavít vẫn cứ nhảy múa, vẫn cứ ca hát, vì đối với vua, không có lời cầu nguyện nào sâu sắc hơn, tha thiết hơn, nâng hồn ta lên hơn cho bằng lời ca tiếng hát của chính mình – ngài hát bằng con tim, bằng tình yêu và cả con người.

Trên đây là một vài ghi nhận, cho thấy rằng tổ tiên chúng ta đã dùng lời ca tiếng hát của mình để hát khen và chúc tụng những hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho các ngài. Có lẽ đó cũng là lời cầu nguyện chân thành nhất của các tổ phụ chúng ta thời bấy giờ.

2.3 Tân ước

Truyền thống dùng lời ca tiếng hát để cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa của Tổ tiên không những không bị lãng quên và phai nhòa đi vào thời Chúa Giêsu, mà còn được Chúa Giêsu cũng cố, khích lệ và mặc cho nó một tinh thần mới trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Chính Chúa Giêsu cũng hát Thánh vịnh để cầu nguyện với Cha của Ngài – Đấng ngự trên Trời, chính thánh Máccô đã ghi nhận trong Tin mừng của mình, ngài viết: “Hát Thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra núi Ôliu” (Mc 14,26). Chúa Giêsu còn hát bằng cả cuộc đời của Ngài, hay nói đúng hơn, cả cuộc đời của Chúa Giêsu là một bản tình ca với đủ các tông nhạc “Trầm – Bổng”, những “khoảng lặng” được ứng nghiệm qua lời Kinh thánh, các sách Luật Môsê, các sách Ngôn Sứ và Thánh vịnh (x. Lc 24,44).

Một “Pharisêu” đậm chất “truyền thống” như thánh Phaolô, nhưng khi được Chúa Giêsu Phục sinh cảm hóa và chạm đến trái tim, ngài đã trở thành một con người trào tràn “đam mê”: đam mê Chúa Giêsu, đam mê rao giảng Tin mừng Tình yêu của Chúa. Và, cũng chính ngài đã khuyên các tín hữu: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,19-20).

  Thánh Phaolô đã noi gương Thầy Giêsu trong việc cầu nguyện, ngay cả khi trong nghịch cảnh. Khi còn bị giam trong tù, ngài vẫn hát ca chúc tụng Thiên Chúa: “Vào quãng nửa đêm, ông Phaolô và ông Xila hát thánh ca cầu nguyện với Thiên Chúa; các người tù nghe hai ông hát” (Cv 16,25). Cầu nguyện bằng lời ca tiếng hát có ích lợi cho cuộc sống. Thấy được lợi ích đó, thánh Giacôbê đã khuyên chúng ta: “Ai trong anh em đau khổ ư? Người ấy hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca” (Gc 5,13).

Như vậy, những lời ca, tiếng hát từ thời Cựu ước, Tân ước cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc cầu nguyện bằng âm nhạc. “Như tiếng kêu từ cõi sâu thẳm của con người chúng ta, âm nhạc là con đường để Thiên Chúa dẫn chúng ta hướng tới nơi cao vời hơn. Như thánh Augustinô đã nói: “Người nào yêu thì hát.” Vì thế, âm nhạc là dấu chỉ Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chúng ta yêu mến Ngài.[14] Điều này được hiện thực cách cụ thể hơn qua việc cử hành phụng vụ mà ta quen gọi là thánh nhạc trong phụng vụ. Thánh nhạc “làm cho lời kinh phụng vụ của cộng đoàn Kitô hữu thêm linh động, nhiệt thành, ngõ hầu mọi người có thể ca tụng và cầu khẩn Thiên Chúa Ba Ngôi cách mạnh mẽ và hiệu nghiệm hơn.”[15]

Quả thật, chính “Đức Kitô đã hát Thánh vịnh bằng chính giọng hát của Ngài (x. Mc 14,26). Ngài đã hát Thánh vịnh bằng cuộc đời của Ngài (x. Lc 24,44). Ngài vẫn còn hát Thánh vịnh ngang qua “Thân Thể của Ngài”, nghĩa là ngang qua Giáo hội và một cách cụ thể, ngang qua chính “giọng hát” hàng ngày của chúng ta. Và như Đức Kitô, chúng ta được mời gọi hát Thánh vịnh bằng chính cuộc đời của mình.”[16]

3. Âm nhạc trong Phụng Vụ thánh

Âm nhạc chưa hẳn là thánh nhạc, âm nhạc là nghệ thuật diễn tả cảm xúc, tâm tình bằng âm thanh. Âm nhạc có thể nâng tâm hồn con người lên để “cảm nghiệm” cuộc sống, và quy hướng về sự giải trí, giải tỏa những tâm tư của con người hơn là hướng về cầu nguyện. Trong khi đó, thánh nhạc, được coi là một nghệ thuật cao cả và tế nhị, làm tăng thêm vẻ huy hoàng cho việc thờ phượng Thiên Chúa và làm cho đời sống thiêng liêng của các Kitô hữu nói chung, và người tu sĩ, đan sĩ nói riêng, được triển nở và gắn kết hơn với Chúa Kitô và cộng đoàn khi cầu nguyện.[17]

Hội thánh luôn cầu nguyện qua các thừa tác viên và cộng đoàn, và có nhiều hình thức cầu nguyện khác nhau tùy theo các bậc sống trong đời sống của Hội thánh. Tuy nhiên, việc cầu nguyện phổ biến và chung hết cho tất cả mọi Kitô hữu được quy tụ lại với nhau, có thể đó là cầu nguyện trong Thánh lễ mỗi ngày – Âm nhạc trong Phụng vụ thánh lễ hay thánh nhạc. Thánh nhạc giúp cho sự tiến triển đời sống thiêng liêng của các Kitô hữu được thể hiện rõ nét hơn qua việc tham dự thánh lễ mỗi ngày. Đời sống cầu nguyện của các Kitô hữu được nuôi dưỡng qua thánh lễ với những bài thánh ca mà chính họ hát lên bằng cả con tim và lý trí.

Ðức Giáo Hoàng Piô XII trong Thông điệp Kỷ Luật về Thánh Nhạc đã minh định rằng: “Nhờ thánh nhạc mà giọng nói của Linh mục đang dâng lễ hoặc của cộng đoàn dân Chúa đang chúc tụng Ðấng Tối Cao được hay hơn, làm cho lời kinh phụng vụ của cộng đoàn Kitô hữu linh động hơn, nhiệt tình hơn. Vinh dự mà Hội thánh – kết hợp với Ðức Kitô là vị thủ lãnh của mình – dâng lên Thiên Chúa sẽ lớn lao hơn, và tín hữu nhờ thánh ca lôi cuốn sẽ đạt được nhiều kết quả hơn.”[18] Nhưng không phải ở tự bản chất của âm nhạc khi dùng trong phụng vụ có thể đem lại những thành quả đó, mà vì âm nhạc đi liền với lời kinh, kết thành một phần cần thiết hoặc kiện toàn của phụng vụ thánh. Âm nhạc càng liên kết chặt chẽ với phụng vụ thánh bao nhiêu thì càng trở nên một thứ nhạc thánh hơn bấy nhiêu, vì nó biểu đạt lời cầu nguyện một cách dịu dàng và sâu sắc của con tim.[19]

Tuy âm nhạc có một vị thế rất quan trọng trong thánh lễ, nhưng nó chỉ là phương tiện để hỗ trợ cho phụng vụ thêm phần sốt sắng, nhờ đó các tín hữu cầu nguyện và nâng tâm hồn lên cùng Chúa, chứ không phải để làm “bá chủ” trong phụng vụ[20] theo nghĩa như là một buổi hòa nhạc hầu thưởng thức cho “vui tai”. Và vì thế, âm nhạc trong phụng vụ Thánh lễ phải nhẹ nhàng, du dương để không lấn át giọng hát của cộng đoàn. Ngoài ra, thánh nhạc trong Phụng vụ Thánh lễ không những phải giúp đỡ cộng đoàn dân Chúa biểu lộ và chia sẻ đức tin cùng anh chị em mình, và để nuôi dưỡng cũng như khích lệ niềm tin của họ, mà còn giúp cộng đoàn đi vào đời sống cầu nguyện một cách sâu sắc hơn, sống một đời sống thánh thiện và hiệp nhất hơn.

4. Hát hay là cầu nguyện hai lần

“Tự bản chất, âm nhạc vừa có chiều kích cá nhân, vừa có chiều kích cộng đồng. Vì vậy, có thể nói rằng việc cùng nhau ca hát trong thánh đường diễn tả một cách tốt đẹp sự hiện diện cách bí tích của Thiên Chúa giữa dân Ngài.”[21] Và đây cũng là bổn phận mà các đan sĩ phải cử hành mỗi ngày trong đan viện và trong suốt cuộc đời.

4.1 Cầu nguyện chung – “Hát là việc của đan sĩ”

Trong Đan viện, các đan sĩ dành rất nhiều thời gian cho việc cầu nguyện chung với nhau. Mỗi ngày, các đan sĩ thức dậy từ rất sớm để ca tụng Thiên Chúa qua việc hát kinh trong Các Giờ Kinh Phụng Vụ và trong Thánh lễ. Có thể nói, đan sĩ hóa thân thành những “ca sĩ” thực thụ, để hát lên những “tình khúc” là Thánh vịnh, Thánh thi và Thánh ca do Thần khí linh hứng.

Giờ Kinh Phụng vụ là lời cầu nguyện liên lỉ của toàn thể Hội thánh, nhất là của những người sống đời thánh hiến, đặc biệt là của các nam nữ đan sĩ, hầu để thánh hóa ngày sống và toàn bộ sinh hoạt của mình và cộng đoàn. Với ý nghĩa này, thì cầu nguyện là nhiệm vụ chính yếu của đan sĩ, vì Hội thánh và các đấng sáng lập dòng luôn theo lời Chúa Giêsu dạy, đó là “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1). Cha Tổ phụ Biển Đức Thuận – đấng sáng lập Hội dòng Xitô Thánh Gia cũng nhắc nhở các đan sinh phải luôn cầu nguyện, ngài nói: “việc bổn phận chúng ta là cầu nguyện và kết hợp với Chúa. Đó là việc riêng của chúng ta… Nhà này mà không cầu nguyện, thì hóa ra là nhà nông phu… Thầy dòng phải là con người cầu nguyện” (DN, số 118).

Thật vậy, đời sống cầu nguyện luôn gắn kết cuộc đời Chúa Giêsu với Chúa Cha, và việc cầu nguyền của Chúa Giêsu được Phúc âm ghi lại rất rõ: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc 1,35; Lc 4,42). Có những lúc, “Chúa Giêsu đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12). Ngay từ thời các Tông đồ cũng vậy, noi gương Thầy Chí Thánh, các tín hữu đã chuyên cần cầu nguyện vào những thời khắc nhất định. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã ghi nhận: các môn đệ họp nhau cầu nguyện vào giờ thứ ba (x. Cv 2,15), vị thủ lãnh các Tông đồ “lên sân thượng cầu nguyện vào giờ thứ sáu” (x. Cv 10,9), ông Phêrô và ông Gioan lên Đền thờ cầu nguyện vào giờ thứ chín (x. Cv 3,1), “vào quãng nửa đêm, ông Phaolô và ông Xila cầu nguyện ca tụng Chúa” (x. Cv 16,25).[22]

Dần dà với thời gian, “tại nhiều nơi đã sớm có thói quen dành những khoảng thời gian rõ rệt để cầu nguyện chung với nhau. Những buổi cầu nguyện chung như thế dần dần tạo thành một chu kỳ giờ kinh nhất định.”[23] Đặc biệt, với các đan sĩ, họ cầu nguyện bằng cách hát kinh phụng vụ chung với nhau 7 giờ kinh trong một ngày, khởi sự từ mờ sáng “lúc trời còn tối mịt” cho đến lúc chiều tà khi đêm về (Kinh Sáng, Kinh giờ III, giờ VI, giờ IX, Kinh Chiều, Kinh Tối và Kinh Sách hay Kinh Đêm). Đây là lời cầu nguyện của các đan sĩ và của Hội thánh cùng với Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa Cha.

Vấn đề được đặt ra, liệu đan sĩ có đơn điệu hay không, khi mà ngày nào cũng vậy, từ rạng đông đến lúc chiều tà, họ cứ lặp đi lặp lại và hát bấy nhiêu điều ấy? Hát kinh thần vụ và cầu nguyện là việc của họ (x. DN, số 118). Hát Kinh Thần Vụ mỗi ngày, đó không đơn thuần là bổn phận của các đan sĩ thay mặt Hội thánh, nhưng họ hát là vì “họ đang yêu”. Thánh Augustinô đã từng có kinh nghiệm khi cầu nguyện, và chính ngài đã xác quyết rằng: “hát là việc của người đang yêu” hay “ai yêu thì hát” (x. Quy chế tổng quát số 39).

Thực tế cho thấy, khi người ta yêu thì họ không bao giờ nhàm chán, họ càng muốn hát nhiều hơn cho người mình yêu được nghe những tâm tình mà họ muốn nói. Đan sĩ cũng vậy, mỗi lời kinh tiếng hát như nỗi lòng từ sâu thẩm trong trái tim ta dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày, vì Người là Đấng luôn lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn chúng ta. Chính vì thế, để không bị nhàm chán và đơn điệu trong cầu nguyện, đan sĩ phải luôn làm mới tâm hồn mình và hâm nóng tình yêu với Thiên Chúa và với anh chị em trong cộng đoàn mỗi ngày.

4.2 Cầu nguyện riêng – chỉ mình ta với Chúa

Đức Thánh cha Phanxicô nói rằng: “Con người – tất cả người nam hay người nữ – mỗi người chúng ta chỉ tựa như một hơi thở, một ngọn cỏ. Nhà triết học Pascal đã viết: “Cả vũ trụ không cần trang bị sức mạnh để nghiền nát con người; chỉ cần một chút hơi nước, một giọt nước cũng đủ giết chết họ”. Con người chúng ta rất mỏng giòn, nhưng chúng ta biết cầu nguyện: đây là phẩm giá lớn nhất của chúng ta, và nó cũng là pháo đài của chúng ta.”[24] Trong dòng suy tư này, chúng ta cũng có thể nói rằng cầu nguyện cũng là phẩm giá lớn nhất của đan sĩ và nó là pháo đài gìn giữ chúng ta trong Đời sống Thánh hiến đan tu.

Cầu nguyện là phẩm giá lớn nhất của đan sĩ. Vì thế, lời cầu nguyện rất quan trọng. Chúng ta thường cầu nguyện bằng những lời kinh theo kiểu hát thần vụ những thánh thi, thánh ca và Thánh vịnh chung với nhau. Thế nhưng, để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và nội tâm, đan sĩ cũng có thể cầu nguyện bằng chính ngôn ngữ của mình[25] qua việc chiêm niệm, suy gẫm Lời Chúa và cầu nguyện riêng trong thinh lặng và yên tĩnh. (x. DN, số 118-119). Ở đó, chỉ mình ta với Chúa! Cũng như Chúa Giêsu, ngoài những thời gian thầy trò cầu nguyện và hát Thánh vịnh cùng nhau, Người tìm cho mình một nơi thanh vắng, tĩnh mịch để gặp gỡ và trò chuyện riêng tư với Chúa Cha. Và đây là điều rất quan trọng và cần thiết, để đan sĩ kiến tạo và củng cố mối tương quan thiết thân với Ba Ngôi Thiên Chúa cũng như với anh chị em trong đan viện.

Thánh phụ Biển Đức rất quan tâm đến việc cầu nguyện riêng của đan sĩ. Ngài đã nhắc nhở các đan sinh trong đan viện khi cầu nguyện phải ý thức rằng: “Chẳng phải do nhiều lời nhưng chỉ cần một lòng thanh sạch, hòa với dòng lệ thống hối là được Chúa nhận lời. Vì thế, lời cầu nguyện phải ngắn gọn và tinh tuyền… nhưng dù sao trong cộng đoàn, kinh nguyện phải rất vắn tắt…”[26]

Sở dĩ thánh Phụ Biển Đức muốn kinh nguyện trong cộng đoàn phải ngắn gọn, là để cho các đan sĩ có thời gian cầu nguyện riêng tư với Chúa. Thánh phụ Biển Đức đặc biệt lưu ý: “Giờ thần vụ vừa xong, mọi người triệt để im lặng đi ra và hết lòng cung kính Chúa, để anh em nào muốn cầu nguyện riêng khỏi bị phiền hà ngăn trở. Còn những lúc khác, ai muốn cầu nguyện âm thầm một mình cứ đơn sơ vào cầu nguyện, không lớn tiếng om sòm nhưng với nước mắt và lòng thành.”[27]

Như vậy, đời sống cầu nguyện của người Kitô hữu nói chung và của các đan sĩ nói riêng, được nuôi dưỡng bằng thánh nhạc trong phụng vụ và việc cầu nguyện riêng tư của mỗi người. Âm nhạc cũng là nguồn gợi hứng cho thánh nhạc, giúp ta cử hành những buổi hát kinh thần vụ và cầu nguyện chung với nhau sốt sắng hơn. Qua đó, đan sĩ nhận ra giá trị Lời Chúa trong cuộc đời mình. Và như vậy, có thể nói rằng, thánh nhạc trong lối “cầu nguyện phụng vụ” – cầu nguyện bằng lời ca tiếng hát chung với cộng đoàn và “cầu nguyện riêng tư” – cầu nguyện bằng chính ngôn ngữ của mình được sánh ví như đôi cánh có thể nâng tâm hồn đan sĩ lên để “chiêm niệm” và “cảm nghiệm” Chân lý,[28] giúp cho đan sĩ quy hướng về Thiên Chúa, Đấng mà vịnh gia đã không ngớt lời ngợi khen: “Ca tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa, sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời” (Tv 146,1-2).

5. Cầu nguyện với Mẹ Maria qua bài ca Magnificat

Hơn ai hết, Mẹ Maria là người đã thấm nhuần giá trị của đời sống cầu nguyện. Cuộc đời của Mẹ là một bài ca tạ ơn và là lời cầu nguyện liên lỉ không ngừng dâng lên Thiên Chúa và được Mẹ hân hoan xướng lên trong bài ca Magnificat. Khởi đầu bài ca này, Mẹ đã nói lên lòng mừng rỡ hân hoan sâu thẳm từ trong trái tim Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1,46-47). Không dừng lại ở đó, Mẹ Maria tiếp tục kể lại những gì mà Thiên Chúa đã làm cho Mẹ: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Danh Người thật chí thánh chí tôn!” (Lc 1,48-49).

Những lời cầu nguyện và ca khen của Mẹ Maria, không chỉ tạ ơn Thiên Chúa về những gì Người đã làm cho Mẹ, nhưng Mẹ còn ngợi ca Thiên Chúa vì những việc cao trọng Người đã thực hiện cho những kẻ nghèo hèn, cho những ai có lòng kính sợ Thiên Chúa và cho chính chúng ta là những người đang sống đời thánh hiến đan tu: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng. Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta” (Lc 1,50-55). Và đó là lời kinh, lời ngợi ca, lời cầu nguyện tuyệt vời nhất, trọn vẹn nhất của Mẹ Maria dâng lên Thiên Chúa.

Quả thật, tâm tình và lời cầu nguyện của Mẹ Maria đặt để trong bài ca Magnificat được khởi đi từ trái tim và tình yêu của Mẹ. Đó cũng là tâm tình mà mỗi đan sĩ cần phải có khi cầu nguyện. Hiểu được giá trị nội tại của lời kinh Magnificat trong đời sống của người Kitô hữu, Giáo hội từ thế kỷ thứ V-VI, đã đưa vào trong Kinh Chiều của kinh Thần vụ, vì đây là một lời cầu nguyện tuyệt vời nhất.[29] Điều này cũng được thánh Giáo hoàng Phaolô VI minh định trong Tông huấn Marialis Cultus: “Magnificat là lời cầu nguyện tuyệt vời của Mẹ Maria, bài ca ngợi khen của thời Đấng Thiên Sai, nơi hoà chung niềm vui của Israel Cựu – Tân… Bài ca của Đức Trinh Nữ đã trở thành lời cầu nguyện của Hội thánh trong mọi thời đại.”[30]

Vì thế, là đan sĩ, khi cầu nguyện chúng ta cần ý thức, biết kết hợp mật thiết với Mẹ và cùng hát với Mẹ Maria, với toàn thể Hội thánh mà dâng lên Thiên Chúa tâm tình ngợi ca tuyệt vời này. Vì như thánh Augustinô đã nói: “hát hay là cầu nguyện hai lần”. Và đây cũng là lời cầu nguyện tuyệt vời nhất của đan sĩ dâng lên Thiên Chúa Cha mỗi ngày bằng lời ca, tiếng hát và bằng chính ngôn ngữ của riêng mình. Và, cho đến khi hoàn tất cuộc đời thánh hiến, còn được cùng với anh chị em đan sĩ trong đan viện mình và Hội dòng hát lên lần cuối cùng bài ca Te Deum Laudamus – Tạ Ơn Thiên Chúa, vì suốt cuộc đời con đã hát vì yêu!

[1] x. Quy chế tổng quát số 39.

[2] x. M. Scot Peck M.D., Con đường chẳng mấy ai đi, Dịch Giả Lm Giuse Lê Công Đức, Nxb Tôn Giáo, 2013, tr 5.

[3] x. https://stthay.net/bai-viet/nhung-stt-suy-ngam-ve-cuoc-song-cung-giong-nhu-mot-ban-nhac-giao-huong-vay.html. 11/9/2023

[4] x. https://www.vietnamplus.vn/am-nhac-tieng-vong-cua-cam-xuc-xuat-phat-tu-trai-tim-tam-hon/869448.vnp.  25/07/2023.

[5] x. https://dangcongsan.vn/ted-saigon-noi-gap-go-nhung-tai-nang/dien-dan-va-trao-doi/am-nhac-la-gi-tac-dung-cua-am-nhac-trong-cuoc-song-543970.html. Truy cập ngày10/9/2023.

[6] http://cuoituan.baotuyenquang.com.vn/tac-gia-tac-pham/van-hoc-nghe-thuat-huong-den-gia-tri-chan-thien-my-1245.html.15/9/2023

[7] x. Nguyễn Thị Minh Châu, Âm Nhạc Và Nhân Cách, https://hoinhacsi.vn/am-nhac-va-nhan-cach. Truy cập 10 /9/2023.

[8] x. https://www.vietnamplus.vn/am-nhac-tieng-vong-cua-cam-xuc-xuat-phat-tu-trai-tim-tam-hon/869448.vnp. Truy cập 25/07/2023.

[9] Nt.

[10] Dr Bernie S. Siegel, Quà Tặng Cuộc Sống, biên dịch Thu Quỳnh – Hạnh Nguyễn, Nxb Tổng hợp TPHCM, tr. 11.

[11] Nt.

[12] https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/dn/itemid/751 © TuDienDanhNgon.vn, truy cập ngày15/9/2023.

[13] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy ban Thánh nhạc. Hướng Dẫn Mục Vụ Thánh Nhạc ( Bản cập nhật Tháng 12 năm 2022).

[14] Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy ban Thánh nhạc, Hướng Dẫn Mục Vụ Thánh Nhạc (Bản cập nhật Tháng 12 năm 2022).

[15] Đức Giáo hoàng Piô XII, Thông điệp Kỷ Luật về thánh nhạc – Musicae Sacrae Disciplina (1955), số 31.

[16] https://dongten.net/thanh-vinh-va-chung-ta/2/ – Thánh vịnh và chúng ta 2 – Truy cập 15.9.2023.

[17] X. https://www.kath-vietnamesen.de/detail/nachricht-seite/id/84052-am-nhac-trong-thanh-le/ – Truy cập 15.9.2023.

[18] Đức Giáo hoàng Piô XII, Thông Ðiệp Kỷ Luật về Thánh nhạc, số 28 và 29.

[19] x. Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh của Công đồng Vaticanô II, số 112.

[20] x. https://www.kath-vietnamesen.de/detail/nachricht-seite/id/84052-am-nhac-trong-thanh-le/.

[21] Hội đồng Giám mục Việt Nam – Ủy Ban Thánh Nhạc, Hướng Dẫn Mục Vụ Thánh Nhạc, bản cập nhật 12/2022, số 2.

[22]https://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaoluat/tusachgiaolygp/cuhanhphungvu/Bai16, truy cập 15/8/2023.

[23]https://www.simonhoadalat.com/hochoi/giaoluat/tusachgiaolygp/cuhanhphungvu/Bai16.

[24] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sống Tốt – Con Là Một Tuyệt Tác, chuyển ngữ: Lm John Phương Đình Toại, Nxb Đồng nai, tr. 203-204.

[25] Ibid., tr. 199.

[26] TL chương 20. Số 3, 4 và 5.

[27] TL 52. Số 2 – 4.

[28] Thánh Gioan Phaolô II: “Đức tin và Lý trí là như đôi cánh giúp cho trí tuệ con người băng mình lên để chiêm niệm chân lý” (Thông Điệp Fides Et Ratio – Đức Tin và Lý Trí), trích trong lời mở đầu.

[29] https://svconggiao.net/2021/12/22/magnificat-bai-ca-ngoi-khen/, truy cập 15.9.2023.

[30]Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus, ngày 2.2.1974. Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh. http://www.vatican.va.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://hail.to/st-barnabas-fendalton/article/RLZkpi7)

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục