danvienxitochauthuy

Tác phẩm: Cầu Nguyện Đan Tu (16) – SỨ VỤ “MUỐI” VÀ “ÁNH SÁNG” NƠI ĐAN SĨ để nên lời ngợi ca

Tác giả: M. Gioan XXIII Nguyễn Văn Tấn

SỨ VỤ “MUỐI” VÀ “ÁNH SÁNG” NƠI ĐAN SĨ

để nên lời ngợi ca

(x. Mt 5,13-16; Cl 3,16)

Đan sĩ tham gia vào sứ mạng của Hội thánh bằng cách sống triệt để linh đạo đan tu Biển Đức – Xitô: “Cầu nguyện và lao động – Ora et Labora”. Nội san “Hạt Giống Chiêm Niệm”số 32 xoay quanh chủ đề “Cầu nguyện đan tu”. Chủ đề về cầu nguyện rất quen thuộc với nhiều người, cách riêng, các đan sĩ – những người được ví như “Môsê cầu nguyện cho dân” hay những “chuyên viên cầu nguyện”… Với đề tài: Nên lời ngợi ca trong sứ vụ “muối” và “ánh sáng”  nơi đan sĩ, bài viết này không nhằm giải quyết và bàn về các định nghĩa liên quan tới cầu nguyện, nhưng chỉ nêu ra và trả lời cho những câu hỏi: cầu nguyện đích thực cần hiểu như thế nào? Tại sao chúng ta phải cầu nguyện? Có bao nhiêu hình thức cầu nguyện? Phải chăng ca ngợi là hình thức cầu nguyện làm cho đan sĩ trở nên lời ngợi ca trong sứ vụ “muối” và “ánh sáng” của đời đan tu?

1. Hiểu thế nào về cầu nguyện

Cầu nguyện trong tiếng La tinh là Oratio. Cầu: xin; nguyện: mong ước. Cầu nguyện được hiểu là xin và mong ước điều gì. Theo Từ Điển Công Giáo, thì “cầu nguyện là nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa, qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, để yêu mến, thờ lạy, ca tụng, cảm tạ, thống hối và cầu xin Ngài ban cho những ơn cần thiết”.[1] Như vậy, cầu nguyện chính là một cuộc đối thoại mầu nhiệm và thực sự với Thiên Chúa, một cuộc đối thoại tin tưởng và yêu thương. Nói cách khác, cầu nguyện là sống tròn đầy sự hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa và tương quan hiệp thông với Ngài (x. GLHTCG[2], số 2564-2565).

Chúng ta là Kitô hữu và vì thế chúng ta phải cầu nguyện như Kitô hữu. Nhưng lời cầu nguyện của người Kitô hữu mang một đặc tính hoàn toàn đặc biệt làm thay đổi bản chất thâm sâu và giá trị sâu xa nhất của lời cầu nguyện. Người Kitô hữu là môn đệ của Chúa Giêsu; họ thực sự tin rằng Chúa Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Con Thiên Chúa đã đến với chúng ta trong thế giới này. Đời sống của Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện liên lỉ, một hành động tôn thờ và yêu mến không ngừng đối với Chúa Cha. Cao điểm lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là hy tế trên Thập giá, được báo trước trong Bữa Tiệc Ly khi lập Bí tích Thánh Thể và trong hánh lễ sẽ tiếp tục mãi mãi.[3]

Do đó, người Kitô hữu biết rằng lời cầu nguyện của mình là Chúa Giêsu; tất cả những lời cầu nguyện của họ đều bắt đầu từ Chúa Giêsu; chính Người cầu nguyện trong chúng ta, với chúng ta và cho chúng ta (x. GLHTCG, số 2746). Nói cách khác, chúng ta cầu nguyện nhờ Người và trong Người (GLHTCG, số 2615), nhân danh Người (x. GLHTCG, số 2614). Trong phần nói về cầu nguyện, sách Giáo Lý Hội thánh Công Giáo cũng trưng dẫn nhiều số liên quan đến điều đó khi nói rằng: Đức Giêsu là mẫu gương cầu nguyện (x. GLHTCG, số 2599-2606; 2746-2751), Người là thầy dạy cầu nguyện (x. GLHTCG 2607-2615) và đồng thời Người cũng nhậm lời chúng ta cầu nguyện nữa (x. GLHTCG, số 2616).

Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã khuyên chúng ta hãy nhìn vào Chúa Giêsu, vào lời cầu nguyện xuyên suốt cuộc đời của Người như một con kênh ẩn giấu tưới mát cuộc sống, các mối tương quan, các hành động và dẫn đưa Người với quyết tâm ngày càng tăng đến sự hiến thân trọn vẹn, theo kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu cũng là thầy dạy cầu nguyện của chúng ta và Người hỗ trợ chúng ta hướng về Chúa Cha một cách hữu hiệu và huynh đệ. [4] Quả vậy, “trong Chúa Giêsu, việc cầu nguyện đã được mặc khải và thực hiện cách trọn vẹn.”[5]

Do đó, thánh Gioan Phaolô II mời gọi: tất cả những ai tin vào Chúa hãy cầu nguyện. Nhưng người Kitô hữu cầu nguyện trong Chúa Giêsu Kitô: Chúa Kitô là lời cầu nguyện của chúng ta! Lời cầu nguyện tối cao là thánh lễ, bởi vì trong đó chính Chúa Giêsu thực sự hiện diện để lập lại hy tế của Người trên thập giá; nhưng mọi kinh nguyện khác cũng có giá trị của nó, nhất là kinh “Lạy Cha” mà chính Chúa Giêsu muốn dạy các Tông đồ và mọi người trên trái đất,[6] vì lời kinh này “là bản tóm lược toàn bộ Tin mừng”[7], là “lời kinh tuyệt hảo”[8] và “lời kinh này nằm ở tâm điểm của Sách Thánh” (GLHTCG, số 2774).

Nhưng tại sao chúng ta cầu nguyện? Theo thánh Gioan Phaolô II, chúng ta cần cầu nguyện vì chúng ta yếu đuối và tội lỗi. Phải nhìn nhận một cách khiêm tốn và thực tế rằng chúng ta là những tạo vật đáng thương, tâm hồn rối bời, luôn bị sự cám dỗ của sự dữ, mong manh và yếu đuối, luôn cần đến sức mạnh và sự an ủi nội tâm.

– Cầu nguyện tiếp thêm sức mạnh cho những lý tưởng cao cả, giữ vững niềm tin, tình yêu, sự trong sạch, độ lượng.

– Cầu nguyện đem lại can đảm vươn lên từ sự thờ ơ, từ mặc cảm khi chẳng may sa ngã trước cám dỗ và yếu đuối.

– Cầu nguyện mang lại ánh sáng để nhìn và chiêm ngưỡng các biến cố của đời người và lịch sử từ viễn cảnh cứu độ của Thiên Chúa và cõi vĩnh hằng. Vì vậy, đừng bao giờ ngừng cầu nguyện! Không một ngày nào trôi qua mà bạn không cầu nguyện ít nhất một thời gian ngắn! Cầu nguyện là một bổn phận, nhưng cũng là một niềm vui lớn vì nó là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô![9]

Thánh Phaolô đã viết cho các Kitô hữu tiên khởi: “Anh em đừng nản lòng khi cầu nguyện” (Cl 4,2) “Anh em đừng ngừng cầu nguyện và nài xin” (Ep 6,18). Vậy có bao nhiêu hình thức cầu nguyện?

2. Các hình thức cầu nguyện

Đọc lại lịch sử Kitô giáo chúng ta biết được rằng, đã có rất nhiều định nghĩa được phát biểu về sự cầu nguyện.[10] Nhưng tựu trung thì có ba hình thức cầu nguyện: Oratio Vocalis (khẩu nguyện), meditatio (suy niệm) và oratio comtemplativa (cầu nguyện chiệm niệm).[11] Điểm chung của ba hình thức này là tập trung tâm hồn (x. GLHTCG 2721).

2.1. Oratio Vocalis (khẩu nguyện)

Khẩu nguyện được hiểu là việc con người dùng lời nói để bày tỏ tâm tình cầu nguyện bên trong tâm hồn, là một trong những hình thức cầu nguyện phổ biến theo truyền thống Kitô giáo (x. GLHTCG 2702).[12] Đặc tính đầu tiên của khẩu nguyện, chính là sự liên kết thân xác chúng ta với lời cầu nguyện nội tâm. Ngay cả lời cầu nguyện thầm kín nhất cũng phải cần đến khẩu nguyện. Thứ hai, trong mọi trường hợp, khẩu nguyện phải luôn xuất phát từ đức tin của bản thân người cầu nguyện. Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta một công thức tuyệt hảo của khẩu nguyện, đó là kinh Lạy Cha.[13] Đức Thánh cha Phanxicô đánh giá rất cao hình thức khẩu nguyện. Quả vậy, trong bài giáo lý sáng ngày 21/04/2021, ngài suy tư về giá trị của khẩu nguyện, của lời cầu nguyện phát trên môi miệng, những lời này là những lời duy nhất mà Thiên Chúa muốn nghe và dẫn đưa chúng ta đến với Thiên Chúa. Đừng kiêu ngạo xem thường khẩu nguyện.[14]

2.2. Meditatio (suy niệm)

Đây là hình thức suy tư trong cầu nguyện. “Việc suy tư này phải bắt đầu từ Lời Chúa trong Thánh Kinh. Suy niệm vận dụng lý trí, trí tưởng tượng, tình cảm, ước muốn, để đào sâu đức tin, hoán cải tâm hồn và củng cố ý chí muốn bước theo Ðức Kitô. Ðây là bước khởi đầu tiến đến việc kết hợp với Chúa trong tình yêu.”[15] Nói cách khác, việc suy niệm nhằm mục đích đi tìm hiểu các mầu nhiệm đức tin liên quan tới Đức Kitô trong tinh thần cầu nguyện.[16] Cho nên “mục đích của suy niệm không phải là nghiên cứu, học hỏi hay hiểu biết về lý thuyết mà là để cho điều đã suy tư trong đức tin trở nên của riêng mình, đồng thời khơi dậy tâm tình yêu mến và củng cố ý muốn phụng sự Thiên Chúa (x. GLHTCG 2723)”[17] Do đó, những gì chúng ta suy gẫm cầu nguyện thì cũng cần đem ra thực hành, vì “meditatio[18]không chỉ đơn thuần mang nghĩa là “suy gẫm”.[19]

2.3. Oratio Comtemplativa (cầu nguyện chiêm niệm)

Thánh nữ Têrêsa cho biết: “Tâm nguyện không gì khác hơn là cuộc trao đổi thân tình giữa bạn hữu, trong đó chúng ta năng dành thời gian để một mình ở bên Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta biết là Ngài yêu thương chúng ta.”[20] Vì thế, “cầu nguyện chiêm niệm là hình thức đơn sơ của mầu nhiệm cầu nguyện. Đó là cái nhìn của đức tin chiêm ngắm Chúa Giêsu, lắng nghe Lời Chúa, mến yêu thầm lặng. Cầu nguyện chiêm niệm là sự kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô, vì cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người” (GLHTCG 2724). Nói cách khác, cầu nguyện chiêm niệm là một hồng ân Chúa ban cho con người, là một ân sủng mà con người được đón nhận trong sự khiêm tốn và khó nghèo của bản thân. Giáo hội gọi đó là một tương quan của Giao ước được Thiên Chúa thiết lập từ trong sâu thẳm cõi lòng con người. Cho nên, nó cũng diễn tả sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, qua đó con người được làm cho trở nên “giống Thiên Chúa” (x. GLHTCG 2713).

Ngoài ba hình thức: khẩu nguyện, suy niệm và chiệm niệm, còn có hình thức cầu nguyện ca ngợi (laus), ca: tán dương và ngợi: khen. Ca ngợi là dùng lời nói, cử chỉ hay hành động để tỏ bày tâm tình chúc tụng và là hình thức cầu nguyện tinh tuyền nhất để tán dương, tôn vinh Thiên Chúa chỉ vì Ngài hiện hữu và đáng chúc tụng. Chính nhờ Thần Khí của Đức Kitô mà chúng ta có thể ca ngợi Thiên Chúa Cha trong tâm tình của những người con (x. GLHTCG, số 2639). Lời kinh ca ngợi tiêu biểu của Kitô giáo đã được chính Chúa Giêsu truyền dạy trong Kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng”. Vì thế, Giáo hội luôn theo gương và lời dạy của Thầy Chí Thánh mà không ngừng dâng lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, vì “Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19), và thánh tễ chính là hy tế, là lời ca ngợi cao cả nhất được dâng lên Chúa Cha qua cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô (GLHTCG, số 1359).

Đan sĩ cần nuôi dưỡng những hình thức cầu nguyện đó, để gúp họ trở nên lời ngợi ca trong sứ vụ “muối” và “ánh sáng” của cuộc sống đan tu. Tin mừng nói gì về vai trò “muối” và “ánh sáng” của người môn đệ? Đâu là những tham chiếu rõ nét cho thấy khi đời sống đan sĩ được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện, thì cũng là lúc họ đang thực thi sứ vụ cao cả mà mình được mời gọi?

3. Sứ vụ “muối” và “ánh sáng” nơi đan sĩ (x. Mt 5,13-16)

Trong Tin mừng Mátthêu, sau khi nói về Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giêsu đã sử dụng hai hình ảnh nổi tiếng: muối và ánh sáng để nói lên vai trò của người môn đệ trên trần gian.[21]

3.1. “Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)

Chúng ta biết, muối có hai công dụng chính, đó là ướp cho khỏi hư và làm gia vị. Đời sống người Kitô hữu nói chung và đan sĩ nói riêng, cũng phải giữ làm sao cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp cho nó được thăng tiến trong thánh ý của Thiên Chúa.[22] Tác giả Louis Barbieri cho rằng, những người theo Chúa Giêsu phải giống như muối, khơi dậy trong người khác niềm khát khao biết thêm những điều gì cao quý mà họ đang theo đuổi.[23]

Đâu là “muối” của đời đan tu? Đó là việc chu toàn linh đạo đan sĩ sống giữ luật nội vi đan viện, trong cô tịch, thinh lặng, trong chuyên chăm cầu nguyện và vui sống đời khổ hạnh, qua đó, các đan sĩ dâng lên Thiên Chúa những hoa trái thánh thiện, tạo gương lành cho Dân Thiên Chúa để làm Dân Chúa được lớn mạnh bằng sự âm thầm trong sứ vụ của mình.[24] Đan sĩ phải trở nên “muối” về niềm tin tưởng nơi những người khác bằng việc sống căn tính của mình. Cha tổ phụ Biển Đức Thuận nói: “Chúng tôi phải nên thầy dòng thật, bằng không chỉ là phỉ dối người ta. Họ gửi thư xin chúng tôi cầu nguyện, họ tưởng chúng tôi là những người nhân đức lắm, toàn là những ông thánh, ông thánh hết. Vậy, chúng tôi hãy lo nên thầy dòng thật. Chớ để sự họ tin cậy chúng tôi ra vô ích” (DN, số 134).

Chính vì thế, trong bất cứ lý do gì, thì điều quan trọng là muối cần giữ được hương vị của nó. Nếu nó không còn mặn nữa thì nó đã mất đi mục đích sử dụng và bị vứt đi.[25] Mặc dù, muối tách biệt rõ ràng với những thứ khác nhưng lại thấm vào mọi thứ, các môn đệ trong Mt 5,13 được cho là chính muối cho thế gian, và do đó, mọi người đều có thể nhìn thấy hành động của họ. Nếu muối mất tác dụng, có nghĩa là nếu các đan sĩ không còn thể hiện đức tin của mình bằng những hành động thích hợp thì họ mất đi ý nghĩa, giống như muối nhạt đi (x. Mt 5,13; Lc 14,34). Trong Cl 4,6, thánh Phaolô cũng nói về tác dụng gia vị của muối: Cũng như muối thêm hương vị cho thức ăn, lời nói của những người tin vào Thiên Chúa cũng phải thân thiện như “có muối”, tức là đầy nội dung, khi họ trình bày về đức tin của mình.[26]

Ngoài ra, muối còn tượng trưng cho giá trị lâu bền của khế ước (xem giao ước muối Ds 18,19[27]). Bài học này nhắc nhở những người theo Chúa phải giữ cho thế giới loài người được đậm đà, và trung tín với giao ước của Thiên Chúa.[28] Các đan sĩ ý thức về những điều mình đã thề ước với Thiên Chúa trong việc tuyên khấn. Việc tuân giữ các Lời khuyên Phúc âm cũng là cách mà các đan sĩ chu toàn giao ước với Thiên Chúa.

3.2. “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14)

Chức năng quan trọng nhất của ánh sáng là chiếu sáng. Những người được mô tả trong Mt 5,3-10 rõ ràng có đức tính này. Công việc của họ được thấy rõ ràng như một thành phố nằm trên núi hay ánh sáng trên chân đèn. Một ngọn đèn đặt dưới cái thùng sẽ vô dụng. Nhưng người lan tỏa ánh sáng sống sao cho người khác nhìn thấy công việc của họ mà khen ngợi Cha trên trời.[29]

Công việc đầu tiên mà đan sĩ cần làm để trở nên ánh sáng cho trần gian, đó là lo chu toàn “việc Chúa” khi cử hành Phụng vụ, vì Phụng vụ là đỉnh cao của mọi hình thức cầu nguyện[30] (x. GLHTCG 2720), đặc biệt trong việc cử hành Thánh Thể và Các Giờ Kinh Phụng Vụ.[31] Thánh Biển Đức chỉ dạy về điều này rất nhiều trong Tu luật của ngài, cách riêng, ngài dành riêng chương 19, và chương 20  để chỉ thị về việc này[32]. Thánh Phaolô đã khuyên rằng: “Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan. Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng” (Cl 3,16). Thánh ca do Thần Khí linh hứng: có thể là những bài ca khi cộng đoàn họp nhau để cử hành phụng vụ, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần (x. 1 Cr 14,26). Bên cạnh đó, chúng ta cũng đọc thấy trong thư gửi tín hữu Êphêsô: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,19-29). Đó cũng là một trong ba phận vụ của đan sĩ trong Nhà dòng theo cha Tổ phụ Biển Đức Thuận: Thứ nhất là “đọc kinh hát lễ thay cho cả Hội thánh thờ phượng Chúa, cũng như quân lính hằng canh thức luôn”. Thứ hai là “học hành, xem sách thiêng liêng, suy gẫm, kết hợp với Chúa”. Thứ ba là “làm việc xác” (DN, số 139). Trước đó, ngài cũng nói: “Việc bổn phận của chúng tôi là cầu nguyện, kết hợp với Chúa … Thầy dòng phải là con người cầu nguyện”. Điều này hết sức quan trọng, vì: “Nhà này mà không cầu nguyện thì hóa ra một nhà nông phu” (DN, số 118).

Việc hát Thánh vịnh, thánh thi trong cử hành Các Giờ Kinh Phụng Vụ là lời cầu nguyện không những đẹp lòng Chúa vì đây là cách đáp lại tình yêu Người, mà còn báo trước phụng vụ trên trời. Nỗ lực của con người nhằm đáp lại tình yêu bao la của Thiên Chúa chỉ có thể gây ngạc nhiên bằng cách cầu nguyện và thần học thờ phượng, phụng vụ tạ ơn, khen ngợi và ngợi ca Thiên Chúa Ba Ngôi. Lời cầu nguyện của dân lữ hành của Thiên Chúa là lời báo trước và thực hành phụng vụ vĩnh cửu. Ecclesia santa (Giáo hội thánh) sống và được hiện thực hóa như ecclesia orans (như một Giáo hội cầu nguyện) – trong thời gian và vĩnh cửu.[33] Đức Giáo hoàng Piô XII nói về tầm quan trọng của việc tập hợp cùng nhau khi cử hành Phụng vụ trong Thông điệp Mediator Dei như sau: Người ta nói rằng các Kitô hữu của Giáo hội sơ khai “chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (x. Cv 2,42). Bất cứ nơi nào các mục tử thành công trong việc tập hợp một cộng đồng tín hữu, họ dựng một bàn thờ để dâng hy lễ và sắp đặt xung quanh những nghi thức khác, để nhờ bàn thờ mà con người có thể thánh hóa chính mình và tôn vinh Thiên Chúa xứng đáng với Người.[34]

Thông thường tự ánh sáng cũng đã thu hút sự chú ý của những người khác. “Hữu xạ tự nhiên hương” nên đời sống môn đệ Chúa Kitô tất nhiên ảnh hưởng tới người khác. Trong Tông huấn Vita consecrata số 8, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói:

Các dòng hoàn toàn sống đời chiêm niệm, gồm những người nữ hoặc nam, là một lý do hãnh diện cho Giáo hội và một nguồn mạch đưa lại những ân sủng thiên quốc. Nhờ nếp sống và sứ mạng của họ, những phần tử thuộc các dòng ấy bắt chước Đức Kitô cầu nguyện trên núi, họ làm chứng về quyền chủ tể của Thiên Chúa trên lịch sử, họ tiên báo vinh quang mai ngày sẽ đến.

Trong cô tịch và thinh lặng, bằng việc lắng nghe Lời Thiên Chúa, cử hành phụng vụ, khổ chế cá nhân, kinh nguyện, hãm mình và hiệp thông vào tình yêu huynh đệ, họ hướng toàn thể đời sống và toàn thể sinh hoạt vào việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Như thế họ cống hiến cho cộng đồng Giáo hội một chứng tá độc đáo về tình yêu của Giáo hội dành cho Chúa, và góp phần với sức phong nhiêu Tông đồ huyền diệu vào sự tăng trưởng của Dân Thiên Chúa.

Tuyên ngôn của Tổng hội đặc biệt năm 1969-1970 và 1972 của Hội dòng Xitô đã nhắn gửi các đan viện rằng: “Sinh hoạt đan viện phải được tổ chúc và diễn tiến thế nào, để đan viện thực sự trở thành ngọn đèn sáng chói giữa dân Chúa, chứng tích những thực tại Nước Trời và biểu hiện sức mạnh tình yêu Chúa Kitô giữa nhân loại.”[35]

Ánh sáng rất cần cho sự sống, như lương thực cần cho con người. Lời Chúa là ánh sáng soi đường, chỉ lối cho cho con người như của ăn nuôi sống tâm hồn như Chúa đã nói: “Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5). Muốn sống trong ánh sáng, muốn “trở thành” ánh sáng thì theo thánh Guerric von Igny chúng ta cần làm hai việc: thứ nhất sống theo con đường ánh sáng của các tổ phụ. Bời vì, con đường ngắn nhất để chúng ta tìm thấy Chúa Giêsu là đi theo con đường sáng chói của các tổ phụ đã đi trước chúng ta. “Con đường của người công chính là ngay thẳng; con đường sẽ được dọn sạch cho người công chính” (Is 26,7). Ai đi theo người công chính “sẽ không bước đi trong bóng tối nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống (Ga 8,12) – không chỉ nhìn thôi, người ấy sẽ thấy điều đó như niềm an ủi trong cuộc sống hiện tại và là tài sản thừa kế vĩnh cửu.[36] Thứ hai, đó là tự thực hành công việc trong ánh sáng. Thánh Guerric von Igny khuyên rằng, chúng ta hãy thực hành các công việc của ánh sáng, và người cầm ánh sáng trong tay (x. G 36,32) và tuyên bố với bạn mình rằng ánh sáng đó thuộc về anh ta và anh ta có thể chạm tới ánh sáng này, anh ta sẽ trao nó cho chúng ta ngay bây giờ và sau đó xuất hiện lại để khuyến khích chúng ta nỗ lực và sau này sẽ trao nó cho chúng ta như một phần thưởng. Chính Người là ánh sáng của chúng ta, Chúa Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị đến muôn đời.[37]

Kết luận

Tóm lại, cuộc đời các đan sĩ chiêm niệm được nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện. Họ cần học hỏi, trau dồi, và làm thăng tiến đời sống cầu nguyện nơi bản thân cũng như cộng đoàn. Muốn cụ thể hóa được điều đó, các đan sĩ cần học nơi Chúa Giêsu – Người là gương mẫu tuyệt hảo cho đời sống của họ, để trong mọi cảnh huống của cuộc sống, họ dâng lời cảm tạ Thiên Chúa là Cha nhờ Chúa Giêsu (x. Ep 5,20).

Đồng thời, nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần, các đan sĩ dâng lên Thiên Chúa Cha tâm tình tạ ơn chúc tụng ngang qua khẩu nguyện, suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Bởi vì, đời đan tu phải đối diện với một xã hội đang đổi thay từng ngày trong nhiều lãnh vực khác nhau và những điều đó sẽ ảnh hưởng đến đời sống đan sĩ, cho nên họ cần “siêng năng cầu nguyện, hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn” (Cl 4,2). Đan sĩ tạ ơn Thiên Chúa không phải chỉ những lúc “thuận buồm xuôi gió”, thuận lợi trong đời tu, nhưng là trong mọi hoàn cảnh vì đây là điều Thiên Chúa muốn trong Chúa Kitô (x. 1 Tx 5,18).

Ngoài ra, khi các đan sĩ sống kết hiệp với Thiên Chúa trong việc đọc, suy niệm, cầu nguyện với Lời Chúa, siêng năng lãnh nhận các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, hăng say, nhiệt tình và yêu mến các Giờ Kinh Phụng Vụ, cũng như tích cực tham gia các sinh hoạt khác trong cộng đoàn, cũng là khi, các đan sĩ đang sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa nơi gia đình đan viện và thể hiện luôn vai trò “muối” “ánh sáng” trong thế giới ngày nay.

[1] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tiểu Ban Từ Vựng, Từ Điển Công giáo 500 mục từ, NXB. Tôn Giáo 2011, tr. 43.

[2] GLHTCG = Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, NXB. Tôn Giáo 2022.

[3] x. Johannes Paul II., Ansprache bei der Audienz für die Jugend, 14. März 1979, trong: Johannes Paul II., Orientierung für das dritte Jahrtausend, Graz–Wien–Köln 21998, 79-80.

[4] x. Benedikt XVI, Das Gebet Jesus, Stuttgart 12013, tr. 7

[5] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo, NXB. Tôn Giáo 2011, tr. 234.

[6] x. Johannes Paul II., Ansprache bei der Audienz für die  Judend, 14. März 1979, trong: Johannes Paul II., Orientierung für das dritte Jahrtausend, Graz–Wien–Köln 21998, tr. 81.

[7] Tertullianô, De oratione, 1, 6: CCL 1,258 (PL 1,1255), trích lại trong GLHTCG 2774.

[8] Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, II-II, 83, 9, c: Ed. Leon. 9, 201, trích lại trong GLHTCG 2774.

[9] x. Sđd., 81-82.

[10] x. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập III, Học viện Đaminh, tr. 135-136.

[11] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tiểu Ban Từ Vững, Từ Điển Công giáo 500 mục từ, NXB. Tôn Giáo 2011, tr. 44.

[12] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Ban Từ Vững Công giáo, Từ Điển Công giáo, Tái bản có sửa chữa lần I, NXB. Tôn Giáo 2019, tr. 481.

[13] x. Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội thánh Công giáo, Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển dịch 2006, số 569.

[14]Hồng Thủy – Vatican News, Đức Thánh cha Phaxicô, bài Giáo lý sáng ngày 21.04.2021,  https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2021-04/dtc-phanxico-tiep-kien-chung-khau-nguyen.html, tải ngày 27.08.2023).

[15] Toát Yếu Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển dịch 2006, số 570.

[16] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tiểu Ban Từ Vững, Từ Điển Công giáo 500 mục từ, Nxb. Tôn Giáo 2011, tr. 292.

[17] Sđd., tr. 292.

[18] Theo Johannes Lotz, thì ý nghĩa của suy gẫm (meditatio) có thể được tìm thấy trong từ meditari của người Mỹ Latinh; nó bao gồm một ý nghĩa kép. Thứ nhất, khi nhắc đến nó: nghĩ đi nghĩ lại, nấn ná chiêm nghiệm về một điều gì đó, mở lòng mình trong sự cởi mở bình tĩnh với bí mật ẩn giấu, đặc biệt là của một văn bản đã đọc. Thứ hai, nó có nghĩa là: kiên trì thực hành, nuôi dưỡng một cách yêu thương, luôn quay trở lại với điều gì đó và do đó cho phép nó phát triển. Theo đó, meditation là sự hiểu biết và thực hành cùng một lúc, theo đó sự lặp lại tạo thành yếu tố mà chúng vận động cho cả hai. (x. J. B. Lotz, Einübung ins Meditieren am Neuen Testament, Frankfurt a. M. 1965, S. 20, in: Alfred Läpple, Arbeitsbuch zum Katechismus der Katholischen Kirche, Augsburg 1993, 595).

[19]  Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, Tập VII, Rôma 2007, tr. 262-263.

[20] Thánh Têrêsa Giêsu, Libro de la vida, 8: Biblioteca Mistica Carmelitana, v. 1 (Burgos 1915), 57, trong: Giáo Lý Hội thánh Công giáo, số 2709.

[21] x. Louis A. Barbieri, Matthäus, trong: John F. Walvoord/Roy B. Zuk (Hg.), Das Neue Testament. Er klärt und ausgelegt. Bd. 4, Matthäus – Römer, Holzgerlingen 32000, 3–108, đây: 23-24.

[22] Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh thánh, ẩn bản 2011, Nxb Tôn Giáo, tr. 2133.

[23] x. Sđd.

[24] x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Perfectae Caritatis, số 25.

[25] x. Louis A. Barbieri, Matthäus, trong: John F. Walvoord/Roy B. Zuk (Hg.), Das Neue Testament. Er klärt und ausgelegt. Bd. 4, Matthäus – Römer, Holzgerlingen 32000, 3–108, đây: 24.

[26] x. Gottfried Hengel, Art. Salz, in: Calwer Bibellexikon2 2 (2006) tr. 1165.

[27] Ở trong Ds 18,19, có nói tới giao ước muối. Theo Eugene Marrill thì, mọi sự tham dự của tư tế vào của lễ thánh đều là dấu hiệu chúc tụng giao ước. Phần chia của các thầy tế lễ là một giao ước vĩnh cửu bằng muối. Sự chỉ định này có lẽ là một mô tả bằng hình ảnh về tính lâu dài của giao ước. Như muối giữ và giữ được vị của nó, thì giao ước của Chúa sẽ có hiệu lực mãi mãi (x. 2 Sb 13,5). Muối cũng được rắc lên của lễ chay (x. Lv 2,13) và có lẽ cũng tượng trưng cho mối quan hệ giao ước. (x. Euge Merrill, Dân Số, trong: John F. Walvoord/Roy B. Zuk (Hg.), Das Neue Testament. Er klärt und ausgelegt. Bd. 1, 1. Môsê – 2. Samuel, Holzgerlingen 32000, tr. 263 – 314, đây: 288).

[28] x. Nhóm Các GIờ Kinh Phụng Vụ, Kinh thánh ẩn bản 2011, NXB. Tôn Giáo, tr. 2312.

[29] x. Louis A. Barbieri, Matthäus, trong: John F. Walvoord/Roy B. Zuk (Hg.), Das Neue Testament. Er klärt und ausgelegt. Bd. 4, Matthäus – Römer, Holzgerlingen 32000, 3–108, đây: 24.

[30] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tiểu Ban Từ Vựng, Từ Điển Công giáo 500 mục từ, Nxb Tôn Giáo, 2011, tr. 44.

[31] x. Sđd., tr. 36-37.

[32] TL chương 19 và chương 20.

[33] x. Alfred Läpple, Arbeitsbuch zum Katechismus der Katholischen Kirche, Augsburg 1993, tr. 573.

[34] x. Đức Giáo hoàng Piô XII, Thông điệp Mediator Dei, số 21.

[35] Hội Dòng Xitô Thánh Gia, Tuyên Ngôn của Tổng Hội Đặc Biệt năm 1969-1970 và 1972, số 22.

[36] x. Guerric von Igny, Worte von Feuer, Mystagogische Ansprachen, Wolfgang Buchmller (Hrsg.), Ottilien 2012, 136-138.

[37] x. Sđd., tr. 136-138.

(Trích tác phẩm nội san linh đạo đan tu: CẦU NGUYỆN ĐAN TU của Hội Dòng Xitô Thánh Gia)

(Nguồn hình ảnh: https://dongnuvuonghoabinh.org/suy-niem-loi-chua-chua-nhat/chua-nhat-v-tn—muoi-va-anh-sang-cho-doi-50646.html)

CÙNG CHUYÊN MỤC