Lm. Gioan Baotixita Hoàng Văn Khanh
MỤC LỤC
ToggleDẪN NHẬP
Hơn 20 thế kỷ qua, khởi đi từ lệnh truyền Loan Tin Mừng của Đức Kitô (x. Mt 28,19; Ga 20,21), Giáo hội đã nhiệt thành truyền giáo không mệt mỏi giữa bao sóng gió thử thách, đã đạt được những thành quả nhất định, đặc biệt gầy tạo ý thức truyền giáo nơi mọi thành phần dân Chúa. Tuy nhiên, vẫn còn một khoảng cách thật xa giữa lý tưởng và thực tế truyền giáo (x. Giáo hội tại Á Châu). Thêm vào đó, thế giới hiện tại – đa văn hóa và đa tôn giáo – đầy những biến chuyển và phức tạp, đang ngày càng dấn mình theo xu hướng tục hóa, duy lý, thực dụng và hưởng thụ. Công việc truyền giáo và tái truyền giáo của Giáo hội đối diện với biết bao thách đố; tuy nhiên, Giáo hội vẫn luôn ý thức đây là nhu cầu sống chết của mình, là lẽ sống còn của Giáo hội: “Giáo hội, tự bản chất là truyền giáo” (AG 2), “Giáo hội được khai sinh là để làm cho Nước Chúa Kitô rộng mở trên khắp hoàn cầu hầu làm vinh danh Thiên Chúa Cha, tức là làm cho mọi người tham dự vào việc chuộc tội và cứu rỗi, để nhờ họ toàn thể vũ trụ thực sự được quy hướng về Chúa Kitô” (TĐGD 2).
Nhiệm vụ hàng đầu của tu sĩ trong đời dâng hiến là thực thi hoàn hảo nhiệm vụ trọng đại này. Vì thế, tu sĩ có trách nhiệm phải sống thánh thiện bằng việc tuân giữ ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, chu toàn những việc đạo đức hàng ngày như tham dự thánh lễ, suy gẫm, đọc sách nguyện, lần chuỗi và những việc đạo đức khác, được coi như suối nguồn và nhiên liệu cho đời sống thiêng liêng là nền móng cho công việc truyền giáo. Trước tiên phải thanh luyện mình rồi mới thanh luyện kẻ khác, phải trở nên ánh sáng rồi mới chiếu soi, phải đến với Chúa rồi mới kéo kẻ khác được, phải tự mình thánh hóa mới thánh hóa kẻ khác, phải tự truyền giáo cho mình trước khi truyền giáo cho kẻ khác (x. Grêgoriô Nadianô). Trong Tông huấn Loan báo Tin mừng, Đức Phaolô VI mô tả thời đại hôm nay là thời đại con người khao khát sự chính thực. Cách riêng người trẻ kinh tởm sự giả dối và tha thiết tìm kiếm những gì là chân thật. Chính vì thế, người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn thầy dạy và nếu họ lắng nghe các thầy dạy, đó là vì những vị thầy này là chứng nhân.
Dĩ nhiên, công tác truyền giáo và tái truyền giáo được thực hiện bằng nhiều phương cách, nhưng trước tiên vẫn là sống và chia sẻ Lời Chúa, rao báo và làm chứng Tin mừng cho người khác. Theo gương Đức Kitô là Đấng không ngừng cầu nguyện và đặt mình trong sự hướng dẫn của Thánh Thần, tu sĩ nên tận hiến cho việc chiêm ngắm Lời Chúa, và hàng ngày nhìn mọi biến cố đời sống trong ánh sáng Phúc âm, để một khi trở thành những người lắng nghe Lời Chúa cách trung thành, họ cũng trở thành những người rao báo đích thực Lời Chúa, nghĩa là rao giảng Lời Chúa cách trung thực và toàn vẹn, rao giảng Lời của niềm vui và hy vọng, là biết đưa chân lý ngàn đời của Tin mừng vào các hoàn cảnh cụ thể của đời sống, bắc nhịp cầu thông giao và hiểu biết giữa Thiên Chúa và con người hôm nay.
Tìm hiểu thánh Phaolô và các thư Phaolô không những giúp khám phá và xác định vai trò trọng yếu của nền thần học Phaolô trong toàn bộ Tân ước, nhưng còn giúp nhận định rõ tầm quan trọng của sứ vụ truyền giáo trong Giáo hội và nhìn thấy nơi ngài nhà truyền giáo mẫu mực với một hoạt lực truyền giáo không mệt mỏi. Để làm công việc này, cần:
- Xác định môi trường và bối cảnh thời đại của thánh Phaolô,
- Tìm hiểu con người và nhân cách của thánh Phaolô,
- Hoạt động truyền giáo của thánh Phaolô,
- Những chủ đề thần học qua các thư Phaolô.
CHƯƠNG I
TỪ SAOLÔ THÀNH TARSÔ …
… ĐẾN PHAOLÔ TÔNG ĐỒ
Để họa lại chân dung của thánh Phaolô, các nhà chuyên môn dựa trên hai nguồn liệu chính bổ sung cho nhau: Thư Phaolô và Tông Đồ Công Vụ. Ngoài ra, người ta cũng tham khảo các ngụy thư, đặc biệt sách “Công vụ của Phaolô” (Les actes de Paul et de Thècle, cuối thế kỷ II). Tân ước liệt kê 13 Thư Phaolô. Ngày nay, các nhà chuyên môn, qua nghiên cứu phê bình, đã nhận định không phải chính Phaolô đã viết tất cả những Thư này. Các thư 2 Tx, Cl, Ep và 3 thư Mục vụ có thể đã được các đồ đệ thuộc trường phái Phaolô (hoặc các thính giả ái mộ) biên soạn dựa trên thế giá của Phaolô sau khi thầy qua đời. Các thư ấy giúp khám phá con người, nhân cách và hoạt động của Phaolô; tuy nhiên, cần phân tích và nhận định đúng đắn vì các thư mà người ta nghi ngờ tính đích thực Phaolô lại cống hiến nhiều chi tiết hơn.
Khi viết thư cho các giáo đoàn, thánh Phaolô ưu tư trước hết đến việc loan Tin mừng. Nếu cần phải nói đến một mảnh đời riêng nào đó hoặc một hoàn cảnh cuộc sống nào đó của ngài, chẳng qua vì muốn nhắm đến việc đào tạo đức tin và ích lợi thiêng liêng của các giáo đoàn, hoặc tự bào chữa cho thế giá tông đồ của mình trước các đối thủ. Điều này được biểu lộ rõ nét trong các thơ Gl, 2Cr và Ph. Dựa trên các thư, ta nhận thấy thánh Phaolô tự giới thiệu mình là ngôn sứ của Đức Kitô, là thừa tác viên của Giao ước mới trong Thánh Thần, là tông đồ. Ngài khẳng định mình là Tông đồ vì đã thấy Chúa (1Cr 9,1). Ngài, xưa kia bắt đạo, nay thuộc thành phần những chứng nhân của Đức Kitô Phục sinh và rao giảng cùng một Tin Mừng như Kêphas và nhóm 12 (1Cr 15,1-11). Khi mạc khải Đức Giêsu là Con, Thiên Chúa tỏ cho Phaolô chương trình cứu độ được hoàn tất trong Chúa Con và Phaolô được nhận sứ mệnh loan báo cho mọi dân tộc (Ep 1; Gl 1,11-17). Khi chiếm lấy Phaolô trên đường Damas, Đức Kitô biến đổi Phaolô thành tông đồ và trao sứ mệnh. Phaolô ý thức mình là tông đồ như các Tông đồ khác do Đức Kitô (Gl 1,5) và Ngài dạy cho ông biết từ nay ơn cứu độ chỉ đến nhờ đức tin chứ không do Lề luật (Pl 3,4-16). Việc chọn gọi một kẻ bách đạo làm tông đồ minh chứng quyền năng vô biên của ân sủng Thiên Chúa (1Tm 1,12-14).
Phần III sách Cv dành cho hoạt động truyền giáo của Phaolô từ khi được gọi làm tông đồ cho tới khi đến Rôma trong tư thế một chứng nhân bị xiềng xích, những cuộc hành trình truyền giáo, những quan hệ với cộng đoàn mẹ Giêrusalem, tương quan với người Do thái và với những lãnh đạo Rôma. Công vụ không nhằm cống hiến một tiểu sử về Phaolô, nhưng cho thấy việc truyền giáo cho dân ngoại ngày càng phát triển Phaolô qua nhiều bước dò dẫm ban đầu. Phaolô can đảm thú nhận quá khứ bách hại đạo của mình, nhưng ông cũng khẳng định lúc ấy ông chỉ hành động do thiện ý và lòng nhiệt thành với Lề Luật, tức với đạo Giavê (Pl 3,4-6). Ngài khẳng định cuộc trở lại của mình làm chứng quyền năng của ân sủng và lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa. Thần học Phaolô xây dựng trên nền tảng ấy.
2 Bối cảnh
Cuộc đời và hoạt động của thánh Phaolô (5? – 67) diễn ra dưới triều Augustus (từ 27 tcn đến 14 scn) và 4 vua kế tiếp: Tiberiô 14-37; Caligula 37-41; Claude 41-54; Nêrô 54-68.
Đế quốc Rôma thống lĩnh trên toàn Đại tây dương, đặt tổng trấn La mã đứng đầu các nước chư hầu. Kilikia, quê hương Phaolô, được quyền tự trị, điều hành bởi hội đồng địa phương do các công dân và những bậc vị vọng bầu lên. Palestine bấy giờ cũng là một tỉnh của Syrie. Rôma đặt quân đội kiểm soát tại mỗi tỉnh thành; vì thế, mọi nổi loạn đều bị tiêu diệt ngay từ khi mới manh nha. Sự thống nhất trong toàn đế quốc trên các lãnh vực chính trị, hành chính và quân đội là kết quả của phong trào Hy hóa hơn ba thế kỷ qua từ những cuộc viễn chinh đại thắng của Alexandre đại đế. Quả vậy, những chiến thắng lẫy lừng của Alexandre và các tướng lãnh đã du nhập vào các nước thất trận ngôn ngữ, nền văn hóa và những tập quán Hy lạp … dần tạo nên sự thống nhất ngày càng lan rộng trong toàn thể đế quốc nhờ vào việc thương mại hoặc giao lưu văn hóa: phong trào Hy hóa trên toàn lãnh thổ đế quốc bắt đầu từ thế kỷ III.
Trên toàn đế quốc, dễ dàng phân biệt nhiều giai cấp xã hội. Giai cấp ưu tiên gồm những người giàu có, nắm trong tay nhiều đặc quyền đặc lợi; Sau đó là giai cấp trung lưu, gồm những người nông dân, thợ thủ công, nhưng viên chức nhỏ. Đa phần thuộc giai cấp nghèo luôn bị đe dọa mất quyền tự do. Cuối cùng là giai cấp nô lệ.
Việc tôn giáo rất phức tạp với những việc tế tự truyền thống, địa phương, gia đình, quốc gia. Thêm vào đó là việc tôn thờ các vị thần du nhập từ các nước ngoài. Tại Rôma, các năng lực thiên nhiên, các giá trị luân lý và tôn giáo đều được thần thánh hóa và được tôn vinh là thần (cf. Cv 17); đặc biệt việc thờ Hoàng đế được coi như tôn giáo chính thức của đế quốc. Việc thờ hoàng đế là tiêu chuẩn và dấu chỉ của một công dân tốt; từ đó mới được sống cuộc sống bình thường và có điều kiện tiến thân trong xã hội. Đây chính là cái khó khăn nhức nhối của các Kitô hữu: hoặc được sống bình thường như mọi người bằng việc thờ hoàng đế, hoặc khước từ và như thế biến thành tội phạm và dẫn đến bách hại. Do thái được hoàng đế César tha phép khỏi thờ thần hoàng đế và chấp thuận tôn giáo của Israel là “religio licita”. Tuy nhiên, Israel và sau đó là Kitô giáo đã từng trải qua biết bao cuộc bách hại thảm khốc.
- Thể lý
Khó có thể xác định ngày tháng năm sinh của Phaolô. Theo Cv 7,58 Phaolô là một “neanias” (chàng trẻ tuổi) khi Stêphanô chịu tử đạo. Nếu Đức Giêsu chết năm 30, có thể nói lúc ấy Phaolô khoảng 20 tuổi, nghĩa là Phaolô sinh khoảng năm 5, sống và hoạt động dưới các triều đại Augustus, Tibère, Caligula, Claude và Nêron.
Phaolô có tên Do thái là Saulô, thuộc chi tộc Benjamin (Rm 11,1; Pl 3,5). Theo 1Bns 1-9, hai chi tộc Giuđa và Benjamin gồm các tư tế và Lêvi làm thành hạt nhân Do thái giáo sau lưu đày. Phaolô (Paulus = Paulos) là tên Rôma. Phaolô dùng tên Do thái (Saulô) khi sống tại Giêrusalem, còn các thơ lại lấy tên Phaolô.
Về mặt thể lý, không một tài liệu đáng tin cậy nào giúp biết đôi điều xác thực về Phaolô, ngoại trừ sách “Les Actes des Apôtres et de Thècle”. Sách này cho biết Phaolô là người nhỏ con, đầu hói, lông mày rậm, mũi khoằm, râu nhọn, chân vòng kiềng. Những bức họa chân dung Phaolô có thể đã dựa vào những mô tả trên. 2Cr 10,10 nói ông có vẻ yếu đuối. Gl 4,13-14 cho biết ông chịu một yếu kém thể lý. Có phải yếu đuối do bệnh tật không? Không có lý vì con người đó rất tự hào về những vinh quang trong đau khổ (Rm 5,3-4; 2Cr 12,7-9), mà cuộc đời truyền giáo nhiệt thành đã phải trả giá bằng biết bao gian truân thử thách và khổ đau (1Cr 15,30-32; 2Cr 1,3-10) mà chỉ có người thật mạnh không những tinh thần mà cả thể lý mới có thể chịu đựng và vượt qua. 2Cr 12,7-9 nói Phaolô chịu đau đớn vì cái dằm trong người. Cái dằm nào? Ta có thể đoán đây có thể là những bách hại, thử thách trăm chiều mà Phaolô phải chịu vì việc rao báo Tin Mừng, cũng có thể là một bệnh tật tạm thời, chẳng hạn sốt rét, đau nhức, … hay một tính xấu cần khắc phục, hoặc có thể một khuyết tật thể lý?
Phaolô lập gia đình không? Chắc chắn khi viết 1Cr (năm 54), Phaolô không có vợ vì trong thơ ông khuyên nhủ những người không lập gia đình hoặc góa vợ hãy sống như ngài (1Cr 7,7-8). Nhưng trước đó, Phaolô đã lập gia đình chưa? Đọc 1Cr 7,8 ta có cảm tưởng như ngài góa vợ vì từ “agamos: không lấy vợ” theo Hy ngữ chỉ người đã góa vợ; hơn nữa khi viết “sống như tôi”, ta có thể hiểu hãy sống như tôi trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu có chút băn khoăn khi đọc 1Cr 7,7-8 ta cũng có thể an tâm khẳng định Phaolô không lập gia đình để hoàn toàn hiến thân cho công việc hoạt động tông đồ. Phaolô đã học nghề dệt lều (skênopoios) tại Giêrusalem và sau này ông đã làm nghề ấy trong thời kỳ hoạt động truyền giáo (1Cr 4,12; Cv 20,34; 1Tx 2,9; Cv 18,3) để khỏi phiền lụy ai, đồng thời để hòa đồng với tầng lớp đông đảo quần chúng là những người lao động nghèo nàn.
- Quê hương Tarsô
Công vụ Tông Đồ nói Phaolô sinh tại Tarsô (9,11; 21,39; 22,3). Tarsô tọa lạc trên hạ lưu Cydnus, thủ đô miền Kilikia, trục giao thông thương mại quan trọng của Tiểu Á. Sách Cv cho biết Phaolô là công dân La mã (16, 37-38; 23,27) từ khi sinh ra (22, 25-26), nghĩa là do cha mẹ kết hôn hợp pháp theo luật La mã, và bố của Phaolô là công dân nhờ thi hành nghĩa vụ quân sự. Theo sử liệu (212 scn), được quyền công dân hoặc do cha mẹ sinh ra, hoặc được ông chủ giải thoát khỏi nô lệ, hoặc nhờ có công trạng đối với đất nước. Dưới triều hoàng đế Claude, người ta còn có quyền công dân nhờ vào quân đội, hoặc mua. Những người có quyền công dân đều có quyền bỏ phiếu, không bị hành hạ đánh đập, quyền tố cáo và kháng án, quyền tư hữu, quyền thừa kế, quyền về hôn nhân. Họ cũng có những bổn phận như đóng thuế, quân dịch, biết nói tiếng La-tinh…
- Giáo dục
Cv 22,3 cho biết từ thuở bé, Phaolô đã sống tại Giêrusalem và học với Gamaliên để thành một biệt phái. Phải chăng Luca muốn trình bày cho biết cha mẹ Phaolô, rất sớm sau khi sinh ông, đã rời bỏ Tarsô cùng với con về sinh sống ở Giêrusalem, tại đây Phaolô đã trải qua thời thơ ấu và hoàn thành việc học. Cv 23, 16-22 cho biết bà chị ông sinh sống tại Giêrusalem và có đứa con trai lớn. Phaolô thông thạo tiếng Hy lạp, có một kiến thức về thi ca và triết lý Hy lạp. Dù được học tập ở Giêrusalem, nhưng giáo thuyết Phaolô hoàn toàn độc lập với nền thần học Do thái (v/d: Ơn công chính hóa không phải là kết quả của việc tuân giữ Lề luật, nhưng do công nghiệp cứu độ của Đức Kitô; Tội lỗi là một quyền lực đang hoành hành trong con người, chỉ một mình Thiên Chúa đánh bại, nhờ đó con người được giải thoát và cứu độ).
- Bách hại các Kitô hữu
Trước khi được gặp Đức Kitô phục sinh và trở thành Tông đồ, Phaolô thú nhận mình hăng say truy nã và bách hại Kitô hữu (Gl 1,13.23; 1Cr 15,9; Pl 3,6). Tại sao bách hại? Chính Phaolô đã trả lời sự ghét bỏ, truy nã và bách hại xuất phát từ lòng nhiệt thành với Lề Luật: “Giữ luật thì đúng như một Pharisêu, nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội thánh” (Pl 3,5-6). Thật thế, đối với Do thái, nói nhiệt thành là nhiệt thành với Lề Luật, việc tuân giữ và bảo vệ Lề Luật. Điều khiến Phaolô tức giận là thái độ của Kitô hữu đối với Lề Luật. Nhưng Kitô hữu đã làm gì sai trái với Lề Luật? Giáo đoàn Giêrusalem, trước khi Kitô giáo lan tràn đến các dân ngoại, rất trung thành tuân giữ Luật Do thái như Phaolô làm chứng trong Gl 2, 4.12. Theo ông, khi Kitô giáo đặt trọn niềm tin và Đức Giêsu như trung tâm tôn giáo, tức là đã tước đi vị trí của Lề Luật mà từ ngàn xưa được coi như trung tâm Do thái giáo. Lại nữa, khi tuyên xưng Đức Giêsu chết và sống lại là Đấng Messia và là Chúa, tức đi ngược lại với điều đã được viết trong luật Môisê: kẻ bị treo là bị Thiên Chúa chúc dữ (Đnl 21,23). Như thế, Kitô hữu đã chống lại Lề Luật Môisê. Do đó, lòng nhiệt thành đối với Lề Luật thúc đẩy Phaolô truy nã và bách hại Kitô hữu. Lòng nhiệt thành ấy đã xuất hiện rất sớm nơi Phaolô khi còn đang ngồi thụ giáo dưới chân Gamaliên và biểu lộ lần đầu qua sự đồng tình với việc ném đá Stêphanô mà Công vụ thuật lại: “Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô” (Cv 7,58); và Cv kết thúc bằng: “Phần Saolô, ông tán thành việc giết Stêphanô” (Cv 8,1). Từ sau đó, chàng thanh niên nhiệt thành với Lề luật ấy trở thành nhân vật chính đáng sợ trong việc bách hại Hội thánh: “Ông đến từng nhà lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8,3). Phaolô không những bách hại Kitô hữu ở Giêrusalem mà còn cả những vùng lân cận. Theo Cv 8,1b sau cái chết của Stêphanô, các Kitô hữu Giêrusalem phải chạy trốn khỏi Giêrusalem, trừ các Tông đồ. Điều này cho thấy một Hội thánh sơ khai hiệp nhất (Cv 2,42.44; 4,32.34), dù phải di tản đây đó, nhưng vẫn luôn hiện diện tại Giêrusalem qua các thủ lãnh là các Tông Đồ. Theo Luca, Phaolô trẩy đi từ Giêrusalem đến Damas và chính tại đây xảy ra biến cố quyết định cuộc đời của Phaolô.
Gl 1,15-16: “Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi lan báo Tin mừng về Con của Người cho các dân ngoại”. Câu này xác định sứ mệnh của Phaolô và quyền rao giảng Tin mừng của ngài. Phaolô mượn các từ ngữ Cựu ước để nói lên ơn gọi tông đồ của mình như các ngôn sứ xưa (cf. Gr 1,5; Is 49,1), nhưng nhấn mạnh đến khía cạnh mới mẻ của Kitô giáo, đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Phaolô quả quyết mình nhận được mạc khải cho biết những khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được dấu kín từ muôn thuở (1Cr 2,7-10). Thiên Chúa đã cho ngài nhận biết Đức Giêsu (Gl 1,12), khác với những điều ông biết trước đây và phù hợp với đức tin của các Kitô hữu mà ông đã từng bách hại. Điều này ông đạt được nhờ vào cảm nghiệm cá nhân của một gặp gỡ Đức Giêsu phục sinh qua biến cố Đamas.
1Cr 9,1: Phaolô khẳng quyết mình là Tông Đồ vì đã gặp Đức Giêsu. Thấy Đức Giêsu là thành ngữ được nhắc lại nhiều lần trong Tin mừng Gioan 20,18.25: “Tôi đã thấy Chúa”; “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Thánh Phaolô áp dụng cho chính mình công thức truyền thống về việc thấy Đấng Phục sinh hiện ra và tự liệt mình vào số những chứng nhân đã được thấy Chúa (x. 1Cr 15, 5-8). Động từ “Opthè” gặp thấy trong Lc 24, 34; Cv 9,17; 13,31; 26,16. Phaolô tuyên bố mình cũng là chứng nhân đích thực của sự phục sinh, và đồng hàng với các chứng nhân tiên khởi trong kinh nghiệm gặp gỡ ấy.
2Cr 4,6: Tin mừng là ánh sáng giúp nhận biết Thiên Chúa. Tông đồ là người được trao phó sứ mệnh rao giảng. Khi rao giảng Đức Kitô, người tông đồ được soi sáng (2Cr 4,6) nhờ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô và trở nên tông đồ của Ngài. Phaolô khẳng định mình thấy Đức Giêsu như các Tông Đồ và như thế ngài cũng là tông đồ được Đức Giêsu kêu gọi và thiết lập. Chắc chắn khi nói mình thấy Đức Giêsu hiện ra, Phaolô không muốn diễn tả một sự kiện, nhưng chủ đích là muốn nói lên biến cố quyết định ơn gọi và sứ mệnh tông đồ của mình vì thấy Đức Giêsu (Gl 1,16). Nhưng Phaolô không nói cho biết Thiên Chúa đã trao cho ông sứ mệnh thế nào. Ta có quyền nghĩ lúc đầu Phaolô đã rao giảng cho Do thái, nhưng thất bại để sau đó chuyển sang dân ngoại (và đó cũng là lập trường của thánh sử Luca trong Công vụ tông đồ).
Công vụ cũng nói xa xa đến biến cố Đamas: Cv 9,1-3; Cv 22,4-16 (Diễn từ của Phaolô trước đám đông tại Giêrusalem); Cv 26,9-18 (Lời Phaolô biện minh trước Agrippa).
v Đối tượng mạc khải trong biến cố Damas?
Gl 1,15-16 không nói Thiên Chúa đã mạc khải cho Phaolô Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng chỉ nói Thiên Chúa đã mạc khải Con của Người. Khi Phaolô thấy Đức Giêsu, Đấng đã chết trên thập giá, đang sống và hiện ra cho mình, ngài quả quyết rằng Đức Giêsu được Thiên Chúa chứng thực; có nghĩa là hoàn toàn ngược với điều đã viết trong Lề Luật (Đnl 21,23). Có phải vì thế mà Phaolô đã vội kết luận Lề luật từ nay vô hiệu. Chắc là không, nhưng đó là chỗ dựa Kinh Thánh để Phaolô khẳng định về ơn cứu chuộc.
v Hiểu sao về cuộc trở lại?
Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa thông thường của từ này là bỏ con đường tội lỗi mà trở về với Thiên Chúa như những người dân ngoại bỏ tà thần ngẫu tượng để trở về với Đức Kitô. Bởi vì cho đến lúc ấy Phaolô không ngừng tin vào một Thiên Chúa và phục vụ Người hết lòng. Ngài trở lại có nghĩa là đức tin Kitô giáo hoàn tất niềm tin Do thái giáo nơi ngài. Đối với Phaolô, từ nay Đức Giêsu chính là Đấng Messia của Israel, Ngài chính là Đấng có sứ mệnh rao báo và thiết lập Nước Thiên Chúa và hoàn thành mọi lời Thiên Chúa đã hứa với Abraham. Đây chính là một kinh nghiệm nội tâm sâu xa mà suốt đời Ngài không ngừng đào sâu; đó là kinh nghiệm một hiệp thông nhiệm mầu với Đấng Phục sinh làm biến đổi tận căn con người và cuộc đời của Ngài. Sự trở lại đó phải là một cái gì khác hơn sự di chuyển từ trung thành với Lề Luật sang Đức Kitô, đúng hơn là một biến đổi thiêng liêng và luân lý, một khám phá về tác động của Chúa trên con người biết đáp lại tiếng mời gọi của Người. Từ nay, cuộc trở lại đó biến Phaolô thành người Tông đồ nhiệt tình rao giảng về Đấng đã chết và sống lại là lẽ sống của Phaolô, là niềm vinh dự duy nhất của ngài.
- Đầu đời Tông đồ
- Đi Arabie
Cv 9,19b-22 thuật lại: sau khi được thánh tẩy, Phaolô ở lại Đamas trầm tư về biến cố đã xảy ra, tìm hiểu cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu, lui tới hội đường loan báo niềm tin vừa lãnh nhận. Thư Gl nói sau biến cố Đamas, Phaolô lập tức trẩy đi Arabia (Gl 1,15-17). Sự khác biệt trên có thể được lý giải như sau: Lc viết Công vụ theo lược đồ muốn làm nổi bật việc rao giảng Tin mừng trước hết cho Do thái (cf.Cv 1,8); nhưng vì họ từ chối nên mới chuyển sang dân ngoại (9, 23-25).
Công vụ không nói Phaolô đi Arabia nhưng đi Giêrusalem gặp các Tông đồ. Thư Galát lại nói Phaolô đi Arabie: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên” (Gl 1,16) do vâng theo sự thúc đẩy của Thần khí, rồi lại trở về Damas (Gl 1,17). Tại sao đi Arabie? Thưa: Phaolô đến Arabie, một mặt để chiêm niệm và đào sâu kinh nghiệm gặp gỡ với Đấng Phục sinh, vừa tra cứu Kinh Thánh về những điều liên hệ đến Đức Kitô hầu minh chứng và rao giảng về Đức Giêsu. Tại đây, Phaolô học nghề dệt lều, rao giảng tại hội đường vào các ngày Sabbat để minh chứng Đức Giêsu chết và sống lại. Gl 1,17 cho biết Phaolô trở lại Damas và ba năm sau mới lên Giêrusalem gặp Phêrô. Phaolô nhắc lại điều xảy đến tại Damas trong 2Cr 11, 32-33 như sau: “Tại Đamas, viên tổng đốc cho lính canh gác thành để bắt tôi. Nhưng người ta đã cho tôi vào một cái thúng, rồi thòng qua cửa sổ dọc theo tường thành; thế là tôi thoát khỏi tay ông ta”. Còn Cv 9, 23-25 lại nói trong thời gian tại Damas, Phaolô rao giảng và làm chứng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Cv 9,20), là Đấng Messia (9, 22). Điều này làm cho Do thái đi từ bỡ ngỡ đến tức giận và tìm cách giết Ngài (Cv 9,23). Thế rồi, ông đã được các Kitô hữu cứu bằng cách đang đêm đặt ông trong cái thúng rồi thòng dây thả xuống (9,25).
- Đi Giêrusalem
Cv 9,26-29 tường thuật việc Phaolô đến Giêrusalem lần đầu và qua trung gian Barnaba, Phaolô bắt liên hệ với các Tông đồ. Ông mạnh dạn rao giảng Đức Kitô, tranh luận với người Do thái Hy hóa. Họ tìm cách giết ông; vì thế ông phải lên đường về Tarsô.
Thơ Galát viết: “Ba năm sau tôi mới lên Giêrusalem diện kiến ông Kêpha, và ở lại với ông 15 ngày” (Gl 1,18). Theo Galát, sau 3 năm tại Damas, Phaolô đến Giêrusalem với mục đích diện kiến (historêsai: làm quen) với Kêpha, vị lãnh đạo Hội thánh và là chứng nhân tiên khởi của Phục sinh (1Cr 15,5; Lc 24, 34). Phaolô lưu lại 15 ngày, có lẽ tại nhà Phêrô; dĩ nhiên được học biết nhiều từ nơi Phêrô những điều liên quan đến cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu.
Ngoài Phêrô, Phaolô còn gặp Giacôbê, người anh em của Chúa và lãnh đạo Hội thánh Giêrusalem. Tại sao chỉ một mình Giacôbê? Những Tông đồ khác đâu? Có thể các vị ấy ngại không muốn gặp Phaolô vì đang nghi ngờ ông. Phaolô chỉ gặp một mình Giacôbê, có lẽ vì Giacôbê do chức vụ của mình muốn gặp để dò xét ý tứ của Phaolô.
Cv 22,17-21 còn thuật lại rằng khi Phaolô cầu nguyện trong đền thờ, ông thị kiến Chúa ra lệnh cho ông rời khỏi Giêrusalem vì người Do thái không chịu tin, và sai ông đi đến các dân ngoại. Phaolô thuật lại kinh nghiệm này trong phần kết thúc diễn từ trước đám đông người Do thái tại Giêrusalem (Cv 22, 6-16). Ta nhận thấy trình thuật thị kiến trong đền thờ không phù hợp với điều Luca viết trong Cv 9, 29-30: những người Do thái Hy hóa tìm cách giết Phaolô, buộc lòng ông phải rời Giêrusalem; còn ở đây, chính Chúa hiện ra bảo ông đi đến với dân ngoại! Tuy nhiên, ta cũng nhận thấy đoạn này bổ túc cho trình thuật trở lại vì khi trở lại Phaolô chưa nhận được sứ mệnh nào do Đức Giêsu trao phó. Như thế, ta có thể hiểu rằng, đối với Luca, việc Phaolô đến với dân ngoại là cả một quá trình chiêm niệm chín mùi về kinh nghiệm Damas, chứ không phải ngay sau biến cố.
- Đến Syria và Kilikia
Cv 9,30 thuật lại sau cuộc gặp gỡ lần đầu tại Giêrusalem, Phaolô xuống Cêsarê và lên đường về Tarsô. Gl 1,21 lại nói Phaolô rời Giêrusalem, đi về miền Syria và Kilikia (Tarsô thuộc Kilikia). Công vụ cho biết Barnaba sẽ đến tìm Phaolô tại Tarsô để dẫn đến Antioche (Cv 11, 25-26). Điểm đặc biệt là Gl 2,1 viết: “Sau mười bốn năm, tôi lại lên Giêrusalem một lần nữa cùng với Barnaba”.
Phaolô đã làm gì trong khoảng thời gian 14 năm đó? Cả Gl và Cv không hề nói gì! Ta phải hiểu sao đây? Tarsô và tỉnh Kilikia là vùng dân ngoại. Phaolô đã có dịp thể hiện lòng nhiệt tình truyền giáo trên chính quê hương của mình. Phaolô đến đây khoảng năm 35-36 và chỉ đi vào năm 43-44. Các nguồn liệu không nói gì về thời gian này. Do đó, nhiều tác giả như quên đi bản chất rất năng động của Phaolô mà vội kết luận ông sống âm thầm tại đây như trước đây tại Arabia. Một vài chỉ dẫn trong Cv và Gl cho phép ta suy nghĩ không ai khác ngoài Phaolô đã thiết lập những giáo đoàn tại Kilikia, được nhắc đến trong công đồng Giêrusalem, và chính Phaolô có dịp ghé thăm vào khoảng năm 50, đầu cuộc hành trình truyền giáo thứ hai, để củng cố niềm tin cho các tín hữu tại đây. Chắc chắn, tại Tarsô, Phaolô dựa trên kinh nghiệm Damas và những gì thu thập được qua cuộc viếng thăm lần đầu Giêrusalem, để rao giảng cho những người Do thái và những người ngoại, giúp họ từ bỏ ngẫu tượng để tin theo tôn giáo độc thần, đồng thời minh chứng cho Do thái biết Đức Giêsu chính là Đấng Thiên Sai của Israel.
Ta không hiểu tại sao phải đợi đến lúc đến Antiokia khoảng 43-44, Phaolô mới rao giảng đức tin Kitô giáo cho dân ngoại và đã phải chờ đợi một thời gian khá lâu để quả quyết việc cắt bì không phải là điều kiện cần thiết và tiên quyết cho việc lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Phải đợi đến khi Phêrô rửa tội cho Cornêliô mà không cần cắt bì, lúc ấy Phaolô mới mạnh dạn khẳng quyết lập trường của mình. Đó chính là sự khôn ngoan và dè dặt thuở đầu của vị tông đồ dân ngoại.
- Đến Antiokia
Sử gia Josèphe cho biết Do thái đã có mặt tại Syria vào khoảng năm 300 trước công nguyên và tại đây, một số đông người Hy lạp đã xin nhập Do thái giáo. Kitô giáo đã có mặt tại Antiokia từ ngày các Kitô hữu bị bách hại trốn khỏi Giêrusalem (Cv 11,19). Chắc chắn, công việc truyền giáo đã được tiến hành tại vùng đất này.
Barnaba được cộng đoàn Giêrusalem trao trọng trách mục vụ tại Antiokia. Ông đến gặp Phaolô tại Tarsô và đề nghị Phaolô về Antiokia. Giêrusalem vẫn luôn là Giáo hội mẹ. Sứ vụ truyền giáo của Phaolô tại Antiokia được trao qua đại diện của Giáo hội Mẹ. Từ Antiokia, Phaolô bắt đầu những cuộc hành trình truyền giáo. Tất cả đều phát xuất từ Giêrusalem và trở về Giêrusalem. Điều đó nói lên tính duy nhất của Tin mừng và sự hiệp thông của sứ vụ trong Giáo hội.
Đến Antiokia, Phaolô không tránh khỏi những nghi ngại ban đầu của các Kitô hữu (cf. Ananie; Cv 9,26). Qua trung gian của Barnaba, mọi nghi ngờ thuở đầu tan biến và Phaolô bắt đầu rao giảng cho Do thái và dân ngoại. Giáo đoàn Antiokia mà đa phần là dân ngoại trở lại được thiết lập. Chính tại đây mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Kitô hữu (Cv 11, 26).
Theo Cv 11,27-30 một biến cố xảy ra làm gián đoạn công cuộc rao giảng của Phaolô tại Antiokia, cho ông cơ hội trở lại Giêrusalem lần thứ hai sau 14 năm xa cách: đó là cuộc lạc quyên tại Antiokia giúp Giáo hội mẹ Giêrusalem đang trong cơn đói kém. Phaolô và Barnaba được trao trách nhiệm đem tiền lạc quyên về Giêrusalem. Sau đó, hai ông trở về Antiokia đem theo Gioan-Marcô (Cv 12,24).
CHƯƠNG II
TÔNG ĐỒ TRUYỀN GIÁO
Những hành trình truyền giáo
– Hành trình I (khoảng năm 46-48): Chypre, Pamphylie, Lycaonie (Cv 13-14).
– Hành trình II (khoảng năm 49-52): Lycaonie, Galate, Troas, Macédonia (Philippê, Thessalonica). Athènes, Côrintô, trở về lại Antiokia theo con đường Êphêsô (Cv 15, 41 – 18,22).
– Hành trình III: Galate, Êphêsô (hơn 2 năm), Macêđônia, Côrintô. Trở lại Giêrusalem theo đường Macêđônia.
– Hành trình đi Rôma trong tư thế một chứng nhân bị xiềng xích, khoảng năm 53-58 (Cv 18,23 –23).
* Lưu ý: Xuất phát từ Antiokia, trở về Antiokia và cuối cùng trở về Giêrusalem.
Các cộng sự
– Đầu tiên là Barnaba, người đảo Chypre. Ông được các Tông đồ giao trách nhiệm chăm sóc giáo đoàn Antiokia. Barnaba giới thiệu Phaolô với các Tông đồ sau biến cố Đamas, đưa Phaolô từ Tarsô về Antiokia. Barnaba và Phaolô được tuyển chọn đi rao giảng. Lúc đầu, Barnaba làm trưởng nhóm truyền giáo (Cv 13,4), sau đó Phaolô thay thế (Cv 13,13). Luca muốn làm nổi bật vai trò và uy thế của Phaolô. Barnaba có mặt cùng Phaolô tại Công đồng Giêrusalem bàn về việc không cắt bì cho dân ngoại trở lại. Trong hành trình I, Phaolô và Barnaba đem theo Gioan-Marcô; nhưng chàng trẻ này bỏ cuộc nửa chừng. Vì thế, trong hành trình II, Phaolô từ chối không cho anh theo. Điều này gây mâu thuẫn giữa Phaolô và Barnaba. Barnaba đem theo Marcô, còn Phaolô đem theo Silas.
– Tại Lystres, Phaolô gặp Timôthê. Timôthê là con của bà Eunice, người Do thái, kết hôn với người ngoại. Phaolô cho Timôthê cắt bì để tránh trở ngại trong chuyến truyền giáo đầu tiên. Timôthê là cộng sự viên rất đắc lực của Phaolô, nhận lãnh nhiều nhiệm vụ do Phaolô trao phó.
– Titô thuộc gia đình ngoại đạo, nhưng không cắt bì. Titô theo Phaolô trong các hành trình truyền giáo và được trao nhiều nhiệm vụ, đặc biệt công tác lạc quyên tại Côrintô, tổ chức và chăm sóc giáo đoàn Crêta.
– Luca, vị lương y mà Phaolô gặp tại Troas trong hành trình II.
– Epaphrodite (Pl 2,25), Epaphras (Cl 1,7; 4,12), Tychique (Ep 6,21).
– Các bà: Đamaris (Athènes): Cv 17,34. Lyđia ở Philippê (Cv16,14). Priscilla (vợ của Aquila:Cv 18,2). Phoebê (Rm 16,1). Nymphê (Cl 4,5), Êvôđia (Pl 4,2)…
Tất cả các cộng sự viên đều hiệp nhất với Phaolô và với nhau trong tinh thần nhiệt thành Loan Tin mừng. Vấn đề đặt ra trong việc truyền giáo: nhân sự truyền giáo, tinh thần hiệp nhất và cộng tác, cách phân bổ công tác…
- Được chọn và sai đi
Cv 13 mở đầu đột ngột với bản danh sách 5 vị ngôn sứ và thầy dạy, đứng đầu là Barnaba. Phaolô là thành viên sẽ được Chúa ban những ơn lạ như chính ngài thổ lộ: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì tôi được ơn lạ nhiều hơn tất cả anh em” (1Cr 14,18). Ở đây, Cv nói Phaolô được chỉ định và được sai đi qua việc cầu nguyện và đặt tay của cộng đoàn. Vai trò chủ chốt là Thánh Thần, Đấng thông tri trực tiếp (cf. Cv 8,29; 10,19). Trong các thư, khi nói đến quyền Tông đồ, Phaolô không nại đến một gì khác ngoài chính Chúa, Đấng tỏ mình cho ông. Do đó, ở đây ta thoáng ngạc nhiên khi thấy Phaolô được đề cử và sai đi trong một nghi thức long trọng; có thể đó là phản ánh những thực hành thời kỳ tác giả biên soạn chăng? 1Tm 4,14 cho biết việc truyền chức đi kèm lời ngôn sứ và việc đặt tay của các kỳ mục. Như thế, việc đặt tay ở đây không phải một nghi thức truyền chức, một thánh hiến, nhưng là một khẩn nài, phó thác cho ân sủng Thiên Chúa.
- Đi Chypre
Barnaba quê tại đảo Chypre (Cv 4,36) nên rất quen thuộc vùng này. Đồng hành với Barnaba và Phaolô, có Gioan-Marcô (13,5b), con của bà Maria tại Giêrusalem, thường đón tiếp các Kitô hữu đến tụ họp cầu nguyện tại nhà (12,12-17). Họ đáp tàu đi Salamine, thành phố đông dân nhất đảo Chypre và tại đây, các ngài rao giảng Lời Chúa trong các hội đường Do thái. Sau đó, các ngài đến thủ đô Paphôs và gặp Barjésus – Êlymas, thầy pháp bên cạnh tổng đốc Sergiô. Barjésus, con cái ma quỷ (13,10), ngăn cản vị tổng đốc tin vào Chúa; do đó Phaolô đã phạt anh bị mù. Sử chứng nhận có quan tổng đốc tại Chypre tên Sergius Paulus, nhưng niên hiệu không phù hợp với thời gian khi Phaolô đến Chypre. Thêm vào đó, việc trở lại của một nhân vật cấp cao như thế, lẽ nào sử lại bỏ qua không ghi lại. Do đó, người ta nghi ngờ Luca đã dựa trên một truyền kỳ dân gian về hoạt động ma thuật của các pháp sư để sáng tác câu chuyện trên nhằm mục đích nói lên sự cách biệt giữa giáo lý đích thực của Chúa do các nhà truyền giáo rao giảng và bên kia là những thực hành ma thuật mê hoặc dân chúng. Luca muốn đề cao Phaolô từ nay là người lãnh đạo mọi hoạt động truyền giáo.
Qua đoạn văn trên, ta cũng thấy lần đầu tiên Phaolô được ơn đoàn sủng và ơn phép lạ, ngang hàng với Phêrô. Những ơn lạ này quả là cần thiết và thích hợp vào lúc Hội thánh đang phải đương đầu với những thực hành pháp thuật trong toàn đế quốc La mã. Dầu được những ơn lạ nhiệm mầu, Phaolô vẫn luôn ý thức sâu xa về sự yếu đuối mỏng dòn của mình mà biến cố và kinh nghiệm Damas đã chứng tỏ.
- Tại Tiểu Á
Rời Paphôs, các nhà truyền giáo đi Pergê, miền Pamphylie. Gioan-Marcô rời Phaolô và Barnaba để trở về Giêrusalem, tạo mâu thuẫn giữa hai nhà truyền giáo (15,37-40). Nhiều giả thuyết về việc Gioan-Marcô bỏ đi: có thể vì đây là nơi nghèo nàn khổ cực, hoặc nổi nhớ quê hương mẹ già, hoặc nhận thấy công cuộc truyền giáo quá phiêu lưu… Nhưng lý do dễ chấp nhận hơn cả đó là Gioan Marcô vẫn còn mang nặng tính chất cổ truyền chưa có thể dễ dàng chấp nhận việc đón nhận người ngoại vào đạo mà không cắt bì. Các nhà truyền giáo đi đến Antioche de Pisidie và rao giảng trong các hội đường Do thái. Sách Cv ghi lại ở đây diễn từ đầu tiên của Phaolô. Diễn từ gợi lại bài giảng đầu tiên của Phêrô ngày Hiện xuống. Phần đầu tóm lược lịch sử Israel (cf. Diễn từ của Stêphanô) nhằm minh chứng lịch sử từ đầu đến Gioan tẩy giả loan báo Đức Giêsu. Phần hai (cf. Diễn từ của Phêrô) cho thấy tội ác con người đã lên án Đức Giêsu, nhưng Thiên Chúa đã phục sinh Ngài từ kẻ chết, những lần hiện ra đúng như Lời Kinh Thánh đã loan báo. Phần ba mời gọi hoán cải để đón nhận ơn tha thứ nhờ vào lòng tin chứ không dựa vào Lề luật. Dân ngoại tấp nập tuôn đến hội đường và nhiều người xin trở lại. Ngày Sabbat sau đó, Phaolô tiếp tục rao giảng. Nhưng lần này xảy ra chống đối vì người Do thái ghen tức khi nghe nói dân ngoại cũng được hưởng ơn cứu độ. Sự ghen tức của người Do thái đối với dân ngoại ngày càng bộc lộ rõ nét trong các Hội đường. Các bà đạo đức có cảm tình với Do thái can thiệp với các đấng phu quân lãnh đạo thành phố ra lệnh trục xuất các nhà rao giảng. Phaolô và Banaba bị đuổi để từ đó Phaolô lên đường tiến về phía các dân ngoại, đúng như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo về sứ vụ của người Tôi tớ: “Ta đặt ngươi làm ánh sáng cho mọi dân tộc để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất”.
Các ngài đi đến Iconium, một thành phố rộng lớn với nhiều đền đài dinh thự. Phaolô chọn nơi đây để tiếp tục việc rao giảng vì đây là trung tâm hoạt động thương mại, thích hợp cho việc truyền bá đức tin cho các vùng phụ cận. Tại đây, cũng xảy ra những biến cố tương tự như tại Pisidie (14,1-3). Điều đó cho phép ta nghĩ rằng Luca đã dùng lại lược đồ trình thuật trên với vài sửa đổi nhỏ. Lần đầu tiên Phaolô và Banaba được danh hiệu Tông đồ (14,4): danh hiệu này Luca chỉ dùng riêng cho nhóm 12, nay được dùng rộng ra cho các nhà truyền giáo. Những người ghen tức hăm làm nhục và ném đá các ngài (14, 5). Khác với trước đây các ngài bị đuổi, nay các ngài phải chạy trốn (14,6).
Các ngài đi đến Lystres, một thị trấn nhỏ toàn dân ngoại. Tại đây xảy ra hai sự kiện:
– Sự kiện 1: Phaolô chữa lành bệnh cho người què bẩm sinh (14, 8-10). Trước phép lạ đó, dân chúng tung hô các ngài là thần (Banaba: Zeus; Phaolô: Hermès) và muốn cúng tế các ngài. Đây là cơ hội để Luca đặt trên miệng Phaolô bài diễn từ đầu tiên cho dân ngoại giáo; và bài thứ hai sâu sắc hơn nhiều chắc chắn là tại công trường Athènes (Cv 17, 22-31). Phaolô mạnh dạn rao giảng cho họ từ bỏ các ngẫu tượng do con người vẽ ra để quay về nhận biết Thiên Chúa thật.
– Sự kiện 2: Phaolô bị ném đá nhưng được cứu cách mầu nhiệm (14,19-20). Luca viết: “Họ ném đá Phaolô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng ông đã chết. Nhưng khi các môn đệ xúm lại quanh ông, ông đứng dậy và vào thành” (14, 19b-20a). Các môn đệ nào trong khi trước đó không thấy nói đến một cuộc trở lại nào, cũng không hề nói đến một cộng đoàn Kitô hữu nào tại đó? Câu chuyện có vẻ hư cấu dựa trên chỉ dẫn của 2Tm 3,11 và nhất là dựa trên chính chứng từ của Phaolô khi nói bị ném đá một lần ( 2Cr 11,25).
Các ngài lên đường đi Đecbê. Tại đây, các ngài loan Tin Mừng cho thành ấy và nhận khá nhiều các đồ đệ (14, 21).
Các nhà truyền giáo trong hành trình I đã không chọn con đường thông thường và ít nguy hiểm, mà lại chọn con đường phức tạp. Luca muốn cho thấy truyền giáo là phải trở lại những nơi mình đã rao giảng, những cộng đoàn mình mới thiết lập để củng cố niềm tin và hoàn thiện công việc đã khởi sự (Cv 14,22).
Trở về, các ngài hân hoan thuật lại cuộc hành trình với những việc Chúa đã làm với các ngài. Cộng đoàn vui sướng vì thấy dân ngoại được đón nhận đức tin.
Một thời gian sau, Phaolô và Barnaba quyết định cuộc hành trình II để thăm viếng các cộng đoàn đã thiết lập và tiếp tục việc loan báo Tin mừng cho dân ngoại. Barnaba dẫn theo Gioan-Marcô đi đảo Chypre, còn Phaolô dẫn theo Silas tới Syrie và Kilikia (Silas = Silvanus trong La ngữ).
- Tiểu Á
Phaolô và Silas băng qua Kilikia đến Tarsô; từ đó, vượt Cydnus, qua Taurus, đến Đerbê, Lystres, Iconium, Antioche de Pisidie là những nơi trước đây Phaolô đã rao giảng và lập các giáo đoàn. Từ Lycaonie, hai vị hướng đến Êphêsô. Trong hành trình này, Công vụ thuật lại hai biến cố xảy ra như do chính Chúa Thánh Thần can thiệp vào công việc truyền giáo. Biến cố thứ nhất buộc các vị phải rẽ hướng qua Phrygie và vùng Galát. Biến cố hai ngăn cản họ không thể vào Bythinie và buộc phải đi qua Mysie tới Troas (16,6-8). Khi đến Lystres, Phaolô gặp Timôthê, người mà sau này Phaolô gọi là môn đệ yêu quý (1Cr 4,17). Timôthê là con của một người ngoại Hy lạp và mẹ Do thái. Phaolô quyết định cắt bì và rửa tội cho anh, cho anh đồng hành với mình. Tại sao Phaolô cắt bì cho Timôthê khi chính Phaolô dạy chỉ đức tin mới đem lại cứu độ (Rm 3,20), cắt bì không có giá trị gì (Gl 5,6; 6,15)? Câu trả lời có thể là để tránh gây đụng chạm với những người Do thái hầu việc rao giảng được tiến hành thuận lợi trong lúc này.
Phaolô đến Lycaonie, sau đó đến Phrygie và ngụ lại Galát (15,41; 16,6) vì bị bệnh (Gl 4,13-14). Dân Galát thành tâm lắng nghe Tin Mừng, tin vào Đức Giêsu chịu đóng đinh và xin lãnh nhận thánh tẩy. Trong thời gian Phaolô bị bệnh, họ chăm sóc Ngài như một người cha. Còn Ngài sẽ có dịp ghé thăm họ thêm một lần nữa (hành trình III). Khi nghe tin họ lo lắng trước những đe dọa của những người Do thái quá khích, Ngài gởi thư khuyên bảo họ luôn trung thành với Tin Mừng đã lãnh nhận.
Từ Galát, Phaolô đi Bythanie, nhưng không được. Tại Bythinie, Kitô giáo đã hiện diện khá sớm, dựa trên 1Pr 1,1 và chứng từ của Pline trong thơ gởi cho hoàng đế Trajan (111-112): “Không những các thành phố, mà ngay cả những làng mạc đều bị tiêm nhiễm bởi thứ mê tín này”. Ý Chúa quan phòng định liệu Phaolô và các bạn trẩy đến Troas, cảng trên biển Êgê. Đây là cảng thuận tiện để Phaolô có thể khởi hành đi Macédoine. Troas sẽ được rao giảng trong hành trình III khi Phaolô từ Êphêsô đến Macédoine (2Cr 2,12).
Đêm đầu tiên khi đến Troas, Phaolô ngủ mơ thấy một người mặc y phục Macédoine thúc dục Ngài mau đến giúp xứ ông. Thức dậy, Phaolô hiểu đó là thánh ý Chúa mời gọi, nên vội tìm tàu đi Macédoine. Trong Công vụ, Luca cho biết ông gặp Phaolô ở Troas và cùng đáp tàu đi với Phaolô.
- Tại Philippê
Từ Troas, các ngài đến Philippê, một thành phần đông gồm những cựu chiến binh. Phaolô bắt liên hệ với cộng đoàn Do thái. Mối liên hệ giữa Rôma với Do thái không mấy tốt đẹp (Cv 16,20-24), nên tại đây Do thái không có hội đường (sunagoguê), mà chỉ có nơi cầu nguyện (proseukhe) cách xa thành phố. Buổi cầu nguyện phần lớn chỉ có đàn bà là những Do thái nô lệ hoặc kết hôn với người ngoại kính sợ Chúa (x.10, 2.22; 13,6.26; 18,7). Trong số đó, Lydia, buôn bán gấm vóc, quê tại Thyatire (Kh 1,11; 2,18.24) đã trở lại và chịu thánh tẩy. Bà hào hiệp giúp đỡ Phaolô và các nhà truyền giáo. Phaolô thiết lập cộng đoàn Philippê và đây là giáo đoàn được Phaolô yêu quý như thư Pl làm chứng. Phaolô trao cho Luca trách nhiệm tổ chức và điều hành giáo đoàn.
Tại Philippê, một sự cố xảy ra: một cô gái bị quỷ ám làm nhiều pháp thuật đem lại nhiều lơi nhuận cho các ông chủ. Phaolô trừ quỷ cho cô. Mất đi mối lợi, các ông chủ tố cáo Phaolô trước nhà chức trách là gây xáo trộn trong thành, truyền bá những tập tục nghịch với Rôma. Đám đông nổi lên chống đối Phaolô. Quan tòa truyền đánh đòn và bắt hai ông tống ngục. Nửa đêm, Phaolô và Silas được cứu thoát cách kỳ lạ. Viên cai ngục xin trở lại cùng gia đình.
- Đến Thessalonica
Rời Philippê, Phaolô đến Thessalonica, thủ đô Macédoine; tại đây Do thái có hội đường và nhiều craignant Dieu. Phaolô trọ tại nhà Jason (Cv 17,5-9), làm nghề dệt vải để khỏi tạo gánh nặng cho tín hữu (1Tx 2,9). Trong ba ngày sabbat liên tiếp (Cv 17,2), Phaolô rao giảng tại hội đường. Trong khi Do thái không tin và trục xuất Ngài khỏi hội đường, thì dân ngoại ngày càng tin. Thư 1 Tx 1,9 làm chứng cộng đoàn thiết lập (1Tx 5,12-13) gồm rất nhiều người trước đây thờ ngẫu tượng.
Tức giận khi thấy nhiều người ngoại trở lại và cũng được hưởng cứu độ, những người Do thái tìm cách phá hoại Phaolô. Họ tố cáo Phaolô và các bạn trước tòa án đã làm hại đến uy quyền hoàng đế khi rao giảng về vương quyền của một Giêsu. Biết tình hình căng thẳng, và dù rất muốn ở lại lâu hơn để khích lệ đức tin của các tín hữu trước thử thách, Phaolô buộc phải ra đi (1Tx 3,5).
- Tại Bêrê
Rời Thessalonica, Phaolô, Silas và Timôthê đến Bêrê. Tại Bêrê, người Do thái có hội đường và rất nhiều người thiện cảm với đạo (craignant Dieu). Ngày sabbat đầu, Phaolô đến giảng và được tiếp nhận. Nhiều người xin theo đạo, lôi kéo thêm nhiều người ngoại khác, trong đó nhiều bà thuộc giai cấp cao. Những người Do thái tiếp tục quậy phá. Phaolô buộc phải trốn đi, để lại Silas và Timôthê chăm sóc cộng đoàn mới thiết lập. Phaolô rời Bêrê đi Athènes.
- Tại Athènes
Athènes là trung tâm văn hóa Hy lạp, nơi hò hẹn các hệ thống triết học, nhiều đền đài tôn giáo. Quảng trường Athènes vẫn là nơi hội ngộ các văn sĩ, thi sĩ, các triết gia, đặc biệt phái khắc kỷ và hưởng lạc. Họ gặp nhau để phổ biến các hệ tư tưởng, để tranh luận…
Phaolô tham quan các vùng Do thái, rao giảng tại hội đường và tản bộ trên các công trường rao giảng cho kẻ qua lại. Đến một ngày, Phaolô diễn thuyết tại quảng trường Aéropage (Cv 17). Trong diễn từ lịch sử này, Phaolô khẳng định cho dân Hy lạp đa thần biết chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng toàn năng sáng tạo vũ trụ vạn vật; Người đã bày tỏ chính mình qua tạo thành (x. Kn 13; Rm 1,19-20). Do sự hạn chế và sai lạc của lý trí, con người khi tìm kiếm Thiên Chúa, đã vấp phải nhiều sai lầm đến chỗ đồng hóa Thiên Chúa với những ngẫu tượng. Thời kỳ ấy đã qua, nay Thiên Chúa đã phái Con Một của Người nhập thể làm người, chết trên thập giá để cứu độ nhân loại. Ngài đã sống lại để khơi nguồn một sáng tạo mới. Nghe đến sự sống lại, người Hy lạp đã phản kháng. Đây là lần đầu tiên Tin mừng Chúa Kitô gặp nền văn hóa Hy lạp (đối thoại và hội nhập văn hóa).
- Tại Côrintô
Phaolô đi đến Côrintô, cách Athènes 60km. Côrintô là một thành phố gồm nhưng người đã được phóng thích tự do, số ít là những nô lệ, cựu chiến binh và một số người đến lập nghiệp. Côrintô mạnh nhờ việc giao thương giữa hai cảng Cenchrées trên biển Êgê, những vui chơi giải trí trên eo biển cuốn hút du khách, tạo cho Côrintô thành nơi ăn chơi. Côrintô còn có đền thờ Aphrodite nổi tiếng với hàng ngàn điếm mại thánh (theo sử gia Strabon). Khi đến Côrintô (khoàng 50 – 51), Phaolô gặp Aquila và Priscilla đã từ Ý đại lợi đến đây do sắc lệnh hoàng đế Claude trục xuất mọi người Do thái ra khỏi Rôma (Cv18, 2). Phaolô tạm trú tại nhà Aquila, cùng làm nghề dệt lều với nhau để sinh sống theo nguyên tắc của Phaolô (1Tx 2,9; 1Co 4,12; 9,6-18). Ngày Sabbat, Phaolô đến hội đường rao giảng cho người Do thái và Hy lạp (Cv 18,4). Phaolô gặp phải những chống đối ngày càng mãnh liệt của Do thái nơi hội đường (Cv 18,6-7). Điều này tỏ lộ qua những lời thơ sau đây gởi cho Thessalonica: “Thưa anh em, vì anh em có lòng tin, nên khi nghĩ đến anh em, chúng tôi được an ủi giữa mọi thống khổ gian truân chúng tôi phải chịu …” (1Tx 3,7-8). Trước những chống đối ấy, Phaolô rời bỏ hội đường Do thái mà đến với dân ngoại (Cv 18,6-7), trú ngụ tại nhà Titius Justus, một người ngoại kính sợ Chúa ở sát hội đường. Phaolô đạt được những kết quả khả quan trong công cuộc tông đồ. Ông trưởng hội đường Crispus cùng cả nhà trở lại (Cv 18,8; 1Co 1,14). Nhiều người khác tin và chịu phép rửa (Cv 18,8).
Nhóm người Do thái tố cáo Phaolô trước Gallion. Quan không xét xử vì sự vụ không thuộc luật pháp (Cv 18,15). Luca muốn cho thấy Rôma vẫn tôn trọng những tập tục địa phương miễn là không phương hại đến an ninh quốc gia.
Băn khoăn về giáo đoàn Thessalonica mới được thiết lập, Phaolô sai Timôthê đến thăm giáo đoàn. Khoảng hai tháng sau, Timôthê trở lại đem theo những thông tin tốt lành. Phaolô viết thơ 1Tx cảm tạ Thiên Chúa và khích lệ giáo đoàn, đồng thời chỉ trích người Do thái chống phá việc rao giảng cho dân ngoại (1Tx 2,14-16). Thư 1Tx được viết trong thời gian đầu ở Côrintô, tức khoảng năm 50. Đây là bút tích đầu tiên của Kitô giáo, chỉ cách biến cố phục sinh 20 năm. Còn một thơ thứ hai gởi giáo đoàn Thessalônica. Khi nhận định, phê bình, các tác giả nhận thấy nhiều lý chứng cho biết không phải do Phaolô viết, dù lấy lại chủ đề của thơ thứ nhất, sửa lại giọng văn, nhất là cái nhìn hoàn toàn khác về ngày thế mạt và Chúa quang lâm. Các tác giả kết luận thơ thứ hai này do một tín hữu thời sau, mạo danh Phaolô viết để dạy dỗ và huấn dụ các tín hữu, đặc biệt trong việc sống đức tin chuẩn bị ngày Chúa quang lâm.
Côrintô gồm những Kitô hữu Do thái và người ngoại trở lại. Kitô hữu gốc Do thái bối rối trước vấn đề ăn của cúng (1Cr 8). Kitô hữu gốc ngoại lại coi thường việc quan hệ đĩ điếm và khó chấp nhận giáo huấn về sự sống lại.
Trên bình diện xã hội, Côrintô là một thuộc địa Lamã, gồm người tứ xứ. Kitô hữu phần lớn là nghèo: “Anh em thử nghĩ lại xem: Khi anh em được Chúa kêu gọi, trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan, đâu có mấy người quyền thế mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không có phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr 1,26-29). Những lời trên đây cho thấy phần lớn cộng đoàn là những kẻ nghèo hèn, nô lệ. Họ thường đến dự bữa ăn của Chúa chậm trể sau suốt ngày lam lũ. Đến nơi, họ không còn gì để ăn vì mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước và như thế, “kẻ thì đói, người lại say” (1Cr 11,21).
Cộng đoàn cũng có một ít người giàu. Nếu những người nghèo dễ chấp nhận sứ điệp thập giá, những người giàu, trí thức lại đòi hỏi một giáo huấn cao hơn, đáng bị chỉ trích (1Cr 3,1). Tuy nhiên, giữa thành phần giàu cũng có những người đáng tin cậy như Aquilas và Priscilla, Chloé, Crispus, Gaius (được Phaolô rửa tội và tiếp rước Hội thánh trong nhà mình (Rm 16,23), Eraste quản lý kho bạc thành phố (Rm 16,23).
Sự chung đụng giữa nhiều thành phần khác nhau ấy tạo nên nét đặc thù của giáo đoàn Côrintô, nhưng cũng gây nhiều căng thẳng. Đã có lần Phaolô nói Đức Kitô là một chứ không bị phân chia (1Cr 1,13) để nhắc nhở tinh thần hiệp nhất và huynh đệ trong cộng đoàn (x. 1Cr 11,20s).
- Trở về Antiokia
Sau vụ Gallion, Phaolô quyết định trở về Antiokia dọc theo đường biển, ghé thăm Êphêsô và hứa sẽ trở lại. Ngài trở về Giáo hội mẹ Giêrusalem (Cv 18,18-22). Aquila và Priscilla tháp tùng Ngài đến tận Ephêsô (Cv 18,19).
Tại cảng Cenchrées, Phaolô xuống tóc vì có lời khấn (Cv 18,18). Đây là một nghi lễ thánh hiến theo tập tục Do thái (Ds 6,1-20 nói về Luật lời khấn: khấn kiêng cử rượu, chất men, cạo đầu trong một thời gian. Sau thời kỳ khấn hứa ấy, người Nadia sẽ cạo đầu trước cửa Lều Hội Ngộ và lấy tóc bỏ vào lửa đang cháy dưới của lễ). Có lẽ, Luca biết đến việc Phaolô làm lời khấn, nhưng Luca không rõ mấy về luật lệ; ông chỉ viết lại để muốn đề cao sự trung thành của Phaolô với tôn giáo và lề luật.
- Công Đồng Giêrusalem
Nếu Phaolô rời Côrintô vào mùa thu 51 thì việc quay về Antioche có thể kéo dài trong vài tháng. Như thế, ta có thể đoán công đồng Giêrusalem xảy ra vào năm 52. Mục đích là bàn cãi về luật cắt bì cho người ngoại gia nhập đạo.
Hai nguồn tài liệu giúp xem xét vấn đề: Thơ Galát 2,1-10 và Công vụ Tông đồ 15,1-35. Cần lưu ý rằng những gì Cv thuật lại đều mang nặng dấu ấn thần học của Luca; đặc biệt phần trung tâm Cv 15, 7-29 thuật lại diễn tiến của hội nghị quanh hai diễn từ mà ta chắc chắn đó là quan điểm của Luca đặt trên môi miệng của Phêrô và Giacôbê. Luca chứng tỏ mình dùng những nguồn liệu hoàn toàn độc lập với thơ Galát.
- Chứng của Phaolô
Phaolô cho biết việc Ngài đến Giêrusalem lần thứ hai này xảy ra sau 14 năm kể từ lần viếng thăm đầu tiên (Gl 2,1). Ngài đến lần này là do một mạc khải (Gl 2,2). Mạc khải nào? Ngài không nói rõ. Ta có thể hình dung ngài xuất hiện ở đây như một hành động ngôn sứ (cf. Cv 11,28; 21,4.10-11) trước vấn đề buộc hay không cắt bì cho người ngoại trở lại. Đây đã là cuộc tranh luận gay go giữa Phaolô và một số người Kitô hữu gốc Do thái. Theo Gl 2,4-5 chính tại Hội thánh mẹ Giêrusalem nổi lên sự đòi buộc gắt gao phải cắt bì cho người ngoại trở lại. Tại sao?
Khi thiết lập Giao ước với Abraham, Thiên Chúa đã coi cắt bì như dấu hiệu Giao ước (St 17,11). Luật cắt bì không chỉ nhằm trực tiếp vào con cháu, nhưng ngay cả những nô lệ sinh ra trong nhà hay được mua về và được xem như dấu hiệu gia nhập dân của lời hứa. Do thái cho rằng những người kính sợ Chúa tuân theo các giáo huấn luân lý mà không chịu cắt bì thì cũng chỉ đứng ở ngưỡng cửa cứu độ; chỉ những ai được cắt bì theo Luật dạy mới thật sự thuộc về dân được tuyển chọn. Thừa kế quan niệm ấy, các Kitô hữu gốc Do thái chủ trương người ngoại trở lại phải được cắt bì, nếu không chỉ là Kitô hữu hạng hai. Miễn chuẩn cắt bì cho họ tức tạo nên đối nghịch và làm cản trở cho việc Phúc âm hóa. Những thành viên chủ trương cắt bì còn chia làm hai: Có người cho đó là việc tối cần thiết, có kẻ nghĩ đó là việc hoàn thiện phép rửa tội.
Phaolô bày tỏ lập trường trong Gl 2,1-10. Ngài cho rằng việc cắt bì có hiệu lực không? Đâu là sự mới mẻ mà sự chết và sống lại của Đức Kitô đem đến cho nhân loại? Đâu là nền tảng của ơn công chính: việc tuân giữ Luật hay là niềm tin vào Đức Kitô? Phaolô nhắc lại chính các vị trụ cột của Hội thánh là Phêrô, Giacôbê và Gioan thảy đều nhìn nhận sự tự do của dân ngoại đối với Lề luật và không đòi hỏi gì nơi Phaolô ngoài việc lo lắng cho những người nghèo. Và Phaolô rất nhiệt tâm đáp ứng lời kêu gọi ấy.
- Công vụ Tông Đồ
Ngoài điều chính yếu là không Do thái hóa người ngoại trở lại bằng cắt bì, Công vụ nói lên 4 đòi hỏi tối thiểu để tạo nên cuộc sống hài hòa giữa Kitô hữu gốc Do thái và gốc ngoại (Cv 15,20-21.28-29; 21,25). Đó là: kiêng những thức ăn ô uế vì đã cúng cho ngẫu tượng (không dùng bữa chung với người ngoại); tránh gian dâm (Lv 16-18); kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết; kiêng ăn tiết. Luca nói rõ là Phaolô và các bạn đồng hành truyền đạt cẩn thận các huấn lệnh này trong những thành mà các ngài đi qua (Cv 16,4). Thế nhưng ta không gặp thấy nơi nào trong các thơ Phaolô đề cập đến các giáo huấn tương tự. Trong 1Cr 8-10, Phaolô nói đến việc ăn của cúng và những bữa cơm trong các đền thờ ngoại, nhưng không nói gì đến quyết định trên của Công đồng; bởi chưng với tư cách tông đồ, Ngài có đủ uy tín để dạy dỗ và huấn thị các cộng đoàn. Vậy quyết định này xuất phát từ đâu? Chắc chắn phải từ một nguồn chính thức: đó chính là Giêrusalem dưới sự hướng dẫn của Giacôbê.
Một điều đáng lưu ý nữa, đó là: Hội thánh Antiochia cử Phaolô và Banaba lên Giêrusalem gặp các Tông Đồ và kỳ mục để bàn về cuộc tranh luận khá gay go về cắt bì (Cv 15,1-2); thế nhưng trong Công đồng không hề thấy Phaolô lên tiếng, chính Phêrô giải quyết vấn đề và sau đó Giacôbê kết luận với một quyết định bốn đòi hỏi. Sau đó các Tông đồ chọn Giuđa và Sila đi theo Phaolô và Barnaba về Antiokia đem theo bức thơ quyết định của Công đồng.
III. HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO III
Sau Công đồng Giêrusalem, thì vào cuối đông năm 53 hay đầu xuân 54, Phaolô thực hiện cuộc hành trình III theo lộ trình của hành trình II để thăm viếng và ủy lạo những giáo đoàn trẻ mới thiết lập. Ngài cùng Titô, Timôthê và Êraste đi qua Galát và Phrygia. Từ Phrygia, Phaolô lên đường tới Êphêsô. Trong sứ vụ truyền giáo của Phaolô, Êphêsô chiếm vai trò quan trọng, không những vì đây là một giáo đoàn mà niềm tin chiếu tỏa đến các vùng lân cận, mà còn từ đây ngài đã viết nhiều bức thơ quan trọng. Sách Công vụ Tông Đồ chỉ ghi lại vắn tắt hoạt động của Phaolô tại Êphêsô trên hai năm, vì thế ta cần dựa trên những chỉ dẫn trong các thơ 1-2Cr và thơ Pl để có thể phác họa lại đôi điều về thời kỳ quan trọng này.
- Êphêsô
Từ cảng Coressos, một đại lộ dẫn đến đô thị Êphêsô, nổi bật với hý trường đẹp nhất Hy lạp và đền thờ thần Artêmis (nữ thần sinh sản). Công việc tế tự được giao cho hàng tư tế đông đảo. Hằng năm vào tháng tư, người ta rước kiệu nữ thần đến hý trường và tổ chức những cuộc vui chơi cuốn hút nhiều du khách. Cạnh đền Artêmis, còn nhiều đền thờ các thần Hy lạp. Tại Êphêsô có một cộng đoàn Dothái quan trọng. Quan hệ giữa Do thái và dân thành Êphêsô không mấy dễ dàng. Tuy nhiên, vua Agrippa đã ký sắc lệnh cho phép cộng đoàn Do thái được hằng năm gởi tiền dâng cúng về đền thờ Giêrusalem và giữ ngày sabbat.
- Hoạt động tại Êphêsô
Trước khi Phaolô đến Êphêsô, Appôlô đã có mặt tại đó (Cv 18,27), cùng với Aquilas và Priscilla. Chính hai vị này đã hướng dẫn giáo lý cho Appôlô (Cv 18,26). Apôllô quê ở Alexandria, có tài hùng biện và thông thạo Thánh kinh (Cv 18,24). Tại Côrintô, ông đã gặt hái nhiều thành công và thu nhận nhiều đồ (1Cr 1,12). Ông là tân tòng nhưng có tâm hồn nồng nhiệt, thường mạnh dạn rao giảng về Đức Giêsu trong hội đường (Cv 18,25-26). Tuy nhiên, ông chỉ biết phép rửa của Gioan chứ chưa đạt tới niềm tin tròn đầy Kitô giáo (Cv 18,25).
Tại đây, Phaolô còn gặp 12 môn đệ của Gioan (Cv 19,7). Phaolô đã làm phép Rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu và đặt tay ban Thánh Thần xuống trên họ (Cv 19,6).
Ta không biết rõ nguồn gốc của Hội thánh Êphêsô. Luca xác định chính Phaolô đã thiết lập (Cv 18,19-20; 19,8-10). Nhưng trước khi Phaolô đến đây, đã có cộng đoàn Kitô hữu với Aquillas và Priscilla, Appôlô, nhóm 12 môn đệ Gioan. Chẳng lẽ Aquillas và Priscilla đã không làm được gì tại đây trước khi Phaolô tới hay sao? Chẳng lẽ Appôlô rao giảng mà không có kết quả gì sao?
Để nắm bắt hoạt động của Phaolô tại Êphêsô (Cv 198-10), ta dựa trên những trình bày của Công vụ Tông Đồ và những chỉ dẫn trong các thơ 1-2Cr và Ph. Luca phân biệt hai giai đoạn:
– Rao giảng tại hội đường suốt 3 tháng (Cv 19,8). Phaolô gặp sự chống đối mãnh liệt của người Do thái cứng lòng tin. Chỉ một số ít đón nhận Tin Mừng.
– Rao giảng cho dân ngoại hơn hai năm (19,9-10). Ngài dốc toàn tâm toàn lực cho công việc rao giảng. Điều này được Phaolô trình bày trong diễn từ cho các bậc trưởng lão Milêtô (Cv 20,33). Những người ngoại trở lại cũng nỗ lực cộng tác với vị Tông đồ để đi rao giảng, nhờ đó mà nhiều cộng đoàn mới được thiết lập: Côlôsê, Laodixê, Hiérapolis.
Luca cho thấy Phaolô đạt nhiều thành quả tốt đẹp trong công cuộc rao giảng cho dân ngoại. Những người làm nghề trừ quỷ bắt chước Phaolô đọc công thức nhân danh Đức Giêsu (19,11-18), những phù thủy trở lại (19,18-20). Qua câu chuyện đám thợ bạc gây rối (19,23-40), ta ghi nhận uy thế tôn giáo và thương mại của đền thờ Artêmis, cách tổ chức hành chính và mối bận tâm về an toàn trật tự của thành phố, mối liên hệ giữa Do thái và dân ngoại, sự thù hằn ghen ghét của đám thợ bạc đối với Phaolô và thái độ của Phaolô. Phaolô dự tính cuộc hành trình kế tiếp đến Macêdoine (Cv19,21; 20,1), nên phái Timôthê và Êrastô đến trước và còn dự tính khi về Giêrusalem sẽ đi thăm Rôma và tiếp tực rao giảng tại Tây Ban Nha.
v Những thử thách
Trong 2Cr 1,8 Phaolô viết: “Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về nỗi gian truân chúng tôi đã gặp bên Asia: Chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hy vọng sống nổi”. Trong 1Cr 15,32 Ngài viết: “Nếu vì những lý do phàm trần mà tôi đã chiến đấu với thú dữ tại Êphêsô, thì điều đó nào có ích gì cho tôi?”. Vậy đâu là những gian truân thử thách mà Phaolô phải chịu? Chiến đấu với thú dữ là kiểu nói văn chương theo nghĩa biểu tượng. Phải chăng đây là điều mà 2Cr nói về sự gây rối của đám thợ bạc? Không đơn sơ như thế!
Ta hẳn biết rõ giáo đoàn Êphêsô cũng như mọi giáo đoàn bấy giờ do Phaolô thiết lập đang bị đe dọa bởi những người mà Phaolô gọi là những kẻ gieo rắc chia rẽ và gương xấu khi họ truyền bá một thứ đạo lý nghịch với lời rao giảng của Ngài (Rm 16,17-20). Trong thơ Philippê, Phaolô nói đến lối sống của một số người đối nghịch với thập giá Đức Kitô. Chúa họ thờ là cái bụng. Họ chỉ nghĩ đến những sự thế gian (Pl 3,19). Điều này phù hợp với những gì mà Phaolô nói trong thơ Rôma: “Anh em hãy coi chừng những kẻ gây chia rẽ và làm cớ vấp phạm vì đi ngược lại với đạo lý anh em đã học hỏi. Hạng người đó chẳng phục vụ Đức Kitô mà phục vụ chính cái bụng của mình” (Rm 16,17-18). Ta có thể suy luận đây chính là những người Do thái chống đối giáo lý của Phaolô, phản đối uy thế tông đồ của ngài. Họ gây biết bao khốn khó cho các giáo đoàn đến tận Êphêsô.
Đàng khác, trong Rm 16,3-5 Phaolô viết: “Hai vợ chồng Aquilas và Priscilla đã liều mất đầu để cứu mạng Ngài”. Chắc chắn Phaolô bị một thử thách đe dọa lớn hơn cả bệnh tật, nhưng không biết thử thách nào! Trong Rm 16,7 Phaolô gởi lời cám ơn Andronicus và Junia là những người cùng ngồi tù với ngài (Rm 16,7). Phải chăng Phaolô muốn nói đến việc ngài bị tù ở Êphêsô? Bởi vì chính tại Êphêsô, trong hoàn cảnh tù đày, ngài viết thơ Philippê và cho Philêmon.
Tóm lại, thử thách mà Phaolô muốn nói đến trong 1Cr 15,32 và 2Cr 1,8 là sự ghen ghét quậy phá của đám thợ bạc, sự chống đối bách hại của đám người Do thái quá khích, sự tù đày vì Đức Kitô (Pl 1,13), những bách hại về thể lý bởi những trận đòn Do thái (39 roi, 5 lần)…
v Liên hệ với giáo đoàn Côrintô
Thời gian sống tại Êphêsô, mối quan hệ giữa Phaolô với giáo đoàn Côrintô đáng ta lưu tâm. Việc giao thông tương đối dễ dàng, nên Phaolô dễ theo dõi tình hình sống đạo của giáo đoàn Côrintô. Sách Công vụ không nói gì, chỉ có các thơ 1-2Cr giúp ta khám phá những ưu tư của Phaolô đối với giáo đoàn Côrintô.
¨ 1Cr 5,9 cho biết Phaolô đã viết lá thơ đầu tiên cho Côrintô, thơ này nay đã mất! 1Cr được viết và gởi từ Êphêsô sau khi Phaolô sai Timôthê đến Côrintô (1Cr 4,17; 16,10). Sau khi Timôthê ra đi, Phaolô nhận được một thơ của giáo đoàn (1Cr 7,1) xin ngài làm sáng tỏ một số vấn đề; tiếp đó một ít người do Chloé cử đến (1Cr 1,11) thông tin hiện tình giáo đoàn. Sau cùng một phái đoàn 3 người là Stêphanas, Fortunatus, và Achaius đến Êphêsô thăm Phaolô (1Cr 16,17-18) đem lại cho ngài sự thanh thản tinh thần (1Cr 16,18).
Đọc 1 Cr, ta nhận thấy đa phần là những khiển trách, nhiều đoạn được sửa lại hoặc thêm vào, phần cuối thơ tích cực và khích lệ hơn. Thơ mang những nội dung chính sau đây: chỉ trích sự chia rẽ trong cộng đoàn ( 1,10 – 4,31; cf. 1,11), những chỉ dẫn về hôn nhân và đồng trinh (7, 1-40; cf. 7,1), làm sáng tỏ những vấn đề giáo đoàn thắc mắc: ăn thịt cúng (ch. 8-10), đặc sủng trong giáo đoàn (12-14), việc lạc quyên (16,1-7). Dựa trên những nhận định về lá thư, ta có thể nghĩ rằng 1Cr được viết và gởi vài tháng sau khi Phaolô đến Êphêsô (sau khi Timôthê đã đi Côrintô, các đại biểu Côrintô trở về) và như thế là khoảng năm 54.
Tình hình Côrintô vào thời điểm ấy không mấy sáng sủa! Phaolô lặp lại điều đã nói trong lá thơ bị mất về suy đồi tính dục (1Cr 5,9) cả về cá nhân (5,1-13) lẫn cộng đoàn (6,12-20). Ngài khẳng định tự do là để phụng sự Thiên Chúa trong thánh thiện, nhắc lại bài học của quá khứ Israel để biết đứng vững trong thử thách, giải quyết việc ăn thịt cúng (ch.10), trang phục phụ nữ trong phụng vụ (11, 2-16), thứ tự đặc sủng (ch. 12-14), thần học về sự sống lại (ch.15). Những điều đó nói lên uy thế và quyền Tông đồ của ngài.
¨ Khủng hoảng Côrintô
Tất cả đều thay đổi khi Timôthê trở về báo cho biết có ít người xuyên tạc về bản thân và uy thế tông đồ của Phaolô. Trước đây Phaolô dự tính sẽ đi Macédoine ngày Hiện xuống và đến Côrintô qua đông (1Cr16,5-8). Thế nhưng nguồn tin mới nhận được làm Phaolô thay đổi hẳn chương trình. Thơ 2Cr giúp tìm hiểu phần này.
Điều dễ nhận thấy trong 2 Cr, đó là cuối chương 9 và đầu chương 10 thiếu liên kết, đúng hơn đứt đoạn về giọng văn lẫn nội dung. Thực vậy, cuối chương 9 Phaolô khen ngợi sự nhiệt thành quảng đại của giáo đoàn Côrintô trong việc lạc quyên giúp Giáo hội mẹ. Đầu chương 10, Phaolô nại đến quyền Tông đồ thốt lên những lời đe dọa phản đối các kình địch. Xuyên suốt các chương 1-9, Phaolô bày tỏ sự hài lòng với giáo đoàn Côrintô như niềm hãnh diện (7,4), nguồn vui và an ủi vì lòng trung thành và sự gắn bó với Tin Mừng đã lãnh nhận, xứng đáng với sự tin cậy của Ngài (7, 6.11.13.16). Sau đó, trong các chương 10-13, Phaolô lại trách giáo đoàn không như lòng mong ước (12, 20) và mong họ hoán cải (12,21). Nhận định trên làm ta nghi ngờ về tính cách duy nhất của bức thơ. Từ đó, ta có thể hình dung như sau:
Khi nghe Timôthê trở về tường trình tình hình Côrintô, Phaolô quyết định đi Côrintô. Sau thời gian ngắn ngủi tại Côrintô, Phaolô đau lòng trở lại Êphêsô vì giáo đoàn đang tụt dốc và bản thân ngài bị xúc phạm (7,8-12), Ngài viết lá thơ trong nước mắt khuyên nhủ giáo đoàn ý thức và hoán cải, đồng thời kết án kẻ xúc phạm (2Cr 2,1-6). Trước khi rời bỏ Êphêsô, Phaolô giao thơ cho Titô và sai Titô đến Côrintô dàn xếp vấn đề. Phaolô dừng chân tại Troas mong gặp Titô, nhưng Titô chưa đến. Phaolô đi Macédoine (2Cr 2,12). Cuối cùng Titô đến mang theo những thông tin tốt lành như kết quả của bức thơ đã được gởi đi (7,6-16). Phaolô bày tỏ sự nhẹ nhỏm qua bức thơ mà ta có lý do giới hạn trong 2Cr 1-9. Thơ này được giao cho Titô và 2 môn đệ khác (8,16-18) đem đến Côrintô. Titô vội vã đến Côrintô triển khai việc lạc quyên (8, 6.16-17).
Ít thời gian sau khi gởi lá thơ trên, Phaolô nhận được những tin tức mới cho biết có một số người từ xa đến với thơ uỷ nhiệm (11,4; 3,1) tự xưng Tông đồ (11,5.13; 1211-12), tôi tớ Đức Kitô (11,23), truyền bá một giáo thuyết khác với những gì Phaolô đã rao giảng (11,4). Có lẽ đây là những nhà ngộ đạo. Chắc chắn Phaolô đã viết thơ gởi những Kitô hữu Do thái (2Cr 11,22) để biện minh và bênh vực cho thế giá Tông đồ của mình khi nói đến những ơn lạ mà Ngài được lãnh nhận như ơn xuất thần (2Cr 12,1-4), làm phép lạ (12,12). Ngài cũng nói lên những thành quả trong công cuộc truyền giáo (10,15-18). Ngài biện giải việc quyên góp đang bị các đối thủ công kích và khẳng định không hề lợi dụng của quyên góp này. Phaolô kết luận đó là những tông đồ giả, thuộc Satan (11,13-15). Đó là bức thơ gồm từ ch.10. Cả hai được ghép thành thơ 2Cr như ta có hiện nay. Ta không rõ lá thơ đó có kết quả gì; nhưng nếu xem xét từ khi Phaolô đến Côrintô lần đầu và đọc thơ gởi Rôma, hẳn thấy được một kết quả lạc quan, cụ thể trong việc lạc quyên huynh đệ.
- Thơ Galát
Chính thời gian lưu lại Macédoine, Phaolô viết thơ Galát. Trong hoàn cảnh nào và nguyên do nào? Sau khi Phaolô viếng thăm Galát lần thứ hai (Gl 4,13; Cv18,23), người ta thấy tại đây xuất hiện những nhà giảng thuyết đả kích việc truyền giáo của Phaolô và thế giá tông đồ của Ngài. Họ cho rằng Phaolô đã vi phạm nghiêm trọng khi chủ trương không cắt bì cho dân ngoại trở lại, rằng Phaolô không phải tông đồ đích thực của Đức Giêsu vì đã phản lại lệnh truyền của các Tông Đồ. Do đó nhóm người này tự cho mình trách nhiệm đến sửa sai.
Không rõ họ là những ai và từ đâu đến. Nhưng qua thơ Galát, ta có cảm tưởng họ là những nhân vật quan trọng thuộc Giáo hội Giêrusalem được cử đến thanh tra hoạt động truyền giáo của Phaolô. Ai cử đến? Giacôbê vị lãnh đạo đương thời của Giêrusalem thay Phêrô chăng? Có thể! Phaolô đã quyết liệt phản ứng vì coi đó như mối nguy hại cho sứ vụ truyền giáo của Ngài, cũng như cho đời sống đức tin của các Kitô hữu mới nhập đạo.
Đã có thời, thơ Galát được xếp vào loại biện minh, trong đó Phaolô biện minh cho chính mình, cho thế giá tông đồ của mình cũng như cho giáo thuyết về sự công chính nhờ bởi đức tin. Phân tích kỷ, ta khám phá ra đó là một diễn từ mang tính tranh luận với mục đích không phải biện minh mà là thuyết phục dân Galát đón nhận chân lý Ngài rao giảng và tẩy chay những sai lạc do bọn người mới tới hô hào. Khi so sánh thơ Galát với 2Cr, ta nhận thấy trong cả hai Phaolô cởi mở chính mình rõ hơn cả, nhờ đó ta có được nhiều chi tiết về đời Ngài. Từ đó, ta có thể nói Ngài viết thơ này trong khoảng thời gian đầy ưu tư băn khoăn về giáo đoàn Côrintô, nhưng không rõ Ngài viết trước hay sau thơ Côrintô.
- Thơ Rôma
Trong khoảng thời gian từ khi rời Macédoine và ghé lại sau đó (Cv 20,3), nhiều sự cố xảy đến nhưng các bản văn không đề cập đến. Theo Cv 20, 2: Phaolô tới Achaia và ở lại đó 3 tháng. Dịp này, ngài viết thơ Rôma. So sánh với Galát, thơ Rôma có nhiều điểm tương đồng nhưng được triển khai sâu xa hơn. Phaolô cho biết đã hoàn thành việc rao giảng tại các vùng phía Đông đế quốc (Rm 15,23), đã hoàn thành việc lạc quyên tại Macédoine và Achaia (15,26-27) và sẽ mang về Giêrusalem (15,28.30-31). Như thế ta có thể xác định thơ được viết tại Achaia cuối hành trình truyền giáo III, vào mùa đông 55.
Lý do nào khiến Phaolô viết lá thơ này cho một giáo đoàn không do Ngài thiết lập? Ngài hằng ao ước một lần đặt chân đến thủ đô của đế quốc và nói lên khát mong được đi truyền giáo tại một vùng đất mới là Tây Ban Nha. Ngài viết thơ này chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đó (15, 22-29). Ngài viết thơ này còn để bổ túc và triển khai những gì đã viết trong thơ Galát. Chắc chắn ngài cũng biết tình hình giáo đoàn Rôma: một giáo đoàn có đức tin chính thống, tuy nhiên trong lãnh vực mục vụ và liên đới vẫn còn nhiều điều cần được sửa chửa và bổ sung như trong 14,1-15,7. Đàng khác, Rôma là thủ đô đế quốc, Phaolô muốn chọn nơi đây để quảng bá giáo lý, để từ đó Tin Mừng dễ dàng lan đến các nơi khác.
Đầu thơ Phaolô loan báo chủ đề ngài sẽ triển khai. Ngài nhắc lại Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã nhập thể, chết và sống lại, vinh thăng. Thiên Chúa đã tỏ bày quyền năng nơi Ngài để thực hiện sự cứu độ cho mọi kẻ tin, Do thái hay dân ngoại. Sự cứu độ ấy chính là ơn công chính hóa, là sự sống vĩnh cửu được thông ban nhờ tin vào Đức Kitô chết và sống lại. Chủ đề này được Phaolô triển khai qua các điểm sau đây: Nhân loại tội lỗi tách rời khỏi Thiên Chúa và bị đặt dưới cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Thiên Chúa cứu độ bằng chính sự chết và sống lại của Đức Kitô. Điều kiện để được cứu độ là tin vào Thiên Chúa duy nhất và nhận biết Đức Giêsu chết và sống lại. Đức tin được biểu lộ và phát triển bằng đức ái. Việc cứu độ đã được Kinh Thánh loan báo. Israel từ chối, không làm thay đổi sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa.
- Trở về Giêrusalem
Đầu xuân 58, Phaolô nóng lòng muốn mang số tiền lạc quyên về cho Giêrusalem và mừng lễ Vượt Qua tại đó. Ngài quyết định rời Côrintô trở về Giêrusalem. Ngài khởi hành từ Cenchrées (Cv 20,3), nhờ nữ trợ tế Phêbê chuyển thơ cho giáo đoàn Rôma. Được biết người Do thái âm mưu sát hại, Phaolô đổi hành trình bằng cách đi ngang qua Macédoine, đem theo Timôthê, Sopatros (Rm 16,21), Aristarque (Cl 4,10; Pl 24; Cv 19,29), Gaius (Cv 19,29; 1Cr 1,14; Rm 16,23), Tychikos (Cl 4,7; Ep 6,21; 2Tm 4,12, Titô (Tt 3,12), Trophime (2Tm 4,20), Luca sẽ nhập đoàn từ Philippê.
Phaolô và phái đoàn đi qua Néapolis đến Troas thăm viếng cổ vũ giáo đoàn trẻ. Phaolô ngụ tại nhà Carpos nên đã bỏ quên lại áo khoác, sách kinh. Trong khi giảng dạy trên lầu, chàng trẻ Eutychos ngủ gật, té xuống và chết. Phaolô làm cho sống lại. Câu chuyện này gợi lại 1V 17,21; 2V 4,34.
Từ cảng Assos, Phaolô đi qua Mitylène, Chio, Samos, Trogyllion để cuối cùng cập bến cảng Milet. Phaolô gặp gỡ các vị trưởng lão giáo đoàn Êphêsô và nói bài diễn từ từ biệt (Cv 20,18-35). Ngài gợi lại sự tận tình yêu mến dành cho Êphêsô trong những năm qua dù gặp những gian truân thử thách. Sau đó, ngài báo trước những đau khổ đang chờ đợi tại Giêrusalem vì làm chứng cho Tin Mừng đến cùng. Cuối cùng, Ngài kêu gọi các trưởng lão hãy nhiệt tâm phục vụ giáo đoàn và giữ mình cũng như giáo đoàn khỏi mọi lạc thuyết. Nhất là hãy sống tinh thần phục vụ vô vị lợi mà ngài đã làm gương. Mọi người chăm chú lắng nghe lòng những bồi hồi xúc cảm nhất là khi nghe Ngài nói sẽ không còn gặp lại ngài nữa. Họ tiễn ngài đến tận chân tàu… Phaolô đến Tyrô. Bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời ngài.
- Từ Tyrô đến Giêrusalem
Con đường từ Tyrô đến Giêruslaem lần lượt ngang qua Tyrô, Ptêlêmais và Césarê (Cv21,4-5). Trên hành trình này, dưới ngòi bút sắc sảo của Luca, ta hình dung Phaolô như một Đức Giêsu đang trên hành trình tiến về Giêrusalem!
Từ Tyrô, Phaolô đáp tàu đi Ptêlêmais và lên đường đến Césarê. Phaolô nghỉ tại nhà Philippê, một trong 7 “diaconus” được thiết lập ngay từ buổi đầu của Giáo hội sơ khai. Philippê sơ tán sang Samarie khi Giáo hội bị bách hại tại Giêrusalem (Cv 8,1). Ông được Thánh Thần thức đẩy và đưa đến gặp và rửa tội cho viên quan thái giám Êthiopie (Cv 8,26-30). Hiện thời là nhà rao giảng Tin Mừng và lãnh đạo giáo đoàn tại Césarê. Philippê có 4 người con gái làm ngôn sứ (cf. Cv10,44-47; 11,15). Trong khi Phaolô nghỉ lại đây vài hôm, Agabos đến cởi thắt lưng Phaolô và cột tay chân ngài, một hành vi tượng trưng ám chỉ Phaolô sẽ bị bắt tại Giêrusalem và bị nộp cho dân ngoại (Cv 21, 10-14). Agabos là một ngôn sứ lưu động từ Giêrusalem đến Antioche (bấy giờ ngôn sứ lưu động đang phổ biến).
Rời Cêsarê, Phaolô đi Giêrusalem (21, 15). Trên đường, Phaolô ghé nhà Mason, một trong những môn đệ vào những ngày đầu tiên. Luca muốn nói lên sự liên kết thân tình giữa Phaolô với các cộng đoàn tiên khởi.
- Chứng nhân tại Giêrusalem
- Gặp gỡ Hội thánh Giêrusalem
Buổi gặp gỡ ban đầu với các Kitô hữu tại Giêrusalem diễn ra xuôi chảy. Giacôbê lãnh đạo thay cho Phêrô từ 15 năm nay, họp các vị trưởng bối đón tiếp Phaolô. Họ vui mừng lắng nghe Phaolô tường trình công việc truyền giáo cho dân ngoại với những kết quả đạt được mà việc lạc quyên giúp Giáo hội mẹ là một bằng chứng cụ thể.
Nhưng điều Giacôbê vẫn còn băn khoăn cần được làm sáng tỏ, đó là xưa nay các Kitô hữu Do thái tại Giêrusalem vẫn nghe đồn Phaolô đã rao giảng và thúc đẩy các kiều bào Do thái bỏ việc cắt bì theo luật Môisê và các tập tục tổ tiên. Mãi đến bây giờ, Luca vẫn không ngớt cố gắng minh chứng đó là những đồn đại sai sót, vì Phaolô không hề dạy bảo những kiều bào Do thái hay dân ngoại trở lại bãi bỏ Torah, Ngài chỉ khẳng định rằng ơn cứu độ không tùy thuộc vào việc tuân giữ luật Môisê và việc cắt bì (1Cr 7,19; Gl 5,6; 6,15). Điều đó có nghĩa là những Kitô hữu gốc Do thái từ nay không cần cắt bì cho con cái và tách mình khỏi những gì xưa nay được coi như luật sống. Ngoài ra, Phaolô không đồng ý với việc tách riêng, không ngồi đồng bàn với dân ngoại. Để đánh tan dư luận và không tạo nên những khúc mắc trong Giáo hội, Giacôbê đề nghị Phaolô công khai làm cuộc thệ nguyện trong đền thờ theo nghi lễ. Thực tế, Phaolô đã làm lời nguyền này nói trong Cv 18,18. Bây giờ chỉ còn phải làm phần cuối nghi thức trong hai ngày cuối cùng của tuần nghi thức 7 ngày, đó là việc thanh tẩy và dâng lễ vật trong đền thờ. Phaolô sẵn sàng cùng với 4 nazir thực hiện nghi thức này để minh chứng mình hoàn toàn gắn bó với Do thái, với Lề luật, và nhất là để bảo vệ sự hiệp nhất trong Giáo hội, như có lần Ngài đã viết trong 1Cr 9,19-20: “ Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với Do thái, tôi đã trở nên Do thái, để chinh phục Do thái”. Phaolô đã từng đưa ra nguyên tắc: Lề luật không còn cần thiết cho việc cứu độ; duy chỉ có đức tin vào Đức Kitô mới là nguồn duy nhất của ơn công chính hóa. Đưa ra giáo thuyết này, ngài không hề chống lại hoặc loại bỏ Do thái; ngài muốn đặt người ngoại được tự do trước những đòi hỏi của luật Do thái, chứ không dạy Do thái chống lại Lê luật. Hơn nữa, ngài luôn muốn làm tất cả để được lợi cho Đức Kitô. Vì thế, do lòng bác ái thúc đẩy, ngài sẵn sàng thực hiện điều Giacôbê đề nghị để tạo nên sự hiệp nhất và tránh những khó khăn trong giáo đoàn.
Giacôbê còn thông báo cho Phaolô biết những quyết định cho người ngoại trở lại, đó là không được ăn thịt cúng, giữ mình khỏi vật chết ngạt và không được uống máu. Để bảo vệ sự sống chung hiệp nhất của cộng đoàn hỗn tạp, Phaolô chấp thuận những quyết định trên, cho đến khi người ta đủ trưởng thành để hiểu biết. Trong thơ Cr và Rm, ngài cũng đã từng nói không nên ăn của cúng để tránh gương xấu cho những người còn non kém.
- Chứng tá
Trong thơ Rôma, Phaolô nói đến những người miền Giuđê ghen ghét bủa vây và đe dọa mạng sống ngài (15,31). Cv 9,29 nói người Do thái tại Giêrusalem muốn giết Phaolô. Trong thơ Thessalonica, Phaolô nói đến những bách hại do lòng ghét ghen của người Do thái trước việc tông đồ của ngài đối với dân ngoại (1Tx 2,2.14-16; 2Cr 11, 24). Những điều này giúp ta hiểu được người Do thái tại Giêrusalem coi Phaolô như một cái đinh và tìm cách sớm nhổ cái đinh ấy! Vì thế, chỉ vài ngày sau khi đến Giêrusalem, Phaolô bắt đầu đương đầu với những khốn khó. Câu chuyện xảy ra tại đền thờ Giêrusalem vào ngày cuối cùng của nghi thức thệ nguyện (Cv 21,27).
Đền thờ Giêrusalem có tiền sảnh thật rộng dành cho người ngoại. Phía trong dành cho Do thái. Trong cùng là nơi cực thánh nghi ngút khói, không người ngoại nào được vào; nếu vi phạm sẽ bị chết! Những người Do thái tố cáo Phaolô không những đã đi khắp nơi dạy những điều phạm đến Lề Luật và Nơi thánh mà cụ thể dám đưa Trophine vào nơi cực thánh (Cv 19,4). Lập tức Phaolô bị bắt và người ta điệu ngài ra tiền sảnh, đóng chốt các cửa muốn giết ông. Toán quân tuần tiểu đến can thiệp đúng lúc! Tại Giêrusalem, Rôma chốt đoàn quân 1000 lính đóng tại pháo đài Antonia bên cạnh đền thờ để giám sát đền thờ, nhất là vào những dịp lễ trọng đề phòng những vụ xách động nổi dậy.
Nghe tiếng đám đông hô hào ầm ĩ, đội tuần tiểu dưới quyền Claudius Lysias đến bắt Phaolô (23,36; 24,7.22). Trước đây có người Do thái tự xưng ngôn sứ, cầm đầu một đoàn 4000 người, tập trung trong sa mạc, nổi dậy chống Rôma, nhưng thất bại. Người cầm đầu chạy trốn với một nhóm người. Do đó, vị chỉ huy tuần tiểu tưởng Phaolô chính là người Do thái trước đây xuất hiện, ra lệnh đưa về đồn. Đám đông theo sau hò hét đòi giết (nhớ lại việc Đức Giêsu bị bắt và điệu ra trước tòa).
- Diễn từ cho Do thái
Khi sắp vào đồn, Phaolô nói bài diễn từ với đám đông Do thái (Cv 2,1-21) biện minh cho thân phận của mình là người Do thái sinh tại Tarsô, học hành tại Giêrusalem với thầy Gamaliel, trở thành biệt phái nhiệt thành với Lề luật đến nỗi bắt bớ bách hại các Kitô hữu khắp nơi. Nhưng sau đó đã được Đức Kitô phục sinh hiện ra trên đường Damas, biến đổi và sai đi rao giảng Tin mừng cứu độ cho dân ngoại. Luca đặt trên môi miệng Phaolô diễn từ này để minh chứng thái độ cứng tin của Do thái, đồng thời làm nổi bật sứ vụ Tông đồ phổ quát của Phaolô. Chắc chắn Luca nghĩ đến các độc giả Kitô hữu của mình và muốn xây dựng họ. Nếu là Kitô hữu gốc Do thái họ vẫn hãnh diện vì thuộc dân của Giao ước, nếu là dân ngoại trở lại họ càng vững tâm được cứu độ nhờ niềm tin vào Đức Kitô chứ không phải vì được sát nhập vào Do thái.
Đám đông không muốn hiểu điều Phaolô muốn trình bày, họ càng phẩn nộ muốn giết Phaolô. Vị chỉ huy đưa Phaolô vào pháo đài. Ông vẫn nghi ngờ Phaolô thuộc nhóm nổi loạn, truyền đánh đòn để lấy khẩu cung. Luật Rôma cho phép đánh đòn những người ngoại quốc và nô lệ, nhưng tuyệt đối cấm đánh đòn công dân Rôma. Phaolô cho biết ông là công dân Rôma. Viên chỉ huy lập tức cho tháo còng và giải Phaolô ra trước thượng hội đồng Do thái bấy giờ do thượng tế Ananie lãnh đạo…
Biết trong hội đồng có Biệt phái lẫn sa đốc (hai phái thường đối nghịch nhau vì Biệt phái tin vào sự sống lại còn Sađốc thì không), Phaolô xưng mình thuộc Biệt phái. Thế là sự mâu thuẫn bắt đầu xảy ra, khiến công nghị không thể quyết định được gì. Hôm sau người Do thái âm mưu giết Phaolô, nhưng Phaolô được cứu nhờ đứa cháu con bà chị tại Giêrusalem (Cv 22,16-22).
- Trước tổng trấn Festus
Vị chỉ huy giải Phaolô về Césarê cho tổng trấn Félix. Hội đồng Do thái cho người tố cáo gian Phaolô trước tòa tổng trấn(Cv 24,1-9). Phaolô tự biện hộ(Cv 24,10-21). Tổng trấn Festus thay cho Felix. Festus nhận thấy những lời tố cáo của Do thái chỉ là một số vấn đề liên quan đến tôn giáo riêng và đến một Giêsu nào đó đã chết mà Phaolô quả quyết vẫn sống(Cv 25, 19), nên đề nghị chuyển Phaolô về xử tại Giêrusalem. Phaolô với tư cách công dân Rôma kháng cáo lên hoàng đế César (Cv 25, 11-12).
- Diễn từ trước Agrippa
Vài ngày sau, nhân cơ hội vua Agrippa II, cháu của hoàng đế Hêrôđê, cùng cô em Bérénice đến thăm xã giao quan tổng trấn vừa nhận chức, quan tổng trấn Festus truyền lệnh Phaolô hầu toà, có vua tham dự. Nhân dịp này, Phaolô phát biểu bài diễn từ quan trọng trước mặt vua vốn thuộc dòng giống Do thái. Phaolô kể lại quá khứ Do thái của mình, trình thuật cuộc trở lại và sứ mệnh tông đồ của mình. Phaolô khẳng định lời rao giảng của ông gắn liền với những lời ngôn sứ loan báo sự chết và sống lại của Đấng Thiên sai. Qua diễn từ, Luca muốn làm nổi bật ba yếu tố nền tảng của lời rao giảng tiên khởi (kerygma):
– Đức Giêsu Kitô chết và đã phục sinh như Lời Kinh Thánh,
– Kêu gọi hoán cải,
– Tin vào Đức Giêsu để được tha thứ và cứu độ.
Festus làm bản báo cáo lên hoàng đế và ra lệnh áp giải Phaolô đi Rôma để được xét xử trước hoàng đế theo yêu cầu.
Về phương diện lịch sử, khó có thể hiểu việc vua Agrippa II (50-100) và bà chị Bérénice vốn ác cảm với Drusilla, vợ Félix, đến viếng thăm ngài tổng trấn. Lại nữa, để tỏ lòng tôn trọng các vị khách quý này, làm sao Festus có thể mời họ đến dự phiên tòa mà ông không thể phân xử. Sau cùng, tác giả như muốn đặt song song đoạn này với vụ án Đức Giêsu. Trong cả hai trường hợp, bị cáo được giải đến trước tòa quan tổng trấn Rôma và vua Do thái( cf. Lc 23,1-12): Philatô và Festus, Hêrôđê Antipas và Agrippa II. Họ đều liên kết chống Đức Giêsu và Phaolô( cf. 4,26-27), nhưng âm thầm nhận ra sự vô tội của bị cáo dù đứng trước nhiều lời tố cáo nặng nề.
- Chứng nhân bị xiềng xích
- Từ Césarê đến Rôma
Festus trao nhiệm vụ áp giải Phaolô đến Rôma cho đại đội trưởng Julius. Phaolô đem theo Aristarque và Luca. Khi đến Sidon, Julius cho phép Phaolô đi thăm cộng đoàn Kitô hữu tại đây. Tàu đi dọc bờ biển và 15 ngày sau cập bến Myre ở Lycie; sau đó tiến về đảo Crète. Từ Crète, sau 14 ngày đêm lênh đênh trong bão tố, tàu đắm và đoàn người đổ bộ lên đảo Malte do Publius cai quản. Tại đây, Phaolô bị rắn cắn mà không sao, làm dân bản xứ coi ngài như thần. Publius tìm nơi cho họ trú ngụ qua đông. Thời gian này, Phaolô chữa lành bệnh cho cha vợ Publius, nên được tự do thăm viếng, chăm sóc các bệnh nhân trên đảo; nhờ vậy Phaolô có cơ hội rao giảng Tin Mừng và thiết lập nền móng cho Giáo hội tại đây. Qua mùa đông, đoàn người xuống tàu đi Rôma, dừng chân tại Syracuse và Rhegium, cuối cùng đến Puteoli. Puteoli là cảng thương mại lớn nhất nước Ý thời bấy giờ. Tại đây cũng có nhóm Do thái và Kitô hữu sinh sống. Phaolô được phép đi thăm họ. Sau đó, ngài đến Rôma; dọc đường nhiều cộng đoàn đón gặp ngài. Điều này nói lên tâm tình của các Kitô hữu thuộc các giáo đoàn tại đây: dù chưa biết Ngài, nhưng cảm kích bởi những lời thơ ngài viết cho họ từ Côrintô năm 58.
- Tại Rôma
Nếu chấp nhận thời hiệu Festus làm tổng trấn Césarê năm 59/60, thì Phaolô đến Rôma khoảng tháng 4 năm 61.
Sách Công vụ kết thúc ở 28,16-30. Ngoài ít chỉ dẫn về việc Phaolô bị cầm tù tại Rôma, Công vụ không nói gì hơn. Tác giả Luca coi chương này như kết luận của toàn tác phẩm. Công vụ thuật lại hai lần Phaolô gặp Do thái tại Rôma như lặp lại một loạt các chủ đề đã trình bày trước đây: Phaolô hầu như thất bại trong việc rao giảng cho Do thái, vì thế ngài chuyển qua rao giảng cho dân ngoại. Khác với Do thái cứng lòng tin, dân ngoại rất nhiệt tình đón nhận lời rao giảng, họ trở lại và gia nhập đạo ngày càng đông. Ơn cứu độ của Thiên Chúa đến cho mọi người, mọi dân tộc. Chủ đề này được coi như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ Tin Mừng Luca đến hết Công vụ Tông đồ.
Muốn tìm hiểu vụ án kết thúc thế nào, phải nhờ đến các nguồn tài liệu khác. Các Thơ Mục vụ sẽ giúp độc giả biết về những năm cuối cùng cuộc đời Phaolô.
Theo Công vụ, Phaolô bị quản thúc tròn 2 năm tại Rôma. Thời gian này, Phaolô đã viết các thơ thường gọi là ngục thừ: Philippê, Philémon, côlôsê, Êphêsô.
¨ Thơ Philippê: Mãi đến nay, người ta nghi ngờ thư Pl được viết lúc bị giam tại Êphêsô hơn là tại Rôma.
¨ Thơ Philêmon
Phaolô viết thơ gởi Philêmôn để xin ông nhận lại Ônêsimô, nô lệ trốn thoát và được Phaolô rửa tội. Trong thơ này có đoạn Phaolô xin Philêmon thu xếp cho ngài chỗ ở vì ngài hy vọng sắp được giải thoát (Plm 22).
¨ Thơ Êphêsô
Không hiếm tác giả coi thơ Êphêsô là giả danh Phaolô. Từ Êphêsô trong địa chỉ không có trong nguyên bản; giọng văn, bút pháp, tư tưởng đều rất đặc biệt gợi lên một Phaolô khác.
¨ Thơ Côlôsê
Thời gian cuối bị cầm tù tại Rôma, Epaphras là người thiết lập cộng đoàn Côlôsê đến thăm và báo cho Phaolô biết tình hình Col đang bị giao động bởi một nhóm người đến phổ biến học thuyết nhuốm mùi triết học Hy lạp. Phaolô viết thơ Col để trình bày về Đức Kitô.
- Gặp gỡ kiều bào Do thái
Theo Cv 28,17: 3 ngày sau khi ổn định tại Rôma, Phaolô mời gặp các thân hào Do thái. Tại Rôma có khoảng 20 đến 50.000 kiều bào Do thái sống trên hữu ngạn sông Tibre. Phaolô luôn băn khoăn đến việc rao giảng cho dân của Lời hứa. Không phải họ không biết gì về Kitô giáo, nhưng chỉ biết cách hạn hẹp và sai lạc (kinh nghiệm của Phaolô trước biến cố Damas). Phaolô nhớ lại khoảng năm 44, họ đã vu khống và xúi dục quần chúng chống lại các môn đệ Đức Giêsu; do đó Claude đã ra sắc chỉ trục xuất Kitô hữu Do thái khỏi Rôma. Vì thế, cần giúp họ biết rõ! Kiều bào Do thái tò mò muốn gặp Phaolô vì từ lâu đã nghe đồn nhiều về ngài; vả lại khi thấy Phaolô bị tù nhưng lại được hưởng chế độ quản thúc, họ hiểu rằng Phaolô là công dân La mã và bản cáo trạng không có gì giá trị!
Trong cuộc gặp gỡ ban đầu này, Phaolô chỉ tóm tắt cho họ biết nội dung vụ án và bào chữa cho sự vô tội của mình; ngài bày tỏ lòng trung thành của mình với hy vọng thiên sai của dân; ngài giải thích lý do ngài đến dây. Lần gặp kế tiếp, Phaolô rao giảng cho họ về Nước Thiên Chúa mà Đấng Thiên sai đến thiết lập. Ngài bắt đầu từ Gioan tẩy giả, rồi minh chứng qua Thánh Kinh và các Ngôn sứ chính Đức Giêsu là Đấng Thiên sai đến thiết lập Nước Thiên Chúa. Ngài đã chịu chết, đã sống lại và trở thành nền tảng niềm hy vọng của những người công chính. Sau giảng thuyết, một số kiều bào Do thái đã tin, nhưng số đông vẫn cứng lòng đến nỗi Phaolô ví họ như những người cứng lòng tin thời Isaia; Vì thế ngài sẽ rao giảng cho dân ngoại vì họ cũng được mời gọi gia nhập Vương quốc.
- Gặp gỡ dân ngoại
Dưới con mắt Luca, việc Phaolô đến Rôma (tuy là tù nhân, nhưng là chứng nhân bị xiềng xích) không phải là một dừng chân, nhưng là một mở ra, khởi đầu cho thời đại Kitô giáo bung ra tràn lan đến tận cùng trái đất. Rôma là thủ đô đế quốc. Cộng đoàn Kitô tại Rôma sẽ thu phục mọi người từ khắp nơi và sẽ biến nên cộng đoàn mẫu mực cho các Giáo hội. Xưa nay Phaolô vẫn luôn có cái nhìn thật xa ấy mỗi khi chọn một nơi để hoạt động truyền giáo. Phaolô tỏ cho thấy tình trạng tù đày hiện tại của ngài có một giá trị tông đồ sâu xa. Ngài vui thích hiểu rằng chính trong gian truân thử thách, ngài được thực sự liên kết vào sự khổ đau của Đức Kitô như diễn tả trong thơ Col: “Tôi hoàn thành trong thân xác điều còn thiếu trong sự đau khổ của Chúa Kitô”. Ngài tha thiết xin các Kitô hữu đừng bao giờ để mình bị gục ngã vì những thử thách ngài gánh chịu vì họ. Thử thách gian truân là vinh quang.
Quanh Phaolô là một số các môn đệ cũng là cộng sự viên truyền giáo của ngài: Timôthê, Tychique, Arisistarque, Marc, Jesus-juste, Epaphras, Luca, Onesime. Ngoài ra còn nhiều người thuộc cộng đoàn Rôma… Phaolô chuyển cho họ ngọn lửa nhiệt tình truyền giáo. Chắc chắn trong thời gian này, Phaolô đã rao giảng và giúp nhiều người ngoại trở lại, không những trong giới bình dân, nô lệ mà con trong giới thượng lưu.
Kết thúc sách Công vụ không cho biết kết quả vụ án. Tác giả Luca chỉ muốn triển khai những giai đoạn truyền giáo từ Giêrusalem, đến Samarie và Giuđê và cho đến tận cùng trái đất (Cv1,8) theo lệnh truyền của Đức Kitô phục sinh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đối với Luca, đến Rôma là đã đến tận cùng thế giới và như thế ơn cứu độ của Chúa đã được loan báo cho hết mọi dân tộc. Kết quả vụ án thế nào? Nhiều chỉ dẫn khác nhau cho biết Phaolô được trả tự do: những báo cáo của Festus và Julius ủng hộ sự vô tội của Phaolô, trong suốt 2 năm quản thúc không thấy có chứng cớ buộc tội, những chĩ dẫn trong các Thơ Mục vụ cho biết Phaolô tiếp tục hoạt động truyền giáo cho đến lần bị bắt sau đó và bị xử án, các chứng từ thuộc truyền thống giáo phụ nói đến sự tử đạo của vị Tông đồ.
- Đi Tây Ban Nha
Theo Rm 15,24.28 Phaolô dự tính đi Tây Ban Nha sau khi đã trở về Giêrusalem mang theo tiền lạc quyên giúp Giáo hội mẹ, để từ đó ngài sẽ đi Rôma để tiếp tục hoạt động truyền giáo nơi cánh đồng mới. Thế nhưng, Phaolô đến Rôma trong hoàn cảnh bị xiềng xích khác với dự tính viết trong thơ Rôma. Sự thể xảy ra thế nào?
Được trả tự do vào mùa xuân 63, Phaolô không vội rời Rôma. Ta tự hỏi ngài nghỉ lại đó một thời gian trước khi đi Tây Ban Nha như lòng mong ước, hay đi Côlôsê như đã từng nhờ Philêmon dàn xếp chỗ ở, hoặc đi truyền giáo tại một nơi khác? Về những điều này chỉ là những giả thiết! Có tác giả cho rằng Phaolô đi Tây Ban Nha vì dựa trên lời chứng của Giáo hoàng Clément trong thơ gởi Côrintô 95-96: “Sau khi đã giảng dạy cho toàn thế giới, Phaolô đi đến biên cương phương Tây, làm chứng trước các lãnh đạo chính quyền, rồi từ bỏ thế gian này mà về nơi thánh”. Theo Clément, tận cùng trái đất là Tây Ban Nha. Việc đi Tây Ban Nha còn được xác nhận bởi tài liệu Muratori (180); “Sách Công vụ Phêrô” (190) cũng ám chỉ đến chuyến đi Tây Ban Nha của Phaolô.
- Các thơ Mục vụ
Các thơ Titô và Timôthê cho biết Phaolô âm thầm viếng thăm vùng bán đảo Ibérique, đồng thời cung cấp nhiều thông tin về những chuyến đi của Phaolô sau khi được trả tự do.
– Trong thơ gởi Titô, Phaolô nói ngài thiết lập giáo đoàn tại hải đảo Crète và để Titô lại đó để phục vụ giáo đoàn.
– Theo 1 Tm, Phaolô nói ngài đi từ Êphêsô đến Macédoine và hy vọng sẽ trở lại.
– Trong 2 Tm, Phaolô cho biết ngài bị cầm tù tại Rôma và cái chết đang gần kề. Trước đó ngài đã đi Troas, Milet, Côrintô. Ngài sai Titô đến Dalmatie, Tychique đến Ephêsô. Cuối thơ, ngài bảo Tim đến tìm gặp ngài ở Rôma, nhớ khi ngang qua Troas lấy cho ngài những đồ đã bỏ quên: áo choàng, sách và giấy..
Thật sự khó để xác định niên biểu các thơ này vì nhiều lý do: không biết có phải thơ Titô tóm kết nội dung thơ 1 Tm, không có gì chắc chắn về niên biểu hai thơ ấy, các trình thuật về các chuyến đi của Phaolô trong ba thơ không phù hợp. Nhiều tác giả nói đến sự thiếu tính đích thực của các thơ trên; có tác giả cố gắng chứng minh thơ Titô và 1Tm viết từ Êphêsô hay từ Césarê khoảng năm 54-60, còn 2Tm viết tại Césarê hay Rôma khoảng năm 58-63.
Do đó ta chỉ còn có cách là dựa trên truyền thống về thời kỳ những biến cố kể trong ba thư trên (63-67).
Thơ 1Tm được viết từ Macédoine gởi cho Timôtê. Phaolô sắp rời Êphêsô, nhưng nhận thấy tại đây có nhiều người đến thuyết giảng một học thuyết sai lạc về hôn nhân và về việc ăn uống, ngài giao cho Timôthê ở lại bảo vệ giáo đoàn. Nhận thấy Timôthê còn non trẻ, vì thế ngài viết thơ nhắc bảo.
Không biết thơ Titô được viết từ Macédoine hay không, chỉ biết trong thơ Phaolô nói muốn qua mùa đông tại Nicopolis và giao lại cho Titô trách nhiệm tổ chức và thiết lập các vị trưởng lão tại Crete.
Chắc chắn khi viết thơ 2Tm Phaolô không còn ở Macédoine, ngài đang bị tù lần 2 tại Rôma. Tuy nhiên, khi viết thơ này, ngài còn đang liên lạc được với nhiều môn đệ và trao trách nhiệm cho họ. Người ta không biết ngài bị bắt lần 2 trong trường hợp nào; chỉ biết thời gian sau này kẻ thù ghét ngài từ tứ phía luôn tìm cách ám hại ngài: người Do thái cứng tin, người Do thái quá khích, những người rao giảng sai lạc… Vì thế, ngài thường phải đổi chỗ ở. Trong thơ ngài viết mọi người bỏ ngài, ngài phải đứng ra tự biện hộ cho mình, nhưng ngài không nao núng vì Đức Kitô ban sức mạnh để ngài loan báo sứ điệp cứu rỗi trước dân ngoại đến dự phiên tòa. Ngài biết chắc sẽ bị kết án tử, nhưng ngài hoàn toàn tín thác vào Đức Kitô. Nhìn vế quá khứ tông đồ, ngài bằng lòng và hãnh diện vì đã đáp ứng điều Đức Kitô đòi hỏi và ngài tin chắc giờ đây Đức Kitô đang chuẩn bị triều thiên vinh quang cho ngài.
- Tử đạo
Clément (1 Clém 5,7) nói rằng trước khi chết Phaolô đã làm chứng cho các nhà cầm quyền. Truyền thống giáo phụ khẳng định Phaolô và Phêrô chịu tử đạo. Tertullien (giữa 200-213) xác định rõ trường hợp cái chết của hai vị Tông đồ: cả hai đều chịu tử đạo dưới triều Nêron. Phêrô bị treo ngược trên thập giá, còn Phaolô bị chém đầu. Để xác định năm tháng tử đạo, ta cần đặt cuộc hỏa hoạn Rôma do bạo chúa Nêron tạo ra vào ngày 19-7-64. Sau đó mói có cuộc bách hại để đổ lỗi cho Kitô hữu vào năm 65. Như thế cái chết của các Tông đồ Phêrô và Phaolô theo sử gia Eusèbe de Césarée xảy ra vào năm 67.
Phaolô bị chém đầu trên đường Ostie (linh mục Caius, thế kỷ III làm chứng). Nơi đây sau này sẽ mọc lên một đan viện gọi là Trois Fontaines. Các Kitô hữu chôn xác ngài gần Rôma. Ngày 29-6-258, xác ngài cùng với xác Phêrô được cải táng về khu mộ Saint Sébastien. ĐGH Sylvestre I(314-335) cho cải táng về chỗ cũ. Hoàng đế Constantin le Grand (306-337) xây dựng trên mộ đền thờ, và năm 395 biến thành vương cung thánh đường. Năm 1823 một cuộc hỏa hoạn thiêu rụi để sau đó người ta xây lại vương cung thánh đường tên “Saint Paul hors les murs”.
