danvienxitochauthuy

Toàn Dòng Xitô

LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA DÒNG XITÔ

  1. Đan tu thời đầu

Vào thế kỷ III, thánh Phaolo Ẩn Tu (229-342), thánh Anton Tu Rừng (250-356) là những Linh phụ tiêu biểu khởi xướng hình thức Tu trào Đan tu tại Đông Phương. Các ngài quyết tâm đi vào sa mạc để sống đời khổ tu và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Thánh Pacomio (293-348) là người đầu tiên thiết lập sống cộng tu và viết tu luật cho đời đan tu Kitô Giáo. Thánh Basilio (329-379), người thiết lập đời sống viện tu với điểm nổi bật là lời khấn vâng phục và lời khấn vĩnh cư, đặt dưới quyền Viện phụ, một Tu luật.

Tại Tây Phương, thánh Athanasio (296-373) là người khởi đầu mang đến cho Tây Phương hình thức ‘đời sống cộng tu’ vốn đã được thử nghiệm và đang phát triển ở Đông Phương. Thánh Gieronimo (347-420), thánh Martino (317-397), thánh Augustino (354-430), Gioan Cassiano (360-435), thánh Columbano (540-615). Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đối với đời sống đan tu cộng tu ở Tây Phương chính là thánh Biển Đức.

  1. Thánh Biển Đức (480-547)

Biển Đức sinh năm 480, tại ngôi làng Umbra miền Norcia, Italia. Lên 12 tuổi, Biển Đức được gửi đến Roma cùng với người em gái (Santa Scholastica) để theo học văn chương. Năm 17 tuổi, cùng với người vú nuôi Cirilla, Biển Đức trốn khỏi Roma, rồi rút lui vào thung lũng Aniene gần Eufide để học Giáo phụ và Kinh Thánh. Sau khi Biển Đức làm phép lạ cho chiếc bình sành đã vỡ đôi được lành lặn trở lại ở Eufide, Biển Đức đã từ giã người vú nuôi, một mình lánh vào thung lũng vùng Subiaco. Tại đây, Biển Đức sống như một ẩn sĩ trong khoảng 3 năm.

Sau ba năm này, Biển Đức đã chấp nhận làm bề trên của đan viện gần Vicovaro. Chẳng bao lâu, thánh Biển Đức từ giã họ trở về hang Subiaco tiếp tục sống ở đây trong thời gian 30 năm. Từ khi trở lại Subiaco lần thứ hai này, thánh Biển Đức đã lập được 13 đan viện, mỗi đan việc có 12 đan sĩ và một viện phụ, nhưng tất cả đều ở dưới sự hướng dẫn của thánh Biển Đức.

Tuy nhiên, vì ganh tị, linh mục Lorentio đã tìm cách quấy nhiễu, thánh Biển Đức đành chia tay Subiaco và tới định cư tại Monte Cassino. Tại đây, vào năm 529 Biển Đức đã cho ra đời một đan viện có tên là ‘Monte Cassino’, và bắt đầu cho các đan sĩ thực tập sống theo Tu Luật do ngài soạn thảo. Đặc điểm nổi bật của Tu Luật Biển Đức là tính quân bình và thực tiễn. Thánh Biển Đức qua đời năm 547.

  1. Sự ra đời của Dòng Cluny

Năm 910, một đan viện chính thức được thành lập và Viện phụ Bernone làm bề trên tiên khởi của đan viện mới này với với ý hướng theo sát tinh thần của Tu Luật Biển Đức. Đó chính là cái nôi của Dòng Cluny.

Việc canh tân đời sống đan tu ở Cluny này đã chấm dứt mọi sự can thiệp của thế quyền vào nội bộ đan viện, như: việc bầu viện phụ, tổ chức độc lập với các ông hoàng và độc lập ngay cả với các giám mục; Cluny được đặt dưới quyền trực tiếp của đức giáo hoàng. Sau Bernone, cuộc cải tổ vẫn được tiếp tục và kéo dài trên 200 năm nữa bởi nhiều vị viện phụ tài đức, trong đó có các vị thánh Odon (+942), Maieul (+994), Odilon (+1049), Hugue (+1109). Vào đầu thế kỷ XII, Cluny có tới 1.200 Đan viện với hơn 10.000 đan sĩ.

Việc canh tân của Cluny chủ yếu tập trung vào việc tuân giữ Luật Biển và tái xác định vai trò chính yếu của phụng vụ trong đời sống Kitô Giáo. Các đan sĩ xác tín rằng phụng vụ là cùng tham gia với Ca Triều Thiên Quốc ca ngợi Thiên Chúa.

Kiến trúc và nghệ thuật thánh cũng được Cluny quan tâm đặc biệt qua việc xây dựng những ngôi thánh đường nguy nga theo kiểu kiến trúc Roman, trang trí tranh ảnh biểu hiện như ‘Thánh Điện Thiên Quốc’. Ngoài ra, Cluny còn tích cực ủng hộ quyền giáo hoàng, quảng đại trong việc bác ái với người nghèo, giữ gìn nền văn hoá bằng việc sao chép các thủ bản Kinh Thánh và sách các Giáo phụ.

  1. Dòng Xitô

Dòng Xitô tuyên nhận ba Đấng Tổ Phụ: thánh Roberto (1030-1111), thánh Alberico (1109) và thánh Stephano Hardingo (1066-1134); ngoài ra, vì những đóng góp to lớn của thánh Bernardo (1090-1153), truyền thống Dòng Xitô cũng nhìn nhận ngài là ‘Thánh phụ Bernardo’.

Ngày 21.03.1098, được sự chấp thuận của Đức giám mục Hugues thành Lyon, thánh Roberto, thánh Albericô và thánh Stephano Hardingo cùng 20 đan sĩ khác rời Đan viện Molesme đến lập một Tân Đan viện ở vùng đất mang tên Cîteau (Xitô), gần Dijon, nước Pháp. Đây chính là cái nôi đầu tiên của Dòng Xitô.

Tháng 06.1099, thánh Roberto phải trở về Molesme và cũng chính thức hóa việc thành lập Tân Đan viện, đồng thời đặt thánh Alberico làm Viện phụ Tân Đan viện thay thế Viện phụ Roberto. Ngày 19.10.1100, Đức giáo hoàng Pascal II ưng thuận bảo trợ Tân Đan viện trong khu rừng Cistels. Năm 1109, khi Viện phụ Alberico qua đời, Stephano Hardingo được bầu lên kế vị Viện phụ Alberico. Ngài thiết lập bản ‘Hiến Chương Nguyên Thủy’ (La Charte Primitive) và văn liệu này tiếp tục được bổ sung cho đến năm 1119 thì trở thành bản văn chung kết cho Hiến Chương Bác Ái của Dòng Xitô; và cho đến năm 1134 thì hoàn thiện (như chúng ta có hiện nay).

Năm 1112, thánh Bernardo đã lôi cuốn được 30 bạn đồng hành cùng xin gia nhập ‘Tân Đan viện’ do Viện phụ Roberto và các bạn lập năm 1098. Năm 1113, nhà con đầu tiên được thiết lập với tên gọi đan viện La Ferté. Năm 1114 lập đan viện Pontigny và đan viện Morimond. Năm 1115, Bernardo cùng với 12 đan sĩ khác được cử đi lập đan viện Clairvaux, thánh Bernardo trở thành viện phụ tiên khởi của đan viện này.

Bernardo vẫn cộng tác tích cực giúp cho Dòng Xitô đạt tới đỉnh cao của sự phát triển về: vật chất, tinh thần, thiêng liêng; đồng thời Dòng Xitô cũng tham gia vào nhiều lãnh vực quan trọng của Giáo Hội và xã hội, đặc biệt là trong các lãnh vực: phụng vụ, nghệ thuật kiến trúc, văn hóa Âu Châu và việc bác ái đối với người nghèo. Từ năm 1124 – 1151, Dòng Xitô đạt đến con số 160 đan viện.

Từ năm 1133 đến năm 1153, dưới ảnh hưởng của Viện phụ Bernardo, các nhà con của Clairvaux liên tục được thiết lập, ngoài ra còn có rất nhiều dòng khác xin gia nhập Clairvaux. Trong 38 năm làm viện phụ, Bernardo lập được 65 nhà con. Năm 1147 có tới 29 Đan viện Biển Đức thuộc Hội Dòng Savigny gia nhập Xitô. Năm 1153, khi Viện phụ Bernardo qua đời, Dòng Xitô đã có tới 350 đan viện trên khắp Châu Âu.

Sau khi Viện phụ Bernardo qua đời (20.08.1153) và trước khi xuất hiện các dòng Hành Khất, các đan viện thuộc Dòng Xitô đã có 1600 nhà. Trong đó, có hơn 700 đan viện nam và gần 900 đan viện nữ.

Theo thống kê năm 2008, Dòng Xitô có 11 Hội Dòng Độc Lập, với 84 đan viện, 1.778 đan sĩ (trong số đó có 745 đan si linh mục); Dòng còn có khoảng 1.000 nữ đan sĩ trong 64 đan viện. Các Hội Dòng trong Dòng Xitô đều tuân thủ Hiến Pháp Chung và Hiến Chương Bác Ái của Xitô Nguyên Thủy. Tuy nhiên, mỗi Hội Dòng còn phải có một bản Hiến Pháp riêng để áp dụng cho các thành viên theo mục đích và hoạt động của từng Hội Dòng.

  1. Dòng Trappist (1664)

Cuộc cải tổ hình thành nên nhánh Nhặt Phép, trước hết được thực hiện bởi linh mục Octave Arnolfini. Năm 1605, Arnolfini trở thành Viện phụ Đan viện Châtillon. Khởi đầu, Viện phụ Arnolfini thực hiện cải tổ 2 Đan viện là Châtillon và La Chamoye. Kế đến, Viện phụ Nhà Mẹ Clairvaux là Denis Largentier cũng theo đuổi chương trình cải tổ của Arnolfini và quảng bá chương trình cải tổ này trong các Nhà Con của Clairvaux. Đến năm 1618, cuộc cải tổ đã được thực hiện trong 9 đan viện.

Nội dung của cuộc cải tổ trong giai đoạn đầu tiên này là cố gắng trở về với những đặc tính nguyên thủy của Dòng Xitô thế kỷ XII: ăn chay, thinh lặng tuyệt đối, làm việc chân tay, nghèo khó và đơn giản trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống đan tu.

Việc cải tổ đạt được hiệu quả tốt nhờ gương mẫu sống động của Viện phụ Clairvaux là Denis Largentier. Ngài bắt đầu cải tổ ngay trong chính bản thân ngài, không bằng một hình thức cưỡng bách nào. Ngài đã lôi kéo Cộng đoàn Clairvaux theo ngài với nếp sống nhiệm nhặt.

Nhân vật tạo nên tinh thần Trappe là Viện phụ Rancé (1626-1700), người khởi xướng cải tổ Dòng Xitô và thành lập ‘Nhánh Xitô Nhặt Phép’ năm 1664.

Hiện nay, Dòng Xitô Nhặt Phép hiện diện tại nhiều quốc gia trên thế giới với 2.600 nam đan sĩ trong 99 Đan viện, và 1883 nữ đan sĩ trong 66 đan viện.

CÙNG CHUYÊN MỤC