danvienxitochauthuy

Dẫn Nhập Vào Các Thư Gioan (Raymond E. Brown)

Chuyển Ngữ: Bênađô Trần Nghiêm

Trích dịch từ: “An Introduction to the New Testament

Tác giả: Raymond E. Brown

THƯ THỨ NHẤT CỦA GIOAN

 

Về văn phong và từ ngữ, có rất nhiều điểm tương đồng giữa 1 Gioan và Gioan đến nỗi không ai có thể nghi ngờ rằng chúng có chung một truyền thống. Thật vậy, 1 Gioan trở nên có ý nghĩa nhất nếu chấp nhận nó được viết ra ngay sau Tin Mừng xuất hiện,[1] khi cuộc chiến với hội đường và “những người Do Thái” không còn là vấn đề lớn nữa. Tuy nhiên, sự mâu thuẫn giữa các Kitô hữu trong cộng đoàn Gioan bấy giờ đang bắt đầu bùng nổ do các quan điểm khác nhau về Đức Giêsu. Cả hai nhóm đều chấp nhận lời tuyên xưng trong Tin Mừng, nói: Ngôi Lời là Thiên Chúa; nhưng họ không đồng quan điểm về tầm quan trọng của những gì Ngôi Lời đã thực hiện trong thân phận xác phàm – theo con đường Người “bước đi”. Nhóm này cảm thấy các hành động của Người đặt ra tiêu chuẩn đạo đức buộc phải tuân theo; nhóm kia cho rằng, chỉ cần tin vào Lời Chúa là đủ, và những điều các Kitô hữu làm không quan trọng hơn những điều Đức Giêsu đã làm. Trong phần Phân tích Tổng Quát, chúng ta sẽ thấy sự biện phân đó được xác nhận theo cách nào; sau đó các phần phụ sẽ được dùng để nói về Việc Biên soạn (tác giả, năm biên soạn, cấu trúc), Vấn đề cần suy tưThư mục.[2]

Phân tích Tổng quát thông điệp

Như được giải thích ở cuối chương này, cấu trúc của 1 Gioan có liên quan đến cấu trúc của Tin Mừng Gioan.

Lời Tựa (1,1-4)

Lời tựa này khá giống với bản phác thảo nguyên thuỷ của Lời Tựa trong Tin Mừng Thứ Tư. Chúng tôi nói “nguyên thủy”, vì chắc chắn chúng tôi không tìm thấy ở đây sự rõ ràng như trong Tin Mừng. Nổi bật là tầm quan trọng của đại từ “chúng tôi”, ấy là những người mang trên mình truyền thống và những người giải thích Trường phái Gioan (trang 369 ở trên), những người đã lưu trữ và đưa ra nhân chứng (bằng mắt thấy tai nghe) của Người Môn Đệ Chúa Yêu. “Lúc khởi đầu” trong 1 Ga 1,1 (không giống như “lúc khởi đầu” trong Ga 1,1) đề cập đến sự khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu, nơi mà nhân chứng như vậy đóng vai trò quan trọng. Đối tượng của việc làm chứng là “lời sự sống”, nhưng nhấn mạnh đến “sự sống” hơn là “lời nói” – một sự sống đã được mọi người biết. “Lời” trong Lời Tựa của 1 Gioan ít được nhân cách hóa như trong Lời Tựa của Gioan; vì dù “lời sự sống” trong 1 Gioan muốn nói nhiều hơn tin tức hay sứ điệp về sự sống thần linh, nhưng nó không bằng Ngôi Lời nhập thể, Đấng chiếm hữu và ban sự sống trong Tin Mừng Thứ Tư. “Lời,” có nghĩa là lời công bố sự sống thần linh (câu 2) được tỏ bày trong và qua Đức Giêsu, tạo thành aggelia hay “thông điệp” của 1 Ga 1,5; chương 3,2 cho phép độc giả tham dự vào sự sống này, và vì vậy hiệp thông[3] với Thiên Chúa hằng sống. Mối hiệp thông này (câu 3-4) là cội rễ của niềm vui Kitô giáo và là yếu tố thiết yếu cấu thành cộng đoàn Gioan (“với chúng ta”).

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: Rất có thể là sau Tin Mừng theo thánh Gioan; do đó khoảng năm 100 SCN. Gửi cho các Kitô hữu Cộng đoàn Gioan, những người đã trải qua một cuộc ly khai.

TÍNH XÁC THỰC: Chắc chắn là do một tác giả theo truyền thống Gioan, có lẽ không phải do người chịu trách nhiệm về phần lớn Tin Mừng.

TÍNH THỐNG NHẤT: Đại đa số các học giả nghĩ về các thành phần đều thống nhất; Luận đề của Bultmann về các nguồn kết hợp có rất ít người theo.

TÍNH TOÀN VẸN: “Johannine Comma” hoặc các tài liệu nói thêm về Chúa Ba Ngôi trong 5,6-8 (ghi chú 14 dưới đây) là một bản chú thích thần học tiếng Latinh thế kỷ 3-4; hoặc không có các phụ thêm vào.

 

BỐ CỤC CHÍNH THỨC:

1,1-4:           Lời Tựa

1,5-3,10:       Phần thứ nhất: Chúa là ánh sáng và chúng ta phải bước đi trong ánh sáng

3,11-5,12:     Phần thứ hai: Hãy bước đi như con cái của Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta trong Đức Kitô.

5,13-21:        Phần Kết thúc.

PHẦN MỘT: THIÊN CHÚA LÀ ÁNH SÁNG VÀ CHÚNG TA PHẢI BƯỚC ĐI TRONG ÁNH SÁNG (1,5-3,10)

Sứ điệp của 1 Gioan mở đầu (1,5-7) bằng cách nhắc lại quan điểm của Cộng đoàn Gioan về một thế giới được chia đôi: ánh sáng và bóng tối (x. Ga 3,19-21), Thiên Chúa như là ánh sáng của người công chính.[4] Bước đi trong ánh sáng và hành động theo sự thật đảm bảo mối hiệp thông với nhau và “với Người”, vì máu của Đức Giêsu tẩy sạch tội lỗi. 1 Ga 1,8-2,2 đề cập đến những người rao giảng sai lầm, những người không nhìn nhận việc làm sai trái của mình là tội lỗi. Các tín hữu chân chính thì nhìn nhận hoặc công khai thú nhận tội lỗi của mình,[5] vì chính vì thế mà Đức Giêsu phải đền bù tội lỗi. (Hãy lưu ý đến sự nhấn mạnh giá trị cứu độ của cái chết của Đức Giêsu, một chủ đề chỉ được thấy trong một vài đoạn ở Tin Mừng Gioan.) Tuyên bố mình vô tội là biến mình thành kẻ nói dối Thiên Chúa; nói dối là đặc tính của Satan (Ga 8,44). 1 Gioan không có ý khuyến khích phạm tội, nhưng nhắc nhở chúng ta rằng, nếu chúng ta phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Paraclete ở với Chúa Cha: “Đức Giêsu Kitô là Đấng công chính.”[6] Tuân giữ các giới răn và do đó làm hoàn hảo tình yêu Thiên Chúa là chủ đề của 1 Ga 2,3-11. (Không rõ tác giả muốn nói đến tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, hay tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa, hoặc cả hai.) Cụ thể, điều răn yêu thương anh em đồng loại (“anh em”) được nhấn mạnh như trong Ga 13,34; 15,12.17. Dù đây là một điều răn cũ nơi các Kitô hữu trong cộng đoàn Gioan đã biết ngay “lúc đầu” khi họ mới theo Đức Kitô, nhưng nó mới theo nghĩa: nó vẫn chưa được thực hành đầy đủ và hiệu quả trong thế giới được Đức Giêsu giải thoát khỏi quyền lực bóng tối. (“Ánh sáng thật đã tỏ rạng” trong 2,8 lặp lại Ga 1,9.)

Là một đoạn văn hùng hồn nhưng bí ẩn, 1 Ga 2,12-14 hai lần sử dụng ba tiêu đề gán cho những người nhận thư.[7] “Người con bé nhỏ” có thể được hiểu là cách xưng hô chung cho tất cả các Kitô hữu Cộng đoàn Gioan, bao gồm “các bậc phụ huynh” (những người đã trở thành Kitô hữu lâu hơn và do đó biết Đấng vẫn có từ lúc khởi đầu) và “các bạn trẻ” (các Kitô hữu mới đây, những người đã chiến đấu và chiến thắng Ác thần). Mệnh đề theo sau nói về mỗi tên gọi bắt đầu bằng hoti, một liên từ có nghĩa là hoặc là “điều đó,” thông báo cho một nhóm tương ứng, hoặc là “bởi vì,” đưa ra những lý do về những gì mà nhóm lẽ ra đã biết. Tư tưởng về cuộc đấu tranh chống lại Ác thần dẫn đến một sự lên án mạnh mẽ thế gian (2,15-17) và những cám dỗ của nó: nhục dục của xác thịt, dục vọng của đôi mắt, và thói cậy mình có của.[8] Bản chất nhất thời của thế gian dẫn tới chủ đề chiến đấu với Ác thần, tên phản Kitô (hay nhân vật phản Thiên Chúa; x. 2 Tx 2,3tt.) Viễn tượng khải huyền trong 1 Ga 2,18-23 cho thấy cuộc chiến này đã diễn ra để chống lại tác giả và các Kitô hữu chân chính trong cộng đoàn Gioan do các thầy dạy giả hiệu (là những tên phản Kitô) và những kẻ theo họ, những kẻ đã rời khỏi Cộng đoàn. Satan là kẻ nói dối trắng trợn nhất, và dấu ấn của hắn trên những ai phủ nhận Đức Giêsu là Đấng Kitô (chúng đã đến trong thế gian rồi – xin xem 1 Ga 4,3). Tuy nhiên, tác giả bức thư không nhất thiết kể cho con cái mình điều này vì họ được xức dầu bởi Đấng Thánh (nghĩa là từ Chúa Cha, Chúa Con, hoặc cả hai?). Sự xức dầu này đã đến từ lúc ban đầu (2,24-27) – có lẽ là sự tiếp nhận Thánh Thần khi họ trở thành Kitô hữu – khiến họ không cần được các thầy giả hiệu dạy như thế nữa, vì các tín hữu chân chính vừa có sự sống đời đời vừa có sự thật khi họ ở lại trong đó.

1 Ga 2,28-3,3 đề cập đến chủ đề về sự xuất hiện của Đức Kitô, cả hai đều kết thúc ở phần giờ sau đã bắt đầu trong 2,18 và chuyển sang ý tưởng về sự hợp nhất với Thiên Chúa và Đức Giêsu. Trong khi Tin Mừng Gioan tương đối ít nhấn mạnh đến ngày quang lâm, hoặc ngày trở lại của Đức Giêsu trong ngày tận thế (x. 5,26-29; 14,1-3), thì chủ đề đó nổi bật trong 1 Gioan. Mối liên kết giữa ngày cánh chung hiện tại của Gioan và cánh chung cuối cùng của 1 Gioan chính là: dù Đức Giêsu, người công chính, đã hiện diện với tất cả các tín hữu sống công chính, nhưng sự thông hiệp trọn vẹn chỉ có thể có vào ngày quang lâm cuối cùng của Người. Sự thông hiệp hiện tại với Đức Giêsu giúp người ta tự tin đối mặt với sự trở lại của Người trong ngày phán xét (hoặc trong cái chết hoặc vào ngày tận thế). 3,1 đưa ra lời đảm bảo chắc chắn: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa.” Thánh Phaolô nói về ơn làm nghĩa tử (Gl 4,15; Rm 8,15); một khái niệm thậm chí còn táo bạo hơn được đưa ra trong 1 Ga 3,4-10: Chúng ta là con cái Thiên Chúa vì mầm sống của Thiên Chúa sinh ra chúng ta (x. Ga 1,12-13). Con cái Thiên Chúa và con cái ma quỷ rõ ràng là khác nhau bởi vì con cái Thiên Chúa hành động ngay chính và yêu thương anh chị em của mình.[9]

 

PHẦN HAI: BƯỚC ĐI NHƯ CON CÁI THIÊN CHÚA TÌNH YÊU (3,11-5,12)

Ở đầu Phần Một (1,5), tác giả viết là đã tuyên bố aggelia hoặc thông điệp dưới dạng ánh sáng; bây giờ 3,2-18 tuyên bố thông điệp tình yêu. Nó sử dụng mẫu người Cain, trong 3,15 và lập luận rằng: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân.”[10] Ngược lại, Đức Kitô đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, và vì vậy chúng ta phải sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì anh chị em của mình (3,16). Đặc biệt, đòi hỏi cụ thể nói rằng: những ai có phương tiện thì phải giúp đỡ “anh em đang gặp khó khăn” cho thấy rằng những kẻ ly khai là những thành viên giàu có hơn trong Cộng đoàn và do đó được đánh đồng với thế gian. Lặp lại Ga 14,15,21; 15,12,17, cần phải tuân giữ các giới răn, đặc biệt là giới răn yêu thương, được khắc sâu trong 1 Ga 3,19-24: “Chúng ta phải tin vào danh Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Người đã ban cho chúng ta” – chính là những quan điểm về đức tin và thực hành mà các thầy dạy giả hiệu còn thiếu.

1 Ga 4,1-6 đưa ra một bài trắc nghiệm:nhờ hoa trái của họ, anh em sẽ biết họ” để phân biệt các ngôn sứ giả khi họ dám tuyên bố họ được Thánh Thần hướng dẫn. Chúng ta biết có Thánh Thần của Thiên Chúa, cũng có tinh thần của tên phản Kitô, và mọi người được-Thánh-Thần-hướng-dẫn; vì thế, những ai nhận ra Đức Giêsu Kitô đã trở nên xác phàm đều thuộc về Thiên Chúa.[11] Đây là nguyên tắc thực tế hơn: “Ai biết Thiên Chúa thì nghe chúng ta” trở thành cách phân biệt thần khí sự thật với thần khí dối trá.[12] Dĩ nhiên, người ta có thể đoán những kẻ ly khai đang hướng đến một cuộc bút chiến chống lại tác giả và những người theo ông, vì họ có thần khí dối trá.

Tuy nhiên, 4,7-21 đột ngột trở về chủ đề yêu thương nhau với lời tuyên bố rất ấn tượng: “Thiên Chúa là tình yêu” (tương tự như “Thiên Chúa là ánh sáng” trong Phần Một: 1,5). Chúng ta biết điều này không phải vì chúng ta có sáng kiến yêu mến Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa đã có sáng kiến trước khi Người sai Con Một đến thế gian để chúng ta được sống và cứu chuộc chúng ta – một tình yêu Thiên Chúa dành cho tội nhân (x. Ga 3, 16; Rm 5,8). Sự trong sáng và vẻ đẹp của tư tưởng này xuất hiện trong 1 Ga 4,12: “Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ[13]; Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo.” Để thực tế hơn, tác giả đưa ra một bài trắc nghiệm khác: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình (Kitô hữu), người ấy là kẻ nói dối.”

Mối liên kết chặt chẽ giữa các chủ đề của Gioan được minh họa qua cách sống đức tin, tình yêu và các điều răn trong 5,1-5. Trước đây chúng ta đã nghe nói rằng sự vô tội và sự công chính là các dấu chỉ của những người được Thiên Chúa sinh ra (3,9-10); bây giờ chúng ta được biết rằng tất cả những ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô đều được Thiên Chúa sinh ra và sẽ chiến thắng thế gian – một chiến thắng nhờ đức tin. (Hãy lưu ý rằng, “đức tin” ở đây dường như liên quan đến một sự tuyên xưng thuộc Kitô học.) Mặc dù rất hùng hồn tuyên bố: ba chứng nhân trong 5,6-8, tức là Thánh Thần, nước và máu, nhưng đều không rõ ràng và dường như lặp lại Ga 19,34 khi máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô bị đâm thâu, một Dấu Lạ của Thánh Thần (Ga 7,38-39).[14] Sự nhấn mạnh đến lời chứng cứu độ của Đức Giêsu bằng việc đổ máu có lẽ là để chỉnh những kẻ ly khai, những người đã nhấn mạnh đến mọi hiểu biết về hành động cứu độ của Đức Giêsu vào lúc Người chịu phép rửa và được Thánh Thần ngự xuống.[15] Sau này, việc sử dụng đoạn văn có tính bí tích này trong bối cảnh phụng vụ đã khám phá ra những ám chỉ về Phép rửa và bí tích Thánh Thể như là làm chứng cho niềm tin vào Đức Kitô. Phần Hai của 1 Gioan kết thúc ở 5,9-12 bằng cách nhấn mạnh việc chấp nhận lời chứng Thiên Chúa như vậy dẫn đến niềm tin vào Con Thiên Chúa và có sự sống (vĩnh cửu).

KẾT LUẬN: 5,13-21

Ngay cả khi tác giả Tin Mừng Gioan đã chọn làm rõ mục đích của mình khi viết (Ga 20,31: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.“) và trong thư tác giả cũng viết như vậy: “Tôi đã viết những điều đó cho anh em là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời” (1 Ga 5,13). Liên kết với chủ đề đó là sự thúc giục cầu nguyện để tội nhân có thể có sự sống vì những lời cầu nguyện như vậy sẽ được lắng nghe. Tuy nhiên, có một ngoại lệ quan trọng: tác giả không thúc giục cầu nguyện cho những người phạm “tội trọng,”[16] dường như đó là tội tham gia vào nhóm ly khai, vốn là một hình thức bội giáo.

Ba lời công bố long trọng “Chúng ta biết” được đưa ra trong 5,18-20 khi tác giả quay trở lại quan điểm nhị nguyên của mình, nơi Thiên Chúa và những người do Thiên Chúa sinh ra chống lại với Ác thần và thế gian nằm trong tầm kiểm soát của hắn. Điều bảo đảm cho việc biết Thiên Chúa và sự thật là nhận ra rằng Con Thiên Chúa đã đến. Rất có thể Người là “là Thiên Chúa thật và là sự sống đời đời” ở cuối câu 20 của chương 5 đề cập đến Đức Giêsu, vì vậy 1 Gioan kết thúc giống như Gioan (20,28) với sự khẳng định rõ ràng về thần tính của Đức Kitô. Lời kêu lên đầy ngẫu hứng ở phần kết của 1 Gioan: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần!” (5,21), khiến những kẻ ly khai nghĩ đến quan điểm sai lầm của họ về Đức Kitô là một hình thức thờ ngẫu tượng.

Việc Biên Soạn

Tác Giả: theo truyền thống, người ta cho rằng cùng một tác giả đã viết Tin Mừng Gioan và ba Thư Gioan. Có rất nhiều điểm tương đồng giữa 1 Gioan và Gioan, như đã được chỉ ra trong phần Phân tích Tổng quát.[17] Thật vậy, nhiều câu khẳng định trong 1 Gioan có thể được đặt vào miệng Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan, và sẽ không có cách nào để phân biệt giữa chúng và những lời thực sự được gán cho Người trong Gioan. Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt đáng ngạc nhiên:

  • Lời Tựa của 1 Gioan không nhấn mạnh đến sự nhập thể của Lời được nhân cách hóa như đã làm trong Lời Tựa của Tin Mừng Gioan; đúng hơn, Lời Tựa của 1 Gioan làm chứng cho lời (thông điệp) sự sống đã được nhìn thấy tận mắt, nghe thấy và cảm nhận – công nghiệp làm người của Đức Giêsu.
  • Thư 1 Gioan gán cho Thiên Chúa những đặc điểm mà Tin Mừng Gioan gán cho Đức Giêsu, ví dụ, trong 1 Ga 1,5 Thiên Chúa là ánh sáng (x. Ga 8,12; 9,5); trong 1 Ga 4,21 và 2 Ga Thiên Chúa ban điều răn yêu thương nhau (x. Ga 13,34).
  • Trong Thư ít nhấn mạnh đến Thánh Thần như một ngôi vị, còn thuật ngữ “Paraclete” trong Tin Mừng không bao giờ được dùng để chỉ Thánh Thần. (Đức Kitô là Đấng bênh vực hoặc biện hộ ở 1 Ga 2,1). Có lời cảnh báo rằng mọi thần khí không phải luôn là Thần Khí Sự Thật hay Thần Khí của Thiên Chúa, và vì vậy mọi thần khí phải qua trắc nghiệm (4,1.6).
  • Thuyết cánh chung cuối cùng ở 1 Gioan mạnh hơn ở Tin Mừng Gioan; ở Tin Mừng, thuyết cánh chung được nhận thức là sự thống trị. Còn 1 Gioan nhấn mạnh nhiều đến ngày quang lâm như là lúc mình phải chịu trách nhiệm đối với đời sống Kitô hữu của mình (1 Ga 2,28-3,3).
  • Đặc biệt về từ ngữ, các tài liệu Biển Chết thậm chí còn gần nghĩa với 1 Gioan hơn trong Tin Mừng Gioan.[18]

Một số điểm khác biệt này khiến cho các Thư có vẻ nguyên thủy hơn so với Tin Mừng, nhưng có lẽ chúng phản ánh yêu sách của tác giả là muốn trình bày Tin Mừng “từ lúc khởi đầu” (1 Ga 1,1; 3,11). Nhìn chung, người ta cho rằng, có lẽ không phải cùng một người đã viết các Thư và Tin Mừng. Do đó, một số người phân biệt rằng, có ít nhất bốn nhân vật trong Trường phái Gioan là tác giả: Người Môn Đệ Chúa Yêu (ông là nguồn của truyền thống), người đã viết phần chính của Tin Mừng, vị kỳ mục đã viết các Thư, và người biên tập Tin Mừng.

Ngày Biên Soạn và Cơ Hội Để Viết. 1 Gioan đã được Polycarp và Justin biết đến và do đó chắc chắn đã có trước năm 150 SCN. Nó viết trước bao nhiêu năm và có liên quan gì đến Tin Mừng Gioan và Thư 2-3 Gioan? Hầu hết các học giả nghĩ rằng các Thư Gioan được viết sau Tin Mừng.[19] Chính xác hơn, tôi sẽ đặt 1-2 Gioan vào một thập kỷ sau khi phần chính của Tin Mừng được viết (khoảng năm 90) nhưng trước khi người biên tập soạn Tin Mừng (có thể cùng thời với 3 Gioan, chỉ sau năm 100). Điều đặc biệt làm cho 1-2 Gioan khác biệt với Tin Mừng là sự thay đổi trọng tâm. “Những người Do Thái”, đối thủ chính trong Tin Mừng, không nói tới; và mọi sự chú ý đổ dồn vào những kẻ lừa dối, những người đã ly khai khỏi Cộng đoàn,[20] và với việc làm đó, họ đã cho thấy thiếu tình yêu thương dành cho các anh chị em trước đây của mình. Những “tên phản Kitô” như thế đã dụ dỗ những người ủng hộ tác giả về nhiều vấn đề:

(a) Đức tin. Những kẻ ly khai phủ nhận hoàn toàn giá trị của Đức Giêsu như là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (2,22-23). Vì khi họ trở thành Kitô hữu cộng đoàn Gioan, tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nên có lẽ việc phủ nhận của họ muốn nói rằng, họ đã phủ nhận tầm quan trọng trong sự nghiệp làm người của Đức Giêsu khi không tuyên xưng Người là Đấng Kitô đã trở nên người phàm (4,3).[21] Có lẽ họ nghĩ rằng ơn cứu độ chỉ đến từ đường vào thế gian của Con Thiên Chúa, vì vậy các hoạt động có tính lịch sử của Đức Giêsu không có tầm quan trọng cứu độ hay mẫu mực nào. Đặc biệt, dường như họ đã bỏ qua cái chết đẫm máu của Đức Giêsu như là một hành động của tình yêu và của sự đền bù tội lỗi, một chủ đề mà tác giả nhấn mạnh (1,7; 2,2; 4,10; 5,6).

(b) Đạo đức. Họ (có lẽ là cùng một nhóm) tự hào về việc hiệp thông với và biết Thiên Chúa nhưng lại bước đi trong bóng tối và không tuân giữ các giới răn (1,6; 2,4); thật vậy, họ không nhận ra mình đã phạm tội (1,8, 10; 3,4-6). Lập trường đạo đức này có lẽ liên quan đến vấn đề Kitô học của họ: nếu phủ nhận tầm quan trọng về những gì Con Thiên Chúa đã làm trong xác phàm sau nhập thể, thì họ cũng phủ nhận tầm quan trọng về những gì chính họ đã làm trong xác phàm sau khi trở thành con cái Thiên Chúa nhờ đức tin. Tác giả khẳng định rằng con cái thực sự của Thiên Chúa tránh được tội lỗi (3,9-10; 5,18) qua hành động công chính và tuân giữ các giới răn, đặc biệt là giới răn yêu thương đồng loại (3,11,23; 2 Ga 5). Con cái Thiên Chúa phải bước đi trong sự thanh khiết và yêu thương giống như Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã làm (1 Ga 2,6; 3,3,7; 4,10-11.

(c) Thần Khí. Dường như các nhà lãnh đạo ly khai tự xưng là thầy dạy và thậm chí là ngôn sứ, được Thần Khí hướng dẫn. Tác giả phủ nhận nhu cầu thầy dạy (2,27) và cảnh báo chống lại các ngôn sứ giả: “Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không” (4,1). Có Thần Khí Giả Dối dẫn dắt những tên phản Kitô, và Thần Khí Sự Thật dẫn dắt tác giả và những người theo ông (4,5-6).

Đã có những người nỗ lực để nhận diện những kẻ ly khai trong 1-2 Gioan và “những kẻ lạc giáo” đã được biết. Ví dụ: những người theo lạc giáo ảo thân thuyết bị Ignatiô Antiokia tấn công (khoảng năm 110); họ đã phủ nhận Đức Kitô là con người thật; hoặc ông Cerinthus (được Irênê mô tả là một đối thủ của Gioan), ông cho rằng Đấng Kitô, một hữu thể thiêng liêng, đã nhập vào Đức Giêsu, một người bình thường, sau khi chịu Phép rửa và lìa khỏi Người trước khi Người chịu đóng đinh vào thập giá;[22] hoặc những người theo thuyết ngộ đạo ở thế kỷ thứ 2, coi thế gian và xác thịt như một sự lừa dối. Tuy nhiên, những  kẻ được coi là “lạc giáo” như vậy có lẽ là hậu duệ sau này của những kẻ lầm lạc được thấy trong 1-2 Gioan. Những kẻ lầm lạc đó (được minh hoạ ở ba tiêu đề trên) chắc chắn là một sự phóng đại của các Kitô hữu cộng đoàn Gioan về một số đặc điểm nào đó trong Tin Mừng Thứ Tư. Chẳng hạn, Tin Mừng miêu tả sự nhập thể của Con Thiên Chúa tiền hữu, Đấng cứu độ con người bằng chính đường vào thế gian của Người như là ánh sáng – bất cứ ai đến với ánh sáng đều không bị lên án và không có tội (Ga 3,16-21; 9,39-41). Vì mọi người dường như được cứu độ nhờ đức tin vào sứ vụ của Đức Giêsu, nên Gioan không nhấn mạnh đến cái chết của Đức Giêsu mang tính cứu độ. Tin Mừng ít giáo huấn về lòng đạo đức ngoại trừ dạy điều răn yêu thương nhau. Theo Ga 14,16-17,26; 16,13, Đấng Paraclete (Đấng Bảo Trợ) hoặc Thần Khí Sự Thật ngự trị trong mỗi tín hữu, dẫn người đó đến với sự thật toàn vẹn.

Dù có thể mở rộng các chủ đề Tin Mừng như vậy sẽ tạo ra các quan điểm của những kẻ ly khai, nhưng tác giả của 1-2 Gioan tuyên bố rằng quan điểm của ông, chứ không phải quan điểm của những kẻ ly khai, đại diện cho “Tin Mừng” thật được khẳng định từ lúc khởi đầu.[23] (Từ được dịch là “thông điệp” trong 1 Ga 1,5 và 3,11 là aggelia, có thể tương đương với từ “Tin Mừng” hoặc euaggelion trong Gioan.) Ông viết với tư cách là thành viên của Trường phái Gioan để làm chứng cho truyền thống bắt nguồn từ Người Môn Đệ Chúa Yêu – một đại  từ “chúng ta” nói đến từng cá nhân hoặc liên hợp với nhau đã nghe, đã thấy tận mắt, chiêm ngưỡng và cảm nhận Chúa Giêsu, hiện thân của sự sống Thiên Chúa (1,1); một đại từ “chúng ta” nói đến những người biết tầm quan trọng của việc Đức Giêsu đã sống (bước đi) trong xác phàm và chết vì tội lỗi như thế nào. Sự khác biệt tư tưởng so với Tin Mừng được mô tả ở trên mang ý nghĩa như một phản ứng chống lại việc giải thích Tin Mừng sai lầm của những kẻ ly khai.

THỂ LOẠI VÀ KẾT CẤU VĂN CHƯƠNG

Các học giả không đồng thuận với nhau về cả hai vấn đề. Về thể loại, 1 Gioan không có đặc điểm nào của hình thức thư từ.[24] Có thể đây là một lời khuyến khích bằng văn bản nhằm giải thích các chủ đề chính của Tin Mừng Thứ Tư dưới ảnh hưởng của sự tuyên truyền của nhóm, nhóm này chắc có một sự thuyết phục nào đó và tiếp tục lôi kéo các tín hữu. Có lẽ nó đã được lưu hành trong chính cộng đoàn Kitô hữu của Gioan (ở Êphêxô chăng?), nơi Tin Mừng được viết ra và tác giả đã sống ở đó.

Về kết cấu,[25] tác giả không cung cấp dấu hiệu nào rõ ràng về lược đồ. Ông lặp đi lặp lại, và sử dụng những câu chuyển ý thuộc cả phần trước và phần sau. Giả thuyết của Bultmann cho rằng, tác giả có một nguồn ban đầu (được viết bằng các phép thơ đối đáp). Ông đã sử dụng nguồn đó để viết 1 Gioan[26], nhưng có rất ít người theo dõi; rồi hầu hết mọi người nghĩ rằng, thư 1 Gioan như một tác phẩm thống nhất. Có bố cục ba phần khá nhiều (ba phần: phần trước là Lời Tựa và phần sau là Phần Kết)[27] Tuy nhiên, những ai tin 1 Gioan là bản giải thích Tin Mừng Thứ Tư thì ủng hộ bố cục hai phần tương ứng với bố cục của Tin Mừng. Lời Tựa của 1 Gioan (1,1-4) dẫn giải bài ca ngợi là Lời Tựa Tin Mừng (Ga 1,1-18), và Phần Kết của 1 Gioan (5,13-21) vẽ nên chủ đề của Phần Kết đầu của Tin Mừng trước khi hành động (Ga 20, 30-31 ). Hai Phần chính của Thư được đánh dấu nơi câu: “Đây là lời loan báo ” (aggelia, “thông điệp”) trong 1,5 và 3,11. Phần Một (1,5-3,10) định nghĩa Tin Mừng “Thiên Chúa là ánh sáng” và nhấn mạnh nghĩa vụ phải bước đi trong ánh sáng. Phần Hai (3,11-5,12) định nghĩa Tin Mừng “Chúng ta hãy yêu thương nhau” và nêu lên Đức Giêsu là tấm gương về tình yêu dành cho anh chị em Kitô hữu của mình.

Các Vấn Đề Cần Suy Gẫm

(1) Cũng như với Tin Mừng Gioan (trang 333 trên đây), Thư 1 Gioan cũng đang tranh luận về việc liệu văn bản có nên được in theo dạng bán văn thơ hay không. BEJ đã làm như thế vì người ta có thể chia bản văn tiếng Hy Lạp của Gioan thành những dòng có ý nghĩa với độ dài tương đối giống nhau và khớp với nhau theo nhịp điệu không chuẩn lắm.

(2) Đôi khi sự mô tả của Thư 1 Gioan về thế gian trong 2,15-17 bị chỉ trích là quá tiêu cực, như thể tác giả quên rằng Thiên Chúa đã tạo dựng ra thế gian và thấy rằng thế gian này thật tốt đẹp. Dù sao đi nữa, Thư 1 Gioan đang mô tả thế giới được Thiên Chúa sáng tạo và sau đó đã bị tội lỗi làm hoen ố. Hơn nữa, có lẽ một thế hệ “với những điều đang diễn ra” cần phải nhớ rằng, việc kết án sự ham muốn xác thịt và nhục dục không thể bị loại bỏ đơn giản chỉ dựa trên “Triều đại Hoàng kim”, nhưng phải dựa trên nguồn gốc sâu xa của truyền thống Giuđêa-Kitô giáo.

(3) Một số người thấy hầu như có một sự mâu thuẫn trong việc Thư 1 Gioan nhấn mạnh đến tình yêu (“Thiên Chúa là tình yêu”) và việc khước từ cầu nguyện cho những người phạm tội chết (5,16c). (So ​​sánh việc Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan khước từ cầu nguyện cho thế gian trong Ga 17,9.) Nhận diện điều ác và những kẻ làm điều ác không phải là kiêu ngạo; nhưng các Kitô hữu nên cẩn thận khi khẳng định những người như vậy tự bản chất là xấu xa và không nên cầu nguyện cho họ.

 

THƯ THỨ HAI CỦA GIOAN

 

Chúng tôi thấy rằng khi khẳng định về thể loại và cấu trúc của 1 Gioan là không phải là điều dễ dàng. Không có vấn đề tương tự với 2 và 3 Gioan; chúng gần như là những mô mẫu điển hình về các thư cổ ngắn gọn, có độ dài gần nhau, có lẽ được xác định bằng cách đo theo một tờ giấy cói. Sau phần Bối cảnhPhân tích Tổng quát, tôi dành các phần phụ để nói về Các Kỳ mục, Các Vấn Đề Cần Suy Ngẫm Thư Mục.

Bối Cảnh

Thư thứ 2 và 3 Gioan giống nhau về hình thức, đặc biệt là ở Phần Mở đầu và Kết thúc. Cả hai đều mô tả tác giả là một “Kỳ mục.” Thư thứ 2 Gioan có những điểm tương đồng về nội dung với Thư thứ nhất Gioan (không có hình thức thư), đặc biệt là trong các câu 5-7 nhấn mạnh đến giới răn yêu thương nhau (= 1 Ga 2,7-8) và lên án những kẻ giả dối đã vào thế gian như là tên phản Kitô, họ phủ nhận Đức Giêsu Kitô trở nên xác phàm (= 1 Ga 2,18- 19; 4,1-2).[28] Vì vậy, mặc dù tác giả của 1 Gioan không tự nhận mình như thế, nhưng hầu hết các học giả đều nghĩ rằng vị Kỳ mục đã viết cả ba tác phẩm này – người ta dựa trên nền tảng của 1 Gioan để nói đó là Người Môn Đệ Chúa Yêu.

Thư 2 Gioan được gửi cho một Cộng đoàn Gioan ở xa trung tâm. Những kẻ ly khai chưa đến đó, nhưng họ đang trên đường đến (2 Ga 10-11). Vị Kỳ mục hướng dẫn Cộng đoàn đó (một Bà Được chọn và con cái của bà) không được để những thầy dạy giả hiệu như thế “vào nhà” (giáo hội tại tư gia, nơi Cộng đoàn gặp nhau). Sự xuất hiện của các sứ giả: một số thuộc vị kỳ mục, một số thuộc nhóm ly khai, những người này hẳn đã gây bối rối cho các Cộng đoàn Gioan xa xôi như vậy. Làm sao họ biết ai là người mang đến sự thật cho đến khi họ cho phép các sứ giả nói? Và đến lúc đó, sự nguy hại đã xảy đến!

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: cùng thời với 1 Gioan, do đó khoảng năm 100 SCN. Mục đích gửi cho các Kitô hữu của một Cộng đoàn Gioan bị đe dọa vì sự xuất hiện của nhóm ly khai.

TÍNH XÁC THỰC: tác giả bức thư này thuộc truyền thống Gioan, ông cũng đã viết Thư 3 Gioan và có lẽ cả Thư 1 Gioan.

TÍNH THỐNG NHẤT VÀ TOÀN VẸN: Không có tranh luận nhiều.

BỐ CỤC CHÍNH THỨC:

A. Công thức Mở đầu: 1-3

B. Nội dung: 4-12

4: Diễn tả niềm vui được lưu truyền

5-12: Thông điệp

C. Công thức Kết thúc: 13.

Phân Tích Chung Thông Điệp

Công thức Mở đầu (câu 1-3). Người gửi và Người nhận trong Praescriptio[29] được diễn đạt ngắn gọn: “Tôi là kỳ mục, kính gửi Bà đã được Thiên Chúa tuyển chọn, và con cái Bà,” tức là, theo nghĩa bóng, một giáo hội địa phương không tên và các thành viên [30] chịu ảnh hưởng của vị kỳ mục. Việc vị kỳ mục hướng dẫn giáo hội đó và các con cái của “Bà được chọn” gửi lời chào (câu 13) cho thấy ông ta là một nhân vật có thẩm quyền trong một giáo hội khác của Gioan (có lẽ là giáo hội mẹ thành lập giáo hội của người nhận). Lời chào “ân sủng, lòng thương xót và bình an” (câu 3), viết theo thói quen của thư Kitô giáo (“ân sủng, lòng thương xót” trong 13 Thư; chữ “bình an” được thêm vào ở 1-2 Tm), cùng với phần thêm vào có trong thư Gioan là sự thật và tình thương.

Diễn tả niềm vui được lưu truyền (câu 4). Theo thể thức thư từ, lời khẳng định về niềm vui thường là lời dẫn vào phần Nội dung của bức thư (và ở đây là phần “Mở đầu Nội dung”), và ở đây, việc Chúa Cha đề cập đến một giới răn trong câu 4 có liên quan đến việc giải thích giới răn trong câu 5. Có lẽ vị kỳ mục vui mừng khi thấy “một số con cái của Bà, những người sống trong sự thật” trong câu 4, câu này có ý là tỏ dấu dễ chịu (captatio benevolentiae), sử dụng từ “một số” chung chung (“những người đã gặp”), chứ không phải chính xác (“một số nhưng không phải tất cả”).

Sứ điệp (cc. 5-12). Nhấn mạnh ở các câu 5-6 về giới răn yêu thương và sự cần thiết phải bước đi trong giới răn lặp lại những động lực đạo đức chính của Thư 1 Gioan. (giới răn không phải mới mà là đã có từ đầu, xin xem 1 Ga 2,7-8; về giới răn từ Chúa Cha, xin xem 1 Ga 4,21; 5,2-3; về việc bước đi, xin xem 1 Ga 1,6.7; 2,6,11; về tình yêu liên quan đến sự trung thành với các giới răn, xin xem 1 Ga 5,3.) Tương tự như thế, động lực về Kitô học trong 1 Gioan được lặp lại trong sự nhấn mạnh của 2 Ga 7, nói về việc nhận biết Đức Giêsu đến trong xác phàm, là dấu hiệu để phân biệt giữa những kẻ mà vị kỳ mục công nhận là những đứa con yêu dấu và những kẻ lừa dối phản Kitô đã đi vào thế gian (x. trang 390 ở trên). Giáo huấn nguy hiểm của kẻ phản Kitô, rõ ràng là đang hiện diện trong 1 Gioan, đang sắp xuất hiện giữa những người nhận Thư 2 Gioan, bị tác giả cảnh báo nên nhìn lại chính mình (câu 8) và không nên nhận vào “nhà (giáo hội tại gia)” những người có giáo lý khác (cc. 10-11). Nếu không, họ có thể đánh mất những gì họ đã làm được và sẽ làm điều ác. Các đối thủ (hiện tại hoặc tiềm năng) được mô tả trong câu 9 là “cấp tiến” (nghĩa đen là “đi quá xa và không ở lại trong giáo huấn của Đức Kitô”). Điều này tương ứng với lập luận trong 1-2 Gioan rằng, tính Kitô học và đạo đức học của tác giả tượng trưng cho những gì đã có từ đầu.[31] Sự khác biệt được coi là cốt yếu được khẳng định trong câu 9: “Phàm ai đi quá xa, không ở lại trong giáo huấn của Đức Ki-tô, thì không có Thiên Chúa!”

Khi kết thúc phần Nội dung hoặc thông điệp bức thư trong câu 12, vị kỳ mục có một thói quen: một lời cáo lỗi vì  phải tóm tắt những gì đã viết (trong 3 Ga 13-14 cũng vậy). “Hy vọng có thể đến với anh em” được dùng theo cùng một quy ước, và không giống như đang đe dọa bằng hình phạt, dù tấm lòng mục tử của vị kỳ mục sẽ sung sướng nếu mọi việc được trôi chảy. “Để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” lặp lại trong 1 Gioan 1,4, rõ ràng là niềm vui đó bắt nguồn từ koinonia giữa các Kitô hữu cộng đoàn Gioan với nhau và với Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô.

Công Thức Kết Thúc (câu 13). Việc vị kỳ mục gửi lời chào không phải của mình mà là của một Bà trong giáo hội Chúa Kitô chứng tỏ rằng bức thư này đã được gửi đi, không phải như một chỉ thị cá nhân, mà là một phần trong kế hoạch của “chúng ta”, những người chúng ta đã được nghe trong 1 Ga 1,1-4.

Các Kỳ Mục

Các thư Tân Ước khác cung cấp tên riêng của tác giả hoặc người viết, đôi khi có thêm chức danh xác định “Tông đồ” hoặc “tôi tớ”. Thư 2-3 Gioan là những mẫu thư Kitô giáo duy nhất được thu thập từ giai đoạn 50-150 SCN về người gửi thư đưa ra một tiêu đề hoặc một chức danh nhưng không có tên riêng. Người ta có thể cho rằng, trong một nhóm Kitô hữu gắn bó chặt chẽ với nhau, người nhận có lẽ đã biết tên riêng của người gửi; tuy nhiên, việc định danh “kỳ mục” có lẽ là một thói quen và / hoặc một sở thích của tác giả do cả nhóm hoặc do cả hai phía quy ước. (Người ta có thể thắc mắc liệu những chức danh đáng kính có phải là một đặc điểm của Gioan không, vì trong Tin Mừng Gioan, những nhân vật quan trọng mang tính biểu tượng như Người Môn Đệ Chúa Yêu và mẹ của Đức Giêsu không bao giờ được gọi bằng tên riêng). Tác giả Thư 2 Gioan muốn nói gì khi tự đưa ra danh hiệu ho presbyteros (“kỳ mục/trưởng lão”)? Chúng ta thấy rằng vị kỳ mục có tiếng nói rất uy quyền về truyền thống trước các Kitô hữu khác trong cộng đoàn Gioan và giả dụ khi ông đến thăm, họ sẽ mong muốn nghe ông nhiều hơn. Trong Thư 3 Gioan, vị kỳ mục cử các nhà truyền giáo và yêu cầu Gaiô tiếp nhận họ dù chính quyền khu vực, Điốtrêphét, không có thiện chí. Với tất cả những điều này, người ta có ấn tượng rằng vị “kỳ mục” có uy tín nhưng không có thẩm quyền xét xử. Nếu ông viết Thư 1 Gioan, rất có thể, ông thuộc thành phần của nhóm “chúng ta” trong cộng đoàn Gioan, những người nói về truyền thống đã có ngay từ đầu. Bức tranh này được phác hoạ nơi thư Gioan làm sao để phù hợp với những gì chúng ta biết về “các vị kỳ mục” ở các nơi khác? Ít nhất có năm ví dụ khác nhau về việc sử dụng từ “kỳ mục hay trưởng lão” giữa các Kitô hữu sơ khai đã được cung cấp theo dạng tương đương.[32]

(a) Một người đàn ông lớn tuổi có phẩm chất và có tầm quan trọng. Đây là cách giải thích được ưa chuộng giữa những người nghĩ rằng tác giả là Người Môn Đệ Chúa Yêu. Theo truyền thống, người này được biết là chết ở tuổi già (Ga 21,22-23). Tuy nhiên, chữ “chúng ta” của Gioan nói trong Ga 21,24 rõ ràng khác với nhân vật đó, và vị “kỳ mục” thuộc về nhóm “chúng ta” trong cộng đoàn Gioan nếu giả thiết ông ấy viết Thư 1 Gioan.

(b) Các vị trong giáo hội (nhiều người trong họ cũng mang danh là episkopos), những người theo các nhóm chịu trách nhiệm quản lý các giáo hội địa phương vào cuối thế kỷ thứ nhất, như đã được thấy trong Cv 20,17; Ga 5,14; 1 Pr 5,1; 1 Tm 5,17; Tt 1,5; 1 Clemente 44,5.[33] Tuy nhiên, các tác phẩm của Gioan không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào về cấu trúc giáo hội liên quan đến các với kỳ mục presbyteroi được thấy qua các tác phẩm đó.

(c) Một trong Mười hai Tông đồ, như được thấy khi 1 Pr tự mô tả mình trong 1 Pr 5,1 là “sympresbyteros” hay “anh em kỳ mục.” Papias (EH 3.39.4) nói về Philípphê, Tôma, Giacôbê, Gioan và Mátthêu như là presbyteroi. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp này, tên riêng, chứ không phải chức danh, cho chúng ta biết rằng các Tông đồ có liên quan; hơn nữa không có đề cập đến “Tông đồ” nào có thẩm quyền trong truyền thống Gioan.

(d) Một người bạn đồng hành của Đức Giêsu, không phải là một trong Mười hai Tông đồ, cũng được thấy sử dụng trong Papias, người này, sau khi nói về các thành viên trong Nhóm Mười Hai, đã nói về Aristion và presbyteros của Gioan, các môn đệ của Chúa, người có tiếng nói rất uy quyền.

(e) Một môn đệ của các môn đệ Đức Giêsu và là một nhân vật thuộc thế hệ thứ hai, người đóng vai trò là người truyền lại truyền thống có từ thế hệ thứ nhất. Irênê (AH 4.27.1) tuyên bố: “Tôi đã nghe biết điều đó từ một vị kỳ mục nào đó, người đã nghe điều đó từ những người đã gặp các Tông đồ và từ những người làm thầy dạy.”

Trong lý thuyết biên soạn được đưa ra ở trang 371, 374-76 ở trên, ở đó có một trường phái Gioan gồm các tác giả tiếp tục nói về Người Môn Đệ Chúa Yêu, chính ông có lẽ phù hợp với nhân vật ở mẫu (d), cho dù ông có được gọi là “kỳ mục” hay không, trong khi tác giả Tin Mừng, tác giả các thư và người biên tập Tin Mừng có thể phù hợp với nhân vật ở mẫu (e). Vì vậy, đây là mẫu cuối cùng phù hợp nhất cho việc sử dụng từ “kỳ mục” trong Thư 2 và 3 Gioan.

Vấn Đề Cần Suy Gẫm

Hãy lưu ý đến sự phân tích được đưa ra ở 2 Ga 10-11 nói về những người bị tác giả coi là thầy dạy dối trá: họ đừng đón vào nhà và cũng đừng chào hỏi người ấy. Nhiều khả năng, các nhà truyền giáo đi thăm từng nhà riêng không xảy ra, nhưng là những ai muốn đi đến với giáo hội tại gia (Rm 16,5; 1 Cr 16,19; Plm 2; Cl 4,15) để giảng hay dạy. Quan điểm mà theo đó mọi người nên bị phạt thay vì trao cơ hội truyền bá những điều hay hành vi sai trái cũng được thấy ở Mt 18,17; 1 Cr 5,3-5; Tt 3,10-11; và Kh 2,2.[34] Một cách nào đó, thái độ này có thể bắt nguồn từ lý tưởng do Đức Giêsu thiết lập: “Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Ga 13,20). Chúng ta thấy cách giải thích nghiêm khắc điều đó có thể dẫn đến đâu khi với kiểu lôgíc Latinh, Tertullianô khẳng định rằng, những kẻ dị giáo không có quyền nại vào Kinh Thánh,[35] và các Kitô hữu sau này kết luận rằng, cách an toàn nhất để đảm bảo chắc chắn khi những tư tưởng lạc giáo không được phép phổ biến là đã giết chết những kẻ lạc giáo. Thật vậy, khi tác hại rõ ràng cho người khác, thì ngay cả lòng bác ái cũng bị giới hạn; Tuy nhiên, sự loại trừ quyết liệt nhân danh chân lý thường phản tác dụng đối với những người thực hành nó. C. H. Dodd đã từng chất vấn: “Liệu chân lý có thắng thế hơn nếu chúng ta loại trừ những người có quan điểm về chân lý khác với quan điểm của chúng ta – dù họ sai lầm nghiêm trọng đến mức nào?

 

 

 

 

 

THƯ THỨ BA CỦA GIOAN

 

Cuốn sách ngắn nhất trong Tân ước và rất giống với 2 Gioan về hình thức, về văn phong, về tác giả và độ dài. Tuy nhiên, 3 Gioan hoàn toàn không giống 1-2 Gioan về chủ đề. Không có ai phê phán về sự lãnh đạm đạo đức hay sai lầm Kitô học, mà chỉ phê phán về các mối tương quan phức tạp của giáo hội liên quan đến quyền bính của đối thủ – một tình huống rất khó nhận xét. Sau phần Phân tích tổng quát mô tả những điều được đề cập trong thư, tôi sẽ dành các phần phụ để nhận xét chi tiết về tình huống, Vấn đề cần suy gẫm và Thư mục. Hiện tại, thông tin bề mặt sau đây là đủ: trong một Cộng đoàn có Điốtrêphét nào đó, đã nổi lên là một lãnh đạo, đã quyết định tránh xa những người truyền giáo lưu động, kể cả những người thuộc vị kỳ mục. Việc ông khước từ đón tiếp khách khiến vị kỳ mục viết Thư 3 Gioan cho Gaiô, có vẻ như là một người giàu có ở Cộng đoàn lân cận. Gaiô đã ân cần tiếp khách tạm thời, nhưng vị kỳ mục muốn ông đảm nhận trách nhiệm lớn hơn trong việc giúp đỡ những nhà truyền giáo, bao gồm cả Đêmếtriô nổi tiếng, người sẽ đến nay mai.

Phân Tích Tổng Quát Thông Điệp

Công Thức Mở Đầu (câu 1-2). Phần về Người gửi và Người nhận (câu 1) là phần ngắn nhất trong Tân ước, nhưng rất giống với các thư thế tục thời bấy giờ. Lời chúc sức khỏe (câu 2) cũng là một nét đặc trưng trong Phần Mở Đầu của các thư thế tục, nhưng vị kỳ mục mở rộng mối quan tâm của mình sang lợi ích thiêng liêng của Gaiô – mối liên hệ giữa linh hồn và thể xác (x. Mt 10,28). Rõ ràng vị kỳ mục xem Gaiô là người rất biết cảm thông.

Diễn tả niềm vui được lưu truyền (c. 3-4 ). Như với Thư 2 Ga 4, đây là phần chuyển ý sang phần Nội Dung (“Phần Mở Đầu Nội Dung”). Niềm vui khi biết rằng Gaiô đang bước đi trong sự thật, niềm vui này hơn thông thường, bởi vì vị kỳ mục đang ngầm nâng đỡ Gaiô trái với Điốtrêphét, người mà ông đã đề cập đến trong câu 9. Chứng cớ đã được “các anh em”, những người đã đến với vị kỳ mục, đưa ra cho Gaiô. Kết hợp với các câu 5-6, điều này cho thấy rằng vị kỳ mục đã liên lạc với một nhóm nhà truyền giáo lưu động: một số thuộc các nhà truyền giáo và một số thuộc các chứng nhân tai nghe mắt thấy về tình hình trong giáo hội.

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: Có lẽ viết sau 1-2 Gioan, phản ánh những nỗ lực để giải quyết tình huống được mô tả trong các thư đó; Thư 3 Gioan có thể liên quan đến sự phát triển mục vụ trong Tin Mừng Gioan 21 và do đó được viết ngay sau năm 100 SCN.

Gửi cho Gaiô, một Kitô hữu cộng đoàn Gioan, thân với vị kỳ mục, bởi vì Điốtrêphét không thân thiện, người đã nắm quyền lãnh đạo (trong một Cộng đoàn lân cận).

TÍNH XÁC THỰC: Bởi một tác giả theo truyền thống Gioan, người này cũng đã viết 2 Gioan và có lẽ là cả 1 Gioan.

TÍNH THỐNG NHẤT VÀ TOÀN VẸN: Không có tranh luận nhiều.

BỐ CỤC CHÍNH THỨC:

A.   Công thức Mở đầu: 1-2

B.    Nội dung: 3-14

3-4: Diễn tả niềm vui được lưu truyền

5-14: Thông điệp

C.    Công Thức Kết thúc: 15.

Sứ điệp (cc. 5-14). Trong “các anh em” ở các câu 5-6, Gaiô nổi bật là một người hiếu khách, thuộc Cộng đoàn của vị kỳ mục. Các anh em được gửi đến cho Gaiô; và vị kỳ mục yêu cầu Gaiô giúp họ tiến xa hơn trong đường lối của họ. Ở đây, chúng ta được thấy một bức tranh về các nhà giảng thuyết ban đầu của Đức Kitô, những người đã lên đường vì “Danh Chúa”, cẩn thận khước từ sự hỗ trợ của Dân ngoại (c. 7), và do đó, những người này phụ thuộc vào sự trợ giúp của các Kitô hữu địa phương quảng đại (cc. 5 và 8). Theo cách diễn tả đẹp đẽ của vị kỳ mục (c. 8), những người giúp đỡ họ đã trở thành “bạn đồng hành trong chân lý.” Nếu bức thư này kết thúc ở câu 8, thì chúng ta sẽ đơn giản cho rằng Gaiô hoặc là một Kitô hữu giàu có nhất trong Cộng đoàn (nhưng tại sao không có một bức thư nào gửi cho Cộng đoàn [như 2 Gioan] với lời khen ngợi Gaiô?) hoặc là một Kitô hữu chính thức hay không chính thức lãnh đạo Cộng đoàn. Tuy nhiên, trong các câu 9-10, một tình huống phức tạp hơn nhiều bất ngờ được cho biết; vì một Điốtrêphét nào đó “thích ăn trên ngồi trước” trong giáo hội[36] không chú ý đến vị kỳ mục[37] và đã phớt lờ lá thư của vị kỳ mục. Ngoài ra, Điốtrêphét tuyên truyền những điều vô nghĩa xấu xa về vị kỳ mục, từ chối đón tiếp “anh em” (tức là những nhà truyền giáo rõ ràng được vị kỳ mục sai đi), cản trở những người muốn đón tiếp anh em và trục xuất họ khỏi Hội Thánh! Người ta khó có thể tưởng tượng ra một sự loại trừ triệt để nào hơn đối với thẩm quyền của vị kỳ mục.[38] Người ta có lẽ mong vị kỳ mục tức khắc ra lệnh loại bỏ hoặc tẩy chay Điốtrêphét, nhưng lời thúc giục tương đối nhẹ nhàng đừng bắt chước làm điều dữ (c. 11) cho thấy rằng vị kỳ mục đã không dùng thẩm quyền cũng như quyền lực thực tế để hành động chống lại Điốtrêphét. Thay vào đó, ông viết thư cho Gaiô tán thành một nhân vật có tên là Đêmếtriô (c. 12). Rõ ràng ông này là một nhà truyền giáo mà thư này là lá thư giới thiệu ông.[39]

Giống như trong 2 Ga 12, vị kỳ mục kết thúc Phần Nội dung hoặc thông điệp của bức thư ở câu 13-14 với lời cáo lỗi vì phải tóm tắt điều đã viết và hy vọng sẽ sớm gặp lại Gaiô.

Công thức Kết Thúc (câu 15). Thư 2 Gioan nói về các con cái của một Bà Được chọn trong giáo hội gửi lời chào Bà; Còn Thư 3 Gioan nói “các bạn yêu quý ở đây” (tức là người ở giáo hội của vị kỳ mục) gửi lời chào Gaiô và các bạn yêu quý ở đó, “đích danh từng người một.”

Phán Đoán Tình Hình

Trớ trêu thay, chỉ có tác phẩm trong Nội dung Gioan liệt kê tên riêng của các Kitô hữu trong cộng đoàn Gioan (Gaiô, Điốtrêphét, Đêmếtriô[40]) nhưng lại không chính xác khi nói về mối liên hệ của những người này với nhau và với vị kỳ mục như thế nào. (a) Gaiô. Ông có tiếp đón những người vừa bị Điốtrêphét khước từ hay Điốtrêphét khước từ tiếp đón những người mà Gaiô đang giúp đỡ? Hầu hết các học giả chọn ý thứ nhất, nhưng tại sao vị kỳ mục lại phải nói với Gaiô về Điốtrêphét? Để nhấn mạnh theo lối hùng biện hay sao? Gaiô có lẽ không phải là thành viên của giáo hội tại gia của Điốtrêphét (ghi chú 1 ở trên); và Gaiô, người mà vị kỳ mục thích, có lẽ không phải là người đứng đầu của một giáo hội tư gia khác – một chức vụ bị vị kỳ mục lên án ở câu 9. Nói cách khác, vị kỳ mục có lẽ đang đề cập đến hai hội thánh có tổ chức khác nhau. (b) Điốtrêphét. Ông có nhiều lỗi như là: thích ăn trên ngồi trước trong giáo hội, không tôn trọng vị kỳ mục, khước từ chào đón “các anh em” (rõ ràng là vị kỳ mục phái các nhà truyền giáo đi), cản trở và trục xuất những người có lòng hiếu khách đó. Nhiều người cho rằng ông, nhờ tước vị hay chính danh, là một mẫu gương giám mục nổi bật được Ignatiô Antiôkia (trang 398 trên đây) mô tả là người nhiệt tình. Sự nổi bật của ông đã gây rắc rối trong bối cảnh của cộng đoàn Gioan, nơi rất ít chú trọng đến hệ thống giáo hội. Ngược lại, tác giả kỳ mục đại diện cho lớp kỳ cựu trong cộng đoàn Gioan, trong đó có lẽ có một “Trường phái” gồm những người gìn giữ truyền thống nhưng đây không phải là những người quản lý cộng đoàn có thẩm quyền.[41] (c) Đêmếtriô. Một nhà truyền giáo nổi tiếng (có nhiều tiếng tốt) đang đến gặp Gaiô, mang theo Thư 3 Gioan hoặc ngay sau khi Cộng đoàn vừa nhận được Thư. Mức độ quan trọng của việc làm chứng cho ông phản ánh quan điểm của vị kỳ mục về lòng hiếu khách, đó là cần phải mở rộng lòng hiếu khách để Tin Mừng có thể được công bố.

Chúng ta không thể chắc chắn về tất cả các lý do dẫn đến sự mâu thuẫn giữa vị kỳ mục và Điốtrêphét; nhưng theo đánh giá của tôi, bức thư sẽ rất có ý nghĩa nhất nếu cả hai nhân vật này đều chống lại những kẻ ly khai. Nếu chúng ta cho rằng vị kỳ mục cũng đã viết 1 Gioan, thì ông có lẽ đã nghĩ rằng không cần đến những thầy dạy của loài người: những người được Thánh Thần xức dầu sẽ tự động hiểu điều gì là sự thật, và vì vậy người ta phải tự nghiệm xét thần khí để biết các ngôn sứ giả (1 Ga 2,27; 4,1-6). Điốtrêphét có lẽ đã đánh giá tất cả những điều này một cách quá mơ hồ, vì những kẻ ly khai tuyên bố rằng họ có thần khí sự thật, khiến mọi người không thể biết ai đang nói sự thật. Như đã biết trong các giáo hội khác (chẳng hạn: Tt 1,5-16; 1 Tm 4), Điốtrêphét hẳn đã khẳng định rằng cần có những thầy dạy của loài người có uy quyền, cụ thể là những người có kiến ​​thức cơ bản để biết điều gì là sai và dùng quyền hành chính để loại bỏ các thầy dạy giả hiệu. Ông đảm nhận vai trò lãnh đạo giáo hội địa phương của mình, ngăn cản tất cả những nhà truyền giáo, kể cả những người thuộc nhóm vị kỳ mục. Theo quan điểm của vị kỳ mục, Điốtrêphét đã kiêu ngạo khi bỏ qua nguyên tắc khẳng định rằng Đức Giêsu là mục tử gương mẫu và tất cả những mục tử (của loài người) khác đều là kẻ trộm và kẻ cướp (Ga 10). Theo quan điểm của Điốtrêphét, vị kỳ mục thì ngây thơ và không thực tế. Việc Điốtrêphét cuối cùng đã vượt qua quan điểm của mình khẳng định điều gì sẽ cứu cộng đoàn Gioan có lẽ được trình bày trong Gioan 21 (yếu tố mới nhất trong Gioan, được viết sau 1-2 Gioan?), nơi Đức Giêsu trao quyền mục tử cho Phêrô để chăm sóc đoàn chiên, chỉnh lại một cách hiệu quả động lực trong Gioan 10.

Vấn Đề Cần Suy Gẫm

Nếu theo suy đoán của Thư 3 Gioan được đưa ra trên kia có giá trị, thì trong Tin Mừng và các Thư, chúng ta khám phá ra dấu vết sự phát triển của một Cộng đoàn Kitô hữu cụ thể suốt nhiều thập kỷ: (a) chiến đấu với các hội đường Do Thái địa phương, những người loại bỏ đức tin của cộng đoàn Gioan vì họ coi Đức Giêsu là Chúa, tức là không thể dung hòa với thuyết độc thần của Người Do Thái; (b) khi các Kitô hữu của cộng đoàn Gioan rút lui đầy cay đắng hoặc bị trục xuất khỏi các hội đường, họ nghĩ rằng Đức Giêsu đã thay thế hoàn toàn các yếu tốt cơ bản của Do Thái giáo (thờ phượng trong đền thờ, các ngày lễ, sinh ra tự nhiên từ cha mẹ Do Thái); (c) đồng thời làm sâu sắc thêm tiêu chuẩn Kitô học siêu thăng, khiến các Kitô hữu cộng đoàn Gioan hoài nghi đối với một số Kitô hữu khác khi họ không tuyên xưng Đức Giêsu một cách đúng đắn; (d) có một sự bất đồng nội bộ khi nền Kitô học siêu thăng này được một số Kitô hữu cộng đoàn Gioan đi đến đặt vấn đề về tầm quan trọng của nhân tính Đức Giêsu; (e) một nỗ lực để duy trì sự cân bằng nền Kitô học giữa nhân tính và thiên tính bằng cách nại vào những gì thuộc truyền thống trong giáo huấn của Gioan, và bằng cách loại bỏ những kẻ phản Kitô, những người làm chệch hướng sự cân bằng đó; (f) xoay xở để tìm ra những phương thế hữu hiệu chống lại các thầy dạy giả hiệu; (g) và dần dần chấp nhận loại cấu trúc độc đoán được khám phá trong các giáo hội khác, do đó đưa ít nhất một phần di sản của cộng đoàn Gioan vào Hội Thánh Vĩ Đại đang phát triển nhanh chóng. Nếu người ta nghĩ về những cuộc chiến và những chia rẽ trong Kitô giáo sau đó, người ta có thể nhận ra mô hình này đã đang lặp lại thường xuyên như thế nào, hoặc toàn bộ hoặc một phần.

[1] Có lẽ nó được viết trước phần cuối cùng của Tin Mừng Gioan, đặc biệt là phần bổ sung của Ga 21, nhưng việc xác định năm biên soạn sẽ được thảo luận trong Phần Biên Soạn dưới đây. Sự giống nhau giữa Tin Mừng Gioan và Thư 1 Gioan đã khiến tôi trình bày các Thư Gioan ở đây, sau Tin Mừng Gioan, thay vì theo thứ tự quy điển của chúng trong các Thư Công giáo (trang 705 dưới đây), sau thư Giacôbê và 1-2 Phêrô. Thứ tự đó phản ánh quan điểm cho rằng các Thư được Tông đồ Gioan, con ông Dêbêđê, viết (xem Gl 2,9). Ngay cả khi chúng ta không chấp nhận quan điểm đó, bộ quy điển vẫn hỗ trợ tích cực cho việc công nhận thần học của Gioan phù hợp với thần học được gán cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo lỗi lạc khác.

[2] Chương 12-14 tôi sẽ ưu tiên cho sách và bài báo được viết sau năm 1980; ở giai đoạn trước, những ai muốn đọc thêm và nghiên cứu có thể tham khảo các thư mục rất đầy đủ trong BEJ.

[3] Koinonia or “hiệp thông,” nghĩa là, liên lạc và chia sẻ của cải và cuộc sống (tr. 287 ở trên), không có trong Tin Mừng Thứ tư.

[4] Bức tranh về thế gian này gợi nhớ lại hoặc diễn lại tài liệu DSS, cũng như các thành ngữ “bước đi trong ánh sáng” và “làm theo sự thật”.

[5] Công đồng Trentô (DBS 1679) đã trích dẫn 1 Ga 1,9 liên quan đến việc xưng thú tội lỗi.

[6] Tác giả nghĩ về mình như một người bào chữa; Các Thư Gioan không sử dụng từ ngữ paraklētos để nói về Thần Khí như Gioan (trang 353 ở trên).

[7] Theo văn phong nửa thơ văn của đoạn này, 2,14 có lẽ đang lặp lại 2,12-13 với cách diễn đạt hơi khác.

[8] Ác Quỷ xuất hiện như là ‘Thủ Lãnh của thế gian này” trong Ga 12,31; 14,30; 16,11. Sự hấp dẫn đã trở nên nổi tiếng như là dục vọng, đố kỵ và kiêu ngạo, liên quan đến bộ ba xấu xa hơn, đó là: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Tuy nhiên, tác giả không đưa ra một bức tranh tổng quát như vậy; ông chỉ muốn diễn tả đặc tính của xã hội duy vật, ham mê nhục dục mà Kitô giáo phải tránh.

[9] Người ta nghi ngờ các đối thủ của tác giả, dù họ có lẽ không nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thiện, nhưng có lẽ họ đòi phải yêu thương anh chị em của họ mà không yêu thương tác giả và những người theo tác giả. Cách tác giả miêu tả gay gắt về đối thủ khiến người ta khó nhận ra ông yêu họ; nhưng xin lưu ý rằng khi gọi họ là con cái của ma quỷ, ông không nói rằng họ được ma quỷ sinh ra. Để trở thành con cái của Chúa, một người cần được Chúa sinh ra; không bao giờ nên giải thích làm thế nào để một người trở thành con cái của ma quỷ, nhưng có lẽ tác giả đã coi đó là một sự lựa chọn có chủ ý và do đó đáng trách.

[10] Ngay từ đầu, ma quỷ là kẻ sát nhân (Ga 8,44).

[11] M. C. de Boer, NovT 33 (1991), 326-46: trở nên xác phàm có liên quan đến cái chết của Đức Kitô như một hành động cụ thể và gương mẫu của tình yêu.

[12] Phần này có liên quan đặc biệt gần giống với tài liệu DSS, trong IQS 3,18-19, loài người bị thần khí sự thật hoặc thần khí dối trá chi phối, và chúng ta nghe nói đến việc “nghiệm xét thần khí” trong IQS 5,20-21 liên quan đến các thành viên mới của cộng đoàn.

[13] Do những kẻ ly khai tuyên bố thấy các thị kiến đặc biệt về Thiên Chúa, người ban cho họ có kiến thức?

[14] Một phần thêm vào mang tính suy niệm đối với 1 Ga 5,6-8 (được in nghiêng dưới đây), với các biến thể, xuất hiện giữa các tác giả Latinh ở Bắc Phi và Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 3 và thứ 4, “Bởi vì trên trời có ba Đấng làm chứng: Cha, Con và Thánh Thần, và ba Đấng này là một; và có ba Đấng làm chứng trên trái đất: Thánh Thần, nước và máu; và cả ba đều đồng lòng.” Không có các nhân chứng trong văn bản Hy Lạp và Đông phương trước năm 1400 SCN, tài liệu thêm vào này được gọi là “Johannine Comma” (“dấu phẩy” trong câu) thể hiện sự suy gẫm về tín lý Chúa Ba Ngôi đối với văn bản gốc ngắn hơn. Xem BEJ 775-87 (với thư mục).

[15] x. M. C. de Boer, JBL 107 (1988), 87-106. Ngoài ra B. Witherington, III, NTS 35 (1989), 155-60, về mối quan hệ vớ1 Ga 3,5.

[16] Ông không muốn phân biệt thần học sau này giữa tội trọng và tội nhẹ. Xem P. Trudinger, Biblica 52 (1971), 541-42; D. M. Scholer trong cuốn Current  Issues  in  Biblical Interpretation, ed. G. F. Hawthorne (M. C. Tenney Festschrift; Grand Rapids: Eerdmans, 1975), 230-246.

[17] Ở đây tôi chủ yếu quan tâm đến 1 Ga, nhưng đôi khi tôi cũng sẽ đề cập đến 2-3 Ga bởi vì rất có thể ba tác phẩm này đều do cùng một người viết ra (cho dù 3 Ga giải quyết một vấn đề khác). BEJ 755-759 liệt kê tất cả những điểm giống nhau giữa các Thư Gioan và Tin Mừng Gioan. Đối với vấn đề cùng hay khác tác giả, xin xem C. H. Dodd, BJRL 21 (1937), 129-156; W. F. Howard. JTS 48 (1947), 25-12; A. P. Salom, JBL 74 (1955), 96-102 (nghiên cứu văn phạm); W. G. Wilson, JTS 49 (1948), 147-156 (bằng chứng ngôn ngữ học).

[18] x. M. E. Boismard trong Charlesworth, John DSS, 156-165.

[19] Đây có thể là những điều phức tạp hơn, ví dụ, Strecker cho rằng 2 và 3 Gioan được viết tại Êphêxô vào khoảng năm 100 SCN và rằng Tin Mừng Gioan và 1 Gioan được các thành viên khác của Trường phái Gioan viết sau đó và độc lập.

[20] Ly khai hay rời xa chúng ta là hình ảnh mà tác giả bức thư đưa ra (1 Ga 2,19; 2 Ga 7); nhưng những người bị tấn công có lẽ nghĩ mình là phải gìn giữ những kiến thức thực sự của Gioan, bị vị kỳ mục và những người theo ông ta phá hỏng. (Người Công giáo Rôma có xu hướng nghĩ rằng những người theo đạo Tin lành đã rời bỏ giáo hội (thực); những người theo đạo Tin lành nghĩ họ đang khôi phục giáo hội (thực) đã bị Rôma làm méo mó.) BEJ 762-63 liệt kê tất cả các tuyên bố trong 1 và 2 Gioan thích hợp với các quan điểm của nhóm “ly khai”.

[21] Không có lý do gì để nghĩ rằng họ là kẻ theo lạc giáo ảo thân thuyết, những người phủ nhận thực tại nhân tính của Đức Giêsu; đúng hơn, giá trị tôn giáo của nhân tính đang là vấn đề bàn cãi.

[22] Những kiến thức về Cerinthus, xem BEJ 766-771.

[23] Xem R. E. Brown trong Text and Interpretation, eds. E. Best và R. M. Wilson (M. Black Festschrift; Cambridge Univ., 1979), 57-68; U. C. von Wahlde, The John Commandments, 1 John and the Struggle for the Gioan Tradition (New York: Paulist, 1990). J. Painter, NTS 32 (1986), 48-71, gợi ý rằng những người phản đối là những người ngoại mới trở lại đang giải thích truyền thống Gioan dựa vào nền tảng kiến thức của chính họ.

[24] Như chúng ta sẽ thấy trong Chương 15, một số người sử dụng chữ “thư” làm tên gọi cho một tác phẩm ở dạng thư nhưng không thực sự là một bức thư; nhưng 1 Gioan thực sự không phù hợp với tên gọi đó. Tất nhiên, khi nói về tác phẩm trong bối cảnh Kinh Thánh, không làm sao tránh được việc dùng tiêu đề truyền thống “Letters hay Epistles của Gioan”; tuy nhiên tôi đặt tiêu đề cho Chương này là “Epistle” trước “Letter” để thông báo rằng 1 Ga không giống với 2-3 Ga, vốn thực sự là “Letters”.

[25] Một số học giả không tìm thấy mô hình hoặc cấu trúc nào; một số âm tiết tính được hoặc theo mẫu khổ thơ ba dòng; một số người đề xuất theo mẫu số đếm (ba, bảy, mười hai); một số người phát hiện ra một mô hình thư giáo lý đi sau phần giáo huấn đạo đức hoặc khuyến khích. Xem A. Feuillet, BTB 3 (1973), 194-216; F. O. Francis, ZNW 61 (1970), 110-126; P. R. Jones, RevExp 67 ( 1970), 433-444; E. Malatesta, The Epistles of St. John: Greek Text and English Translation Schematically Arranged (Rome: Gregorian Univ. 1973); J. C. O’Neill, Puzzle.

[26] Xem BEJ 38-41 (cùng với 760-761 ).

[27] BEJ 764 vẽ biểu đồ đề nghị chia 35 phần thành ba Phần; thường thì phần đầu kết thúc ở chương 2, câu17 hoặc 27 hoặc 28; phần thứ hai kết thúc ở 3,24 hoặc 4,6.

[28] Chúa Giêsu “đã đến và trở nên người phàm” trong 1 Gioan rõ ràng đề cập đến sự nhập thể; có lẽ cụm từ “đã đến và trở nên người phàm” của 2 Ga 7 cũng có nghĩa như vậy, dù một số người áp dụng điều đó vào cuộc tái lâm. Muốn biết thêm về danh sách đầy đủ những điểm tương đồng giữa 2 Ga và 1 Ga, xin xem BEJ 755-756.

[29] Xem Chương 15 dưới đây để biết thuật ngữ “thể loại thư” này.

[30] Ngoài cách giải thích này về “Bà Được Chọn [hoặc được tuyển chọn],” (tiếng Hy Lạp là: elektē kyria), những gợi ý khác là: (a) Bà (có tên) Electa, được tán thành trong bản dịch tiếng Latinh của thánh Clemente thành Alexandria (khoảng năm 200); điều này đã dẫn đến một gợi ý hiện đại rằng 2 Gioan là một bức thư tình (câu 5) (b) Vị quý tộc Kyria, theo đề xuất của Athanasiô, có bằng chứng đáng tin hơn với tên gọi Kyria như hơn là “Electa.” (c) Thưa Bà, một phụ nữ không tên; tuy nhiên, giống như hai gợi ý trước, việc xác định người nhận thư là một cá nhân thì rất khó để dung hòa với giọng điệu rộng hơn trong bức thư, tức là tất cả những ai biết sự thật đều yêu mến Bà ấy và các con cái của Bà ấy (c. l ), ​​rằng một số con cái của Bà ấy đang bước đi trong sự thật (c. 4), và các con của “Bà Được Chọn” của Bà ấy đã gửi lời chào. (d) Giáo hội nói chung; điều này thừa nhận rằng không có cá nhân nào muốn nói đến, nhưng ” Bà Được Chọn” ở câu 13 là ai?

[31] Chương 12 ở trên gợi ý rằng những kẻ ly khai có thể hiểu rằng họ vẫn trung thành với những chỉ thị được đưa ra trong Tin Mừng Gioan, những chỉ thị mà tác giả bức thư cho là những giải thích sai lầm, một chiều và nguy hiểm.

[32] Về “các kỳ mục,” xin xem B. W. Bacon, JTS 23 (1922), 134-160; G. Bornkamm, TDNT 6. 670-672; J. Munck, HTR 52 (1959), 223-243; W. C. van Unnik, GCHP 248-260. Ngoài ra cũng xin xem trang 645-648 dưới đây.

[33] Cũng trong hầu hết các thư của Ignatiô Antiôkia, trong đó một trong các vị kỳ mục đóng vai apiscopos trên những người khác.

[34] Irênê (AH 3.3.4) tường thuật rằng Gioan, người môn đệ của Chúa, đã tránh liên hệ với Cerinthus, “kẻ thù của sự thật”, và Polycarp, giám mục Smyrna, đã xa lánh Marcion vì coi ông như là “con đầu lòng của Satan.”

[35] De praescriptione haereticorum 37. 1-7; CC 1.217-18.

[36] Rất có thể là một hội thánh gần đó, không phải hội thánh nơi Gaiô sống; vì trong câu 14, chúng ta biết vị kỳ mục hy vọng sẽ đến thăm Gaiô nhờ sự thân thiện, và thăm hội thánh do Điốtrêphét lãnh đạo, để phản bác lại ông ta (c. 10). Câu 9 là tài liệu đầu tiên nói về ekklēsia trong toàn bộ văn bản Gioan (cũng ở cuối 3 Ga 10).

[37] Một cách chính xác hơn là “với chúng tôi.” Thật thú vị khi số nhiều đi cùng với số ít “Tôi viết” trong cùng một câu. Dường như vị kỳ mục coi mình là một thành phần của cộng đoàn, những người mang truyền thống (1 Gioan 1,1-5) xem thêm 3 Ga 12: “Chúng tôi cũng làm chứng cho anh ấy, và anh biết rằng lời chứng của chúng tôi là xác thực.

[38] Tuy nhiên, vị kỳ mục không mô tả Điốtrêphét là một tên phản Kitô, một kẻ ly khai, một ngôn sứ giả, hoặc một người phủ nhận Đức Giêsu Kitô đã đến trong xác phàm (xem 1 Ga 2,18-23; 4,1-2; 2 Ga 7 ), từ đó tôi cho rằng ông không coi Điốtrêphét là một “kẻ lạc giáo” xét về khía cạnh Kitô học.

[39] Đối với các thư giới thiệu xác nhận để xin các Kitô hữu tiếp đón, hỗ trợ và lắng nghe, xin xem Cv 18,27; Rm 16,1-2; 1 Cr 16,3; 2 Cr 3,1; Pl 2,25-30; và Cl 4,7-9. Đây có thể là sự khởi đầu thực hành trong nhóm Gioan, một thực hành cần kíp do sự tuyên truyền gần đây của các nhà truyền giáo ly khai.

[40]Cả ba tên thuộc văn hoá Hy-La, không có nguồn gốc từ Do Thái. Có hai hoặc ba nhân vật khác tên là Gaiô trong thời Tân Ước (1 Cr I,14; Cv 19,29; 20,4 ), một Đêmêtriô (Cv 19,24) và một Đêma (viết tắt của Đêmêtriô? Plm 24; Cl 4,14); nhưng không có lý lẽ thuyết phục nào để xác định Gaiô và Đêmêtriô này với cũng là một với họ. Điốtrêphét không phải là một cái tên đặc biệt phổ biến.

[41] Những nỗ lực biến tác giả kỳ mục thành đại diện cho nhóm “lạc giáo” trong thần học Gioan, quả là quá phiêu lưu cho một hội thánh lớn hơn (Giáo Hội Vĩ Đại do Điốtrêphét đại diện). Điều này bị bác bỏ bởi thực tế là quan điểm thể hiện trong 1-2 Gioan có tính truyền thống hơn những tiêu chuẩn Tân Ước khác được tìm thấy trong Tin Mừng Gioan, như được tác giả bức thư chỉ ra dựa trên những điều đã có từ lúc đầu.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục