danvienxitochauthuy

Dẫn Nhập vào Thư Philipphê (Raymond E. Brown)

Trích dịch từ cuốn sách: “An Introduction to the New Testament

Tác giả: Raymond E. Brown

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist.

Theo một nghĩa nào đó, đây là bức thư hấp dẫn nhất trong các thư Phaolô, nó phản ánh tình cảm nồng hậu của vị Tông đồ đối với anh chị em của ngài trong Đức Kitô hơn tất cả các thư khác. Thật vậy, thư Philípphê đã được xếp vào loại thư hùng biện về tình huynh đệ. Nó là một trong những trình bày nổi tiếng và yêu thích nhất trong Tân Ước về lòng nhân hậu của Đức Kitô, Đấng đã tự hủy mình ra không và mặc lấy thân nô lệ, đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự. Tuy nhiên, thư Philípphê gặp trở ngại lớn vì gặp nhiều tranh cãi. Chúng ta không biết rõ nơi ở của Phaolô khi viết thư đó. Hơn nữa, chúng ta cũng không nắm rõ về tính duy nhất của nó, vì một số người chia thư này thành hai hoặc ba bức thư có nguồn gốc khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta hãy thảo luận thư này vì ngày nay nó đang nằm giữa các ngã rẽ của các cuộc tranh luận đó. Sau khi trình bày Bối cảnh Phân tích tổng quát về thư Philípphê, chúng tôi sẽ đề cập đến các phần phụ khác: Các Bài Ca và Thánh Thi Kitô Học 2,5-11, Nơi và Năm Biên Soạn, Tính Duy Nhất của nó, Các Vấn Đề Cần Suy Gẫm và Thư mục.

BỐI CẢNH

Như chúng tôi đã lưu ý ở trang 456 trên kia, Phaolô cùng với Xila và Timothê đã vượt biển đi từ tỉnh Axia (Tiểu Á hoặc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đến Makêđônia (Châu Âu, miền bắc Hy Lạp ngày nay) vào năm 50-51 SCN. Họ đã vượt qua núi của đảo Xamốtrakê, cập bến cảng Nêapôli, nơi có xa lộ của Rôma vĩ đại chạy qua Makêđônia, qua tuyến đường Via Egnatia, và theo lối đi xuống biển. Ở thời đầu của đế quốc này, người ta nghi ngờ có một xa lộ dài như vậy vẫn luôn được bảo trì tốt, do đó mà thành Philípphê, với tuyến đường Egnatia trong đất liền dài khoảng mười dặm, dựa rất nhiều vào thương mại với con đường tắt đến Địa Trung Hải. Địa điểm này, nơi các nhà truyền giáo đi đến trực tiếp, là một thành phố lớn của Rôma, nơi một thế kỷ trước (42 TCN), Mark Antony và Octavian (Augustô) đã đánh bại Brutô và Cassiô, những kẻ ám sát Giuliô Xêda, và đã bị các cựu chiến binh trong đội quân chiến thắng chiếm làm nơi định cư.[1] Tại đây, Phaolô đã công bố Tin mừng và thành lập hội thánh đầu tiên của ngài ở Châu Âu (Cv 16, 11-15; Pl 4,15). Polycarp đã đền đáp công ơn vun trồng của Phaolô sau gần một thế kỷ. Ông (trong Philippians 1,2) đã nói về đức tin vững chắc, nổi bật trong những năm qua, và vẫn còn hưng thịnh của các tín hữu Philípphê.

TÓM TẮT CÁC THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: Khoảng năm 56 nếu viết ở Êphêxô, (hoặc năm 61-63 nếu viết ở Rôma, hoặc năm 58-60 nếu viết ở Xêdarê)

ĐỘC GIẢ: Các Kitô hữu tại Philípphê, một thuộc địa của Rôma (Cv 17,12), nơi các cựu quân nhân được chia tài sản sau các trận chiến trong cuộc nội chiến (42 TCN), và giống như Thêxalonica (Viễn Tây), một thành phố thương mại quan trọng ở tuyến đường Via Egnatia. Được Phaolô truyền giáo khoảng năm 50 SCN trong “Chuyến Hành Trình Truyền Giáo Thứ Hai” của mình (xem Bảng 6 trong Chương 16 ở trên theo Niên Đại Xét Lại).

TÍNH XÁC THỰC: không có tranh luận nhiều.

TÍNH DUY NHẤT: Theo học thuật, người ta đưa ra các cách phân chia ngang nhau: nhiều người cho rằng có hai hoặc ba bức thư đã được kết hợp lại để làm thành thư Philípphê, thế nhưng chúng ta nên tôn trọng tính duy nhất của nó.

TÍNH TOÀN VẸN: Ngày nay, không có thuyết nào nói về các phần bổ túc. Trong quá khứ, thuyết bổ túc được đưa ra liên quan đến các lý do thần học: “các giám quản và trợ tá” (1,1), hoặc bài Thánh Thi Kitô Học (2,6-11).

BỐ CỤC THEO HÌNH THỨC (về thư hiện có và thống nhất):

A. Công thức mở đầu: 1, 1-2

B. Lời tạ ơn: 1,3-11

C. Nội dung: 1,12-4,20: Pha trộn Bối cảnh tù tội của Phaolô; lời huấn dụ, lời cảnh báo chống lại các thầy dạy giả dối, tạ ơn ơn các tin hữu Philípphê.

D. Công thức kết thúc: 4:21-23.

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG:

1,1-11: Đại chỉ/lời chào và Lời tạ ơn

1,12-26: Hoàn cảnh của Phaolô trong tù và thái độ của ngài trước cái chết

1,27-2:16: Lời khuyên dựa trên gương sống của Đức Kitô (thánh ca Kitô học)

2,17-3,1a: Phaolô quan tâm đến các tín hữu Philíphê và lên kế hoạch truyền giáo cho họ

3,1b-4,1: Cảnh báo chống lại các thầy dạy giả dối; Hành vi của chính Phaolô (một bức thư khác?)

4,2-9: Lời khuyên chị Êvôđia và Xintikhe: hiệp nhất, vui mừng, những điều cao cả hơn

4,10-20: Hoàn cảnh của Phaolô và những món quà quảng đại của các tín hữu Philípphê

4,21-23: Lời chào cuối thư, chúc lành.

Đọc Cv 16, người ta có ấn tượng về thời gian lưu trú tương đối ngắn và một số thành công của ngài giữa người Do Thái và Dân ngoại, bất chấp sự quấy rối của dân chúng. Vào lúc khởi đầu (16,13-15) bên một con suối ngoài cổng thành, bà Lyđia, một phụ nữ buôn bán từ Thyatira, người bán vải điều và đã trở lại Do Thái giáo (“một người thờ phượng Thiên Chúa”), đã chịu phép rửa cùng với gia đình và đã mời các vị cùng với Phaolô ở lại nhà bà.[2] Câu chuyện này phản ánh chính xác thực tế xã hội ở Philípphê, và đặc biệt là vai trò nổi bật của người phụ nữ. Một vài xác nhận có lẽ được Pl 4,2 cung cấp khi Phaolô đề cập đến hai người phụ nữ, Êvôđia và Xintikhe, những người hiện đang cãi nhau nhưng họ từng là các bạn truyền giáo của ngài ở đó. Danh tính của họ và tên của Êpáprôđitô và Clêmentê xuất hiện trong 2,25; 4,3 cho thấy có nhiều người Dân ngoại giữa các Kitô hữu ở Philípphê.

Có nhiều cuộc hoán cải hơn ở Philípphê được ghi lại trong Cv 16,16-40. Việc Phaolô trục xuất quỷ khỏi một cô gái nô lệ làm nghề bói toán đã khiến giới chủ của cô bắt ngài và Xila đem đến trước quan tòa địa phương vì cho rằng những người Do Thái đang gây xáo trộn dân chúng. Không có gì ngạc nhiên khi Phaolô mô tả thời gian ngài sống tại Philípphê như sau: “chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục” (1Tx 2, 2). Tuy nhiên, mặc dù họ đã bị lột áo, bị đánh đòn và bị bỏ tù, nhưng khi có một trận động đất làm mở tung các cửa nhà tù, Phaolô và Xila vẫn không chịu trốn thoát – một cử chỉ làm cho viên cai ngục và gia đình anh ta hoán cải. Cuối cùng, các thẩm phán đã xin lỗi vì đã ngược đãi sai trái công dân Rôma và xin họ ra đi, và vì vậy họ lên đường đi về phía tây dọc theo tuyến đường Via Egnatia đến Thêxalônica.[3] Với bối cảnh đó, chúng ta hãy xem thư này gửi cho “mọi người trong dân thánh kết hợp với Đức Kitô Giê-su ở Phi-líp-phê, cùng kính gửi các vị giám quản và trợ tá”(1,1).

PHÂN TÍCH THÔNG ĐIỆP TỔNG QUÁT

Mặc dù cách trình bày của tôi về hầu hết các Thư Phaolô theo tuần tự, hình thức thư truyền thống,[4] nhưng ở đây cũng giống như ở 1 Thêxalônica, vì tư tưởng của Phaolô thay đổi liên tục, nên tôi đề nghị độc giả đọc lướt qua Thư này một cách nhanh chóng để có ấn tượng bề mặt về nội dung, rồi trở về phần Phân tích này để làm sáng tỏ các vấn đề chính.

Những người được Phaolô hoán cải tại Philípphê đã trở thành bạn đồng hành duy nhất với ngài (1,5) và tình bạn đó kéo dài từ lúc ngài còn ở Thêxalônica (họ đã nhiều lần gửi quà: x. Pl 4, 15-16; và 2 Cr 11,9) cho đến lúc ngài viết thư trong tù.[5] Việc họ gửi Êpáprôđitô cho Phaolô là một bằng chứng mới về lòng trung thành này; và bây giờ, vì quan tâm đến sức khỏe quý giá của bạn đồng hành đó, Phaolô đã gửi ông trở về với họ (4,18; 2,25-26). Một tình bạn bền chặt tô điểm cho thư này, điều đó bày tỏ lòng biết ơn của Phaolô và luôn giữ liên lạc với các tín hữu Philípphê; thực sự, sức hấp dẫn của con người Phaolô được chứng thực nhờ lòng trung thành của họ. Người ta không thể bác bỏ cách đơn giản chỉ dựa vào những lời nói cảm xúc của ngài nói với các tín hữu Philípphê, trong bối cảnh khi ngài có thể phải đối mặt với cái chết của mình: “tôi mang anh em trong lòng tôi.” (1,7); “Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Kitô Giê-su.” (1,8); “Hỡi anh em thân mến lòng tôi hằng tưởng nhớ, anh em là niềm vui, là vinh dự của tôi” (4,1). Ngoài những bằng chứng chắc chắn về lòng biết ơn và tình bạn, điều đó có lẽ còn là động lực để ngài viết thư, còn có những dấu chỉ quan trọng về quan điểm của ngài khi bị tù đày và tình cảnh ở Philípphê; những điều đó cần được tìm hiểu thêm.

QUAN ĐIỂM CỦA PHAOLÔ TRONG CẢNH TÙ ĐÀY: Thư phản ánh những tư tưởng trong cảnh tù đày của Phaolô vì rao giảng Tin mừng. Trước hết, ngài không tuyệt vọng dù ngài phải chịu đựng những đau khổ. Việc ngài bị giam cầm, dù gặp khó khăn vì trách nhiệm và bị giam cầm, nhưng những điều đó đã giúp Tin mừng tiến triển vì rõ ràng ngài đang chịu đau khổ vì Đức Kitô (1,12-13; 3,8); và những người khác đã can đảm rao giảng mà không còn sợ hãi nhờ gương sống của ngài (1,14). Thật không may, một số người đang làm điều đó với tinh thần ganh tỵ, muốn qua mặt Phaolô (1,15),[6] và ngài tỏ ra coi thường kiểu ganh đua như vậy cả trong thư Pl 1,18 và trong thư 1 Cr 1,13; 3,5-9 cùng thời đó. Những nhà rao giảng không quan trọng; điều quan trọng duy nhất chính là Đức Kitô được rao giảng.

Thứ hai, suy tư về cái chết được đưa ra vì hoàn cảnh hiện tại của Phaolô, như đã chứng kiến ​​cả trong thư Philípphê và Côrintô. (Điều đã góp phần tạo nên các cuộc thảo luận ở trang 437-438 trên kia làm chúng ta tự hỏi về thần học của Phaolô, về các vấn đề cơ bản được phát triển theo dòng thời gian tới mức nào.) Trước đó, trong 1Tx 4,17, Phaolô đã dùng lời diễn tả: “Chúng ta, là những người đang sống” khi Đức Kitô quang lâm. Nếu đó không chỉ là lời “chúng ta” của người biên tập, thì Phaolô mong ngóng sẽ vẫn còn sống cho đến ngày Chúa quang lâm. Nhưng trong Pl 1,20-26, ngài đang vật lộn với cái chết (cũng là 2 Cr 5,1-10), cố gắng chọn lựa đi gặp Đức Kitô ngay lập tức qua cái chết hay ở lại tiếp tục rao giảng Đức Kitô. Trong Pl 3,10-11, Phaolô nói về việc chia sẻ đau khổ với Đức Kitô “với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” – liệu ngài đang chờ đợi một cuộc tử đạo không?[7]

TÌNH HÌNH TẠI PHILÍPPHÊ, Phaolô muốn các tín hữu của Đức Kitô tại Philípphê sống không có gì đáng chê trách, nhưng chiếu sáng như những vì sao giữa một thế hệ gian tà và sa đoạ, biết giữ vững Lời ban sự sống, để ngài không lao nhọc uổng phí (Pl 2,14-16). Phaolô tôi vẫn mong muốn được nghe biết họ luôn đứng vững trong một tinh thần, chiến đấu cùng một lòng vì đức tin mà Tin mừng mang lại cho họ – một koinonia trong Thần Khí (1,27; 2,1). Tuy nhiên, có một số người đang gây rắc rối cho Hội thánh Philípphê. Phaolô nghĩ đến bao nhiêu nhóm?[8] Có ít nhất ba thái độ khác nhau bị khiển trách trong bản văn.

Trước hết, có sự bất đồng nội bộ tại Philípphê ngay cả giữa những người, như Êvôđia và Xintikhe, những người đã cùng làm việc với Phaolô (4,2-3).[9] Nguyên nhân của sự bất hòa không rõ ràng, nhưng do bản chất con người có lẽ đã tái hiện lại sự tự phụ và thiếu khiêm nhường mà Phaolô lên án (xin xem 2,2-4). Thật vậy, việc Phaolô coi Đức Kitô như một mẫu gương phục vụ tự hiến trong bài Thánh Thi Kitô Học 2,5-11 là chống lại sự tự phụ và cố gắng tìm kiếm lợi ích cho riêng mình (phần phụ dưới đây).

Thứ hai, ngoài các tín hữu gây tranh cãi đã từng làm việc với Phaolô, còn có sự chống đối bên ngoài đối với các tín hữu Đức Kitô ở Philípphê làm cho họ đau khổ (1,28-29). Dường như sự chống đối này theo sau kiểu quấy rối mà chính Phaolô đã phải gánh chịu khi ngài đến lần đầu ở đó và ngài cũng đã từng gặp phải tại Êphêxô (1,30; Cv 19,23-20,1), cụ thể là, dân chúng phàn nàn về giáo huấn kỳ lạ của các Kitô hữu vì giáo huấn đó không chấp nhận các vị thần, và kêu gọi chính quyền địa phương bắt giữ hoặc trục xuất họ. Không thể làm gì được đối với sự bất công đó, nhưng Thiên Chúa sẽ chiến thắng.

Thứ ba, có những bọn thợ xấu (3,2-3) mà Phaolô gọi là quân chó má,[10] và những người mà các tín hữu Philípphê nên cẩn thận. Họ cắt phần thịt của mình, giống như cắt bì; và những Kitô hữu tin vào Đức Giêsu, những người thờ phượng trong Thánh Thần thì không nên cậy vào xác thịt. Phaolô có thể bác bỏ những kẻ thù địch này bằng cách diễn tả uy tín của mình như là người Do Thái hoàn hảo – dù ngài coi tất cả những điều đó là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô (3,4-11). Ở đây, chúng ta đang ở rất gần với cuộc tấn công của Phaolô trong thư Galát, gần như cùng thời với những người khăng khăng đòi phải giữ luật cắt bì, cụ thể là các Kitô hữu gốc Do Thái. Một số người nghĩ rằng đoạn văn trong thư Philípphê là một lời cảnh báo chung vì sợ những người như vậy xuất hiện; vì nếu họ là những người đang làm việc ở Philípphê rồi, thì Phaolô sẽ viết nhiều cho họ hơn. Hoặc nếu không, thì họ có lẽ chỉ mới bắt đầu xuất hiện với số lượng ít ở Philípphê, trong khi ở Galát, họ đã thành công rực rỡ.[11]

Điều làm phức tạp thêm cho việc suy đoán nhóm đối thủ thứ ba này là xu hướng của các học giả giải thích các phần khác của chương 3 khi đề cập tới chúng. Trước khi chúng ta đi vào chi tiết, độc giả cần phải thận trọng về việc sử dụng của chương 3 như thế để tái tạo một tình huống lịch sử,[12] vì nó cho thấy một thuyết song đối theo chủ đề nào đó với sứ điệp Kitô học của chương 2 (thuyết song đối đó cũng tạo ra nghi ngờ chương 3 có nguồn gốc là một thư riêng biệt, theo nhiều học giả khẳng định như thế; xem dưới đây.) Cũng giống như Phaolô xin các tín hữu Philípphê có tâm tình như Đức Kitô (2,5), ngài có thể nói với họ: “Hãy cùng nhau bắt chước tôi” (3,17). Cũng như Đức Kitô, là hình ảnh của Thiên Chúa, nhưng đã tự huỷ mình ra không và mặc lấy thân nô lệ, Phaolô, là người đã từng tự tin vào nguồn gốc xác thịt của mình, là một người Ítraen cắt bì và là người Pharisêu không ai chê trách được, coi tất cả mọi sự là rác rưởi vì danh Đức Kitô (3,4-9). Và cũng giống như Đức Kitô được siêu tôn, Phaolô cũng vậy, người nhấn mạnh rằng ngài chưa hoàn hảo, nhưng đã nhấn mạnh mình đang hướng về Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô (3,12-14). Nếu người ta chấp nhận thuyết song đối như vậy thì có thể suy đoán có bao nhiêu đối thủ trong chương 3?

Phaolô chân nhận về sự bất toàn của mình thì có bảo đảm đủ để đưa ra lý thuyết cho rằng, các đối thủ đó có khuynh hướng ngộ đạo, tự cho mình là hoàn hảo và tin vào thuyết cánh chung hiện thực cấp tiến (radically realized eschatology), trong đó tin rằng Đức Giêsu Kitô đã quang lâm rồi không?[13] Trong 3,18-19, Phaolô nhắc lại một lời cảnh báo được đưa ra trong quá khứ về những người sống như những kẻ thù địch với thập giá Đức Kitô, coi cái bụng mình là Chúa, thấy vinh dự trong nỗi hổ thẹn của mình, và luôn đặt tâm trí mình vào những chuyện thế gian này (điều đó ám chỉ không như Đức Kitô, Đấng đã được siêu tôn trên các tầng trời: 2,9-11). Những người đó có giống như những người thợ xấu Do Thái ở 3,2-3, hiện được mô tả như đang nhấn mạnh đến luật thức ăn của Môsê và cảm thấy vinh dự khi đã được cắt bì không?[14] (Tuy nhiên, lời cảnh báo ở 3,2-3 dường như chống lại một mối nguy hiểm mới, không phải trong quá khứ.) Hay đây là sự lên án chung chung những kẻ phóng túng dựa trên tính tất yếu của những ham muốn chưa được kiểm soát của con người – một tội chung và không nhất thiết phải cụ thể? Hay thậm chí là sự lên án những kẻ phóng túng tại Êphêxô, nơi ngài viết thư và nơi ngài đang phải chống lại các “thú dữ” (1 Cr 15,32). Việc chúng tôi không thể giải quyết các vấn đề ở 3,12 và 3,18-19 cảnh báo chúng ta không nên làm phức tạp thêm sự kết án rõ ràng trong 3,2-3 đối với những kẻ thù địch cố gắng nhấn mạnh đến việc cắt bì và làm xáo trộn các tín hữu Philípphê. Tuy nhiên, vì hầu hết những gì Phaolô nói về bản thân và quan điểm của ngài trong chương 3 sẽ có giá trị của nó bất kể đối thủ là ai và khác biệt như thế nào, và việc mô tả những đối thủ đó ảnh hưởng đến một vài câu, đến một quyết định về họ không nhất thiết phải đọc thư Philípphê một cách thông minh.

CÁC BÀI THÁNH CA TRONG CÁC THƯ TÂN ƯỚC VÀ THÁNH THI KITÔ HỌC TRONG 2, 5-11

Các Bài Thánh Ca Trong Các Thư Tân Ước. Mặc dù có các tham chiếu về việc các Kitô hữu hát “các thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng”,[15] nhưng Tân Ước không có bộ sách thánh thi được sưu tầm tương tự như Thánh Vịnh trong Cựu Ước, Tài Liệu Biển Chết Hodayot (1QH), hoặc Thánh Vịnh Salomon (của Pharisêu). Thay vào đó, những bài thánh thi và thánh ca của các Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất được lồng vào trong các tác phẩm lớn hơn thuộc thể loại khác, chẳng hạn: Tin mừng, thư, thị kiến khải huyền. (So ​​sánh 1 Mcb 4,30-33; 2 Mcb 1,24-29.) Đôi khi thánh thi hoặc bài thánh ca trong Tân Ước được mô tả rõ ràng, như trong tiếng hát thiên thần trên trời của Kh 4,8.10-11; 5,9. Các bài hát về các trình thuật thời thơ ấu trong Luca, dù không được coi là bài thánh ca, nhưng được tách ra khỏi văn bản xung quanh để trở thành những sấm ngôn hoặc bài tán tụng ngợi khen (xem trang 232 ở trên). Lời Tựa của Gioan nhờ chính tình huống đó ở đầu Tin mừng mà đã được tách biệt ra.

Một vấn đề lớn hơn được người ta đưa ra, cho rằng có những bài thánh ca được lồng vào trong các thư và chỉ có thể phát hiện ra bằng cách nghiên cứu theo lối học thuật. Thông thường, không có gì trong ngữ cảnh cho biết một bài thánh ca đang được giới thiệu và trích dẫn, dù đôi khi câu chuyển ý dẫn vào bài thánh ca đan xen đó hơi vụng về. Trong các tiêu chí để phát hiện một bài thánh ca, người ta đã đưa ra những tiêu chí như sau:[16]

(a) Môi trường phụng vụ, chẳng hạn, một bối cảnh trong cử hành phép rửa được đưa ra ở Ep 5,14; và các bài thánh thi trong 1 Phêrô.

(b) Các Công thức giới thiệu, chẳng hạn: “Có lời chép rằng” trong Ep 5,14; “Phải công nhận rằng” trong 1 Tm 3,16; hoặc trong trường hợp Thánh Thi Kitô học, một mệnh đề được giới thiệu bằng một quan hệ đại danh từ: “Người, …” (Pl 2,6; Cl l, l5; 1 Tm 4,16), được mở rộng bởi các liên từ chỉ nguyên nhân-hậu quả.

(c) Kiểu văn theo nhịp điệu, các mẫu song đối, các dòng thơ hoặc các khổ thơ có độ dài bằng nhau, chẳng hạn, chuỗi sáu động từ bị động aorist trong 1 Tm 3,16; những mô tả song đối về Con Thiên Chúa trong Cl 1,15-16 và 1,18b-19. Đây không phải là loại thơ gieo vần; thực sự một số người cho là các bài thánh ca theo văn xuôi.

(d) Từ vựng khác với thông thường được các tác giả viết thư sử dụng – chỉ áp dụng nếu tác giả không sáng tác bài thánh ca. Tương tự, một cú pháp đặc biệt thường được thấy, chẳng hạn, tránh dùng các liên từ (do đó, phép dùng câu đẳng lập).

(e) Không phải là một tiêu chí nhưng thường mang đặc tính những bài thánh ca thuộc loại Kitô học siêu thăng, chẳng hạn, mô tả về Ngôi Lời là Con Thiên Chúa trong Ga 1,1; hoặc về Chúa Con như một Đấng ở trong, cho và qua Người, muôn vật được tạo thành (Cl 1,16); hoặc về Đức Kitô Giêsu, như một Đấng được ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu (Pl 2,9). Giữa các chủ đề nổi bật trong Kitô học là sự sáng tạo, cuộc chiến chống lại điều ác dẫn đến tình trạng phục hồi, và cái chết của Đức Giêsu dẫn đến phục sinh (sự siêu tôn, sự lên ngôi). Tv 110,1 viết: “Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: ‘Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị,’” là một mẫu trong một số bài thánh ca (Rm 8,34; Ep 1,20-22; 1 Pr 3,22), có lẽ theo nguyên tắc thì các Thánh Vịnh Cựu Ước có thể được xem là nhắm đến Đức Kitô (Hr 1,5.8.13). Một số bài thánh ca nói về Đức Giêsu tương tự như thánh ca nói về Thiên Chúa.[17] Cl 3,16 liên kết các thánh vịnh và thánh ca với việc rao giảng Lời Đức Kitô, và do đó chúng trở thành phương tiện ban đầu chuyển tải một Tin mừng mang tính Kitô học. Hengel (trong “Thánh Ca” 192) tuyên bố: “Bài thánh ca nói về Đức Kitô … cũng lâu đời như chính cộng đoàn của nó.”

(f) Một đặc tính khác, đó là việc người biên tập tự do thêm vào các mệnh đề hoặc cụm từ giải thích các bài thánh ca truyền thống, có ý áp dụng chúng một cách trực tiếp vào chủ đề của tác giả nhiều hơn (xem ghi chú 20 và 21 dưới đây; cũng là ghi chú 9 ở Chương 27).

Các tiêu chí này không dễ áp ​​dụng, và kết quả là việc phát hiện ra các bài thánh ca như thế thuộc loại “khoa học” không chính xác. Điều đó được minh họa trong các cuộc tranh luận được tường thuật về các bài thánh ca riêng lẻ – các cuộc tranh luận về nơi chúng kết thúc hoặc cách chúng được phân chia hoặc dòng thơ nào là nguyên bản. Hơn nữa, ranh giới phân biệt giữa thánh ca và các Công thức tuyên xưng (chẳng hạn: 1 Cr 15,3-8) hoặc các Vinh tụng ca (chẳng hạn: 1 Tm 6,15-16) không rõ ràng. Sau đây là danh sách các bài thánh ca thường được các học giả phát hiện trong các thư Tân Ước (Theo nghiên cứu học thuật, ước tính có khoảng từ 5 đến 30 bài); nó không đòi phải hoàn thiện và những bài được đánh dấu hoa thị sẽ được nhiều người đồng thuận nhất:

Pl 2,6-11* Cl 1,15-20* Hr 1,3
1 Cr 13 Ep 1,3-14* 1 Pr 1,3-5
Rm 3,24-26 Ep 120-23 1 Pr 1,18-21
Rm 6,1-11 Ep 2,14-18(22) 1 Pr 2,21-25
Rm 8,31-39 Ep 5,14* 1 Pr 3,18-22
Rm 11,33-36 Tt 3,4-7
1 Tm 3,16*
2 Tm 2,11-13*

Nhiều bối cảnh khác nhau đã được đưa ra về sự hình thành những bài thánh ca như vậy. Có những đoạn song song với thánh ca dân ngoại được đưa ra thuộc các Thánh ca Orphic (thế kỷ thứ 5-4 TCN), Thánh ca Isis của Cyme (thế kỷ 2 TCN),[18] và Phụng vụ Mithras (xem trang 87-88 ở trên). Bối cảnh Do Thái được các bài thơ Khôn Ngoan nhân cách hoá đề cập trong Cựu Ước (chẳng hạn, Cn 1,20-33; 8-9; Hc 24; Kn 7,22tt; Br 3,9tt.) Nơi trước khi tạo dựng thế gian, Đức Khôn Ngoan được Thiên Chúa tạo dựng hoặc nhiệm xuất từ Thiên Chúa, rồi đến cư ngụ ở giữa loài người, và ban cho họ của ăn và của uống hiểu biết về Thiên Chúa. Bức chân dung của Đức Khôn Ngoan này là một yếu tố chính trong việc hình thành nền tảng Kitô học Tân Ước (BINTC 205-210).

THÁNH CA KITÔ HỌC 2,5-11. Đây là đoạn văn nổi tiếng nhất trong Philípphê diễn tả Đức Kitô trong thân phận người nô lệ mà mọi người cần noi theo (và thực sự là một trong những đoạn đáng nhớ nhất dưới ngòi bút của vị Tông đồ). Có một dòng văn chương lớn được dùng trong đoạn này,[19] và vì thế việc nghiên cứu các chi tiết có khả năng nằm ngoài cuốn sách dẫn nhập này. Dù sao, tôi cũng cần phải đưa ra những điểm này giúp độc giả làm quen với các vấn đề:

  • Hầu hết mọi người nghĩ rằng Phaolô đã viết thư này nhưng không sáng tác ra những dòng này; chúng có lẽ là một bài thánh ca mà các tín hữu Philípphê đã biết trước khi Phaolô đến và có lẽ lần thăm viếng đầu tiên Phaolô đã dạy họ.
  • Cấu trúc của bài thánh ca đang trong vòng tranh luận, chẳng hạn, sáu khổ thơ mỗi khổ 3 dòng (E. Lohmeyer),[20] hoặc ba khổ thơ mỗi khổ 6 dòng (J. Jeremias).[21] Theo dòng thần học của nó, bài thánh ca chia làm hai chủ đề: sự tự hạ hay sự hạ mình trong 2,6-8 và sự siêu tôn trong 2,9-11.
  • Các gợi ý về bối cảnh của bài thánh ca (độc nhất hoặc kết hợp) bao gồm, những suy tư của phái ngộ đạo về Con Người Nguyên Thuỷ; luận đề Poimandres trong văn chương của Hécmê (trang 85 ở trên); câu chuyện Ađam trong sách Sáng Thế và những suy đoán về Ađam thứ hai; hình ảnh Người Tôi Tớ Đau Khổ trong Isaia Đệ Nhị;[22] nhân vật được nhân cách hóa sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong thời hậu Do Thái giáo. Mối liên hệ với Cựu Ước là quá rõ ràng; còn các tham chiếu được đề xuất khác thì không.
  • Người ta cũng đang tranh luận xem có phải bài thánh ca ban đầu được sáng tác bằng tiếng Hy Lạp hay không, có lẽ nguồn gốc của nó xuất phát từ sứ mệnh truyền giáo cho người Do Thái nói tiếng Hy Lạp, hoặc nó được sáng tác bằng tiếng Aram, có nguồn gốc xuất phát từ công việc truyền giáo của người Paléttin. Có lẽ trường hợp thứ hai là đề nghị hợp lý hơn và có khả năng là Phaolô đã học bài thánh ca này vào cuối thập niên 30 trong những năm đầu mới trở lại.[23]
  • Tranh luận về tiêu điểm chính xác của Kitô học tập trung ở 2,6-7: Đức Kitô Giêsu “vốn trong hình hài [morphē] Thiên Chúa mà không nghĩ phải harpagmon [cố bám lấy, cố nắm lấy một điều gì đó) ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự làm trống rỗng mình khi mặc lấy hình hài một người nô lệ, trở nên (hay sinh ra) trong hình hài phàm nhân.” Việc “mang hình hài Thiên Chúa” có giống với việc ngang hàng với Thiên Chúa và vì vậy không được dựng nên (như trong Lời Tựa của Gioan, “Ngôi Lời là Thiên Chúa”), hoặc nó có nghĩa là mang hình ảnh hay giống như Thiên Chúa (như trong St 1,27, “Thiên Chúa đã tạo dựng nên Ađam theo Hình Ảnh của Ngài”) và do đó thấp hơn việc ngang hàng với Thiên Chúa không? Tương tự, phải chăng Đức Giêsu Kitô đã ngang hàng với Thiên Chúa nhưng không cố bám lấy vị trí đó, hay Người được ban cho khả năng trở nên ngang hàng với Thiên Chúa nhưng không cố nắm lấy vị trí đó (cũng như Ađam khi bị con rắn cám dỗ trong St 3,5: “Ông bà sẽ nên như những vị thần”)? Có phải trong bài thánh ca, sự chuyển hoá từ vị trí ban đầu của Đức Kitô trong hình hài Thiên Chúa (tức là ngang hàng với Thiên Chúa) đến đầu cuối là trở thành con người và rồi mặc lấy hình hài nô lệ không? Hay bài thánh ca bắt đầu với việc Đức Kitô đồng thời vừa mang hình hài (hình ảnh) Thiên Chúa (điều này không tương tự như ngang hàng với Thiên Chúa) vừa là con người dưới hình hài nô lệ, và sự chuyển hoá này có bao gồm việc chấp nhận hình hài một người nô lệ hơn việc cố nắm lấy việc trở nên ngang hàng với Thiên Chúa không? Nói cách khác, bài thánh ca có chấp nhận việc nhập thể của một nhân vật Thiên Chúa giống như Lời Tựa của Gioan không, hay là có vỡ kịch nào nói về hai-nhân-vật-Ađam (tức là các mô hình nguyên mẫu con người), Ađam trong sách Sáng Thế mang hình ảnh Thiên Chúa, nhưng vì quá tham lam, cố gắng leo lên địa vị cao hơn, nên bị hạ xuống vì tội lỗi của mình; và Đức Kitô đã ở trong hình ảnh Thiên Chúa, nhưng vì khiêm nhường đã chọn hạ mình xuống thấp hơn, cuối cùng đã được siêu tôn và được tặng ban danh hiệu Thiên Chúa không (2,9-11)?[24] Nếu bài thánh ca nói về sự nhập thể và được trình bày ở thập niên 30, thì loại hình Kitô học cao nhất này của Tân Ước đã thực sự lan truyền rất sớm.
  • Mặc dù bản thân bài thánh ca mang tính Kitô học, nhưng trong mạch văn tu đức thì nó mang tính cứu độ học,[25] tức là, nó thúc đẩy những người nhận thư, vì ơn cứu độ của mình, bước theo Đức Kitô được siêu tôn. Thay vì tìm kiếm lợi lộc của bản thân và tìm cách cải thiện bản thân (2,3-4), các tín hữu Philípphê phải có tấm lòng của một Đức Kitô, Đấng đã cho thấy rằng con đường dẫn đến Thiên Chúa không phải là cố leo lên bậc thang cao hơn (“xu hướng hay thay đổi”) nhưng trở nên khiêm nhường, vâng phục Thiên Chúa, cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự.

NƠI VÀ NĂM BIÊN SOẠN

Chúng tôi tìm được những thông tin sau đây ở Philípphê cho thấy hoàn cảnh của Phaolô khi ngài viết thư này:[26]

(a*) Ngài đang ở tù (1,7.3.17).

(b) Nơi ngài bị giam có các thành viên của pháp quan cận vệ (1,13), cũng như các Kitô hữu trong “gia đình của Xêda” (4,22).[27]

(c) Phaolô có đề cập đến khả năng ngài sẽ chết (1,19-21; 2,17) ngay sau bản án khiến ngài bị bỏ tù không? Hay như một định mệnh luôn luôn có thể xảy ra với một nhà truyền giáo?

(d*) Tuy nhiên, ngài cũng hy vọng được giải cứu (1,24-25; 2,25).

(e*) Timôthê đang ở với Phaolô (1,1; 2,19-23).

(f) Các Kitô hữu với những động cơ khác nhau trong vùng này, một số người ghen tị với Phaolô, đã can đảm rao giảng Lời Chúa (1,14-18).

(g) Có những liên lạc thường xuyên giữa Phaolô và Philípphê thông qua các sứ giả qua lại:

  1. Tin tức đến được với các tín hữu Philípphê về việc Phaolô bị cầm tù;
  2. Họ đã gửi cho ngài một món quà thông qua Êpáprôđitô (4,15);[28] nhưng khi còn ở với Phaolô, ông ấy bị bệnh, đến nỗi suýt chết (2,26.30);
  3. 3. Tin tức đến được với các tín hữu Philípphê nói về bệnh tật của Êpáprôđitô;
  4. 4. Êpáprôđitô nghe biết rằng tin này làm cho các tín hữu Philípphê đau buồn;
  5. 5. Phaolô đã gửi hoặc hiện đang gửi Êpáprôđitô trở về Philípphê (2,25-30);
  6. 6. Phaolô hy vọng sẽ sớm cử Timôthê đến (2,19-23), và thực sự chính ngài đến với họ (2,24).

Những nơi nào trong cuộc đời của Phaolô được biết sẽ phù hợp với những chi tiết này?

TẠI XÊDARÊ (năm 58-60) – lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1799. Sau khi Phaolô bị bắt ở Giêrusalem, Cv 23,33-26,32 mô tả việc Phaolô bị điệu đến Xêdarê để bị xét xử trước mặt Phêlích, rồi bị bỏ tù, và ở lại đó suốt hai năm cho đến khi có vị tổng trấn mới, Phéttô, người đã xét xử và gửi ngài đến Rôma. Các chi tiết a, b, c, d ở trên có thể phù hợp với tình huống này, đặc biệt là khoảng năm 60, khi Phêlích đến và Phaolô có hy vọng được thả. Về điểm e, Timôthê lên đường đến Giêrusalem cùng với Phaolô và đi trước đến tận thành Trôa (20,4-5), nhưng trong sách Công vụ chúng ta không bao giờ nghe nói về ngài nữa. Chúng ta có nghĩ rằng ngài đã đến Giêrusalem, Xêdarê và ở với Phaolô trong hai năm không? Nói cách khác, theo điểm f, việc Phaolô bị giam giữ có khiến hoạt động truyền bá Tin mừng thù địch giữa các Kitô hữu ở Xêdarê mà chúng ta đã nghe trước đó trong Cv 21,8-14, bất chấp tất cả mọi người đều có vẻ ủng hộ Phaolô không? Khó khăn lớn nhất liên quan đến điểm g. Thành Philípphê cách Xêdarê khoảng 1500-1700 km bằng đường biển (không phải lúc nào cũng có thể đi) và hơn 1700 km bằng đường bộ thì rất khó khăn. Tất cả những cuộc hành trình qua lại từ Xêdarê đến Philípphê có hợp lý không?[29]

TẠI RÔMA (năm 61-63).[30] Cv 28,16.30 tường thuật rằng, Phaolô, sau khi bị điệu đến Rôma, vẫn bị quản thúc tại nhà riêng (một mình ngài với một người lính canh) trong hai năm với chi phí của ngài, và được phép rao giảng không bị ngăn cản.[31] Như ở Xêdarê, các chi tiết a, b, c, d có thể phù hợp với lúc ở Rôma; thực sự điểm b có thể phù hợp với lúc ở Rôma hơn. Về điểm e, không có bằng chứng nào trong Công vụ cho thấy Timôthê đã ở với Phaolô ở Rôma vào năm 61-63, và khoảng cách thời gian kể từ khi đề cập đến ngài lần cuối (tại thành Trôa) là lớn hơn; nhưng điểm f thì dễ thoả mãn điều kiện hơn ở Rôma, vì trong sách Công vụ, lời rao giảng của Phaolô được đề cập đến và chúng ta biết trong thư Rm 14 và 16,17-18 nói rằng các Kitô hữu có nhiều quan điểm khác nhau.[32] Một lần nữa, khó khăn lớn nhất liên quan đến điểm g. Từ Rôma đến Philípphê, tuyến đường bộ về phía Đông-Nam dọc theo tuyến đường Via Appia đến thành Brundisium, băng qua Biển Adriatic bằng đường thủy đến thành Makêđônia, và dọc theo tuyến đường Via Egnatia đến Philípphê sẽ dài hơn 1124 km; và một chuyến đi bằng đường biển dọc theo bờ biển phía Tây nước Ý, vượt qua biển Adriatic, cùng với việc lên xuống tàu tại eo biển Côrintô, và lên bờ phía Đông Hy Lạp (một tuyến đường có thể đã được đi nếu các đặc phái viên muốn đến thăm Hội thánh Phaolô tại Côrintô) sẽ dài hơn 1500 km. Dù theo giả thuyết Xêdarê, có thể quảng đường ngắn hơn so với những đoạn đường đó, nhưng chúng vẫn còn là một trở ngại lớn đối với tần suất các cuộc hành trình cần để giải thích chứng cứ của bức thư.

TẠI ÊPHÊXÔ (năm 54-56) – thuyết này được đưa ra vào đầu thế kỷ 20. Đây là một vấn đề, vì chúng ta không có bằng chứng cụ thể nào cho thấy Phaolô đã bị giam tù tại Êphêxô. Tuy nhiên, trong ba năm ở đó, Cv 19,23-41 đề cập đến một vụ bạo động, trong đó những người bạn đồng hành của Phaolô bị lôi ra trước các quan tòa, và chính Phaolô nói về cuộc chiến với các “thú dữ”[33] tại Êphêxô trong bối cảnh đe dọa đến tính mạng của ngài (1 Cr 15,32) và suýt phải nhận bản án tử hình khi ở Axia (2 Cr 1,8-10). Cũng trong 2 Cr 6,5; 11,23 (viết trước khi bị cầm tù tại Xêdarê và tại Rôma), Phaolô nói về việc ngài đã trải qua nhiều lần tù đày.[34] Vì vậy, việc ngài bị giam tại Êphêxô là một khả năng khác biệt, và rồi các điểm b, c, d, và f chắc chắn sẽ không có gì khác biệt.[35] Về điểm e, Timôthê chắc chắn ở với Phaolô tại Êphêxô (1 Cr 4,17; 16,10; Cv 19,22); cũng như các chi tiết trong điểm g phù hợp với Êphêxô hơn Xêdarê hay Rôma. Từ Êphêxô đến Philípphê là một cuộc hành trình trực tiếp bằng đường biển, hoặc bằng đường bộ đến thành Trôa và sau đó bằng đường biển, sẽ chỉ dài khoảng 645 km và phải mất bảy đến chín ngày đường. Hơn nữa, các tham chiếu liên quan đến Timôthê vừa được trích dẫn cho thấy Phaolô đã phái sứ giả đến Makêđônia khi ngài ở Êphêxô. Một ​​phản biện đối với thuyết Êphêxô là 1 Côrintô, được gửi đi từ đó, đề cập đến một cuộc lạc quyên được dành cho Hội thánh Giêrusalem trên toàn lãnh thổ truyền giáo của Phaolô, còn Philípphê thì không.[36] Nhưng nó cũng không được viết tại Galát[37] (hay Philêmon) nhưng được viết tại Êphêxô thì hợp lý hơn, dù việc lạc quyên đã được thực hiện ở vùng Galát (1 Cr 16,1). Thời gian lưu trú của Phaolô tại Êphêxô và sau đó đi đến Côrintô (sau đó đến Giêrusalem) kéo dài khoảng bốn năm. Việc thu gom và mang quà lạc quyên đến được Giêrusalem không phải là vấn đề cấp bách trong suốt thời gian qua, đặc biệt nếu trong thời gian đó ngài đang ở tù tại Êphêxô và có lẽ sẽ chết (rõ ràng là nếu không đến được Giêrusalem). Nó sẽ trở nên cấp bách hơn vào cuối thời kỳ ở Êphêxô khi Phaolô được ra tù và có thể lên kế hoạch cho chuyến đi của mình, và sau đó, khi ngài rời Êphêxô và hành trình qua Makêđônia đến Côrintô (xin xem 2 Cr 8-9; Rm 15,26-28 – tại thời điểm đó các Kitô hữu ở Makêđônia đã đóng góp). Thật vậy, lập luận về sự lạc quyên thực sự có tác dụng hỗ trợ đề xuất nơi biên soạn tại Êphêxô và ngày biên soạn là khoảng năm 55: Nếu thư Philípphê được biên soạn tại Xêdarê hoặc Rôma, thì cuộc lạc quyên thành công đó đã đi vào lịch sử; vậy tại sao khi kể lại câu chuyện về lòng quảng đại của các tín hữu Philípphê ở Pl 4,10-20, Phaolô không đề cập đến sự đóng góp của họ vào việc đó? Hơn nữa, trong 4,14-16, Phaolô nhớ lại những gì dường như nói đến chuyến viếng thăm đầu tiên và duy nhất của ngài ở Philípphê. Nếu ngài biên soạn ở Xêdarê hoặc Rôma, thì ngài đã đến Philípphê ít nhất ba lần (ghi chú số 3 ở trên).

Không sao có thể khẳng định vấn đề này; nhưng các luận cứ phù hợp nhất dường như nghiêng về Êphêxô, và luận cứ yếu nhất nghiêng về Xêdarê.

TÍNH DUY NHẤT:
MỘT HOẶC HAI HAY BA THƯ?

Mặc dù tính duy nhất trong nhiều thư Phaolô đã bị đặt vấn đề trong việc nghiên cứu không ngừng của học thuật, nhưng chỉ có hai chủ đề chính vẫn còn đang tranh luận trong thư 2 Côrintô và Philíphê. Bằng chứng ngoại và nội tại nào khiến không dám chắc chắn về tính duy nhất của thư Philípphê (bắt đầu bị đặt vấn đề vào cuối thế kỷ 19)? Về ngoại tại: vào giữa thế kỷ 2, Polycarp (trong thư Philippians 3,2) đề cập đến “các thư” của Phaolô gửi các tín hữu Philípphê.[38] Nếu chính xác, thì điều này có thể ám chỉ đến thư quy điển và những thư bị thất lạc, hoặc thư quy điển và thư thứ 2 Thêxalônica (Chương 26, ghi chú 9 dưới đây), hoặc dạng ban đầu của thư quy điển trước khi người biên tập chỉnh sửa, kết hợp một số thư thành một thư. Về nội tại: Pl 3,1b (“Viết đi viết lại cho anh em cũng bấy nhiêu điều, đối với tôi không phải là một gánh nặng“) cho thấy rằng Phaolô có thể đã viết thư cho các tín hữu Philípphê trước đó. Nếu đúng vậy, ngài đang đề cập đến một thư bị lạc mất hay đề cập đến một phần độc lập ban đầu của cái mà bây giờ được gọi là thư Philípphê? Ở cuối chương 2 (câu 23-30), Phaolô ám chỉ đến kế hoạch ra đi của mình, điều này ngài thường thực hiện khi kết thúc các thư; và “Cuối cùng” trong câu sau (3,1a) nghe như thể ngài sắp kết thúc bức thư; tuy nhiên, còn tiếp hai chương sau đó. Có hợp lý không khi đề cập đến việc trả ông Êpáprôđitô về (2,25-30) trước khi ông đến để mang quà cho Phaolô (4,18)? Một số người nghĩ rằng (có phải 3,lb-4,3 là phần được chèn vào từ một thư khác hay không) chỉ có 3,la và 4,4 đi với nhau sẽ phù hợp nhất; rồi sau đó, các đối thủ khác nhau được thấy trong thư Philípphê có thể được xếp vào các thư khác.

Đối với các thư được cho là đã lồng vào trong thư Philípphê, mẫu số chung trong một số giả thuyết là chương 3 đó[39] tạo thành toàn bộ hoặc một phần thư riêng biệt:

  • Hai Thư gốc ban đầu (G. Bomkamm; J. Gnilka; E. J. Goodspeed; L. E. Keck), ví dụ:
  1. 3,1b-4, 20: một lá thư do Êpáprôđitô mang đến cho Phaolô khi ngài nhận quà;
  2. 1,1-3,1a và 4,21-23: một lá thư sau khi Êpáprôđitô khỏi bệnh.[40]
  • Ba Thư gốc ban đầu (được nhiều người đồng ý hơn: W. Beare, J. A. Fitzmyer, R. H. Fuller, H. Koester; E. Lohse, W. Marxsen, W. Schmithals), ví dụ:
  1. 4,10-20: một lá thư cám ơn món quà mà Phaolô đã nhận từ các tín hữu Philípphê;
  2. 1,1-3,1a và 4,4-7.21-23: một lá thư khuyến khích họ sống xứng đáng và vui mừng trong Chúa;

III. 3,1b-4,3 và 4,8-9: một thư đính chính và luận chiến.

Chắc chắn Nội dung thư Philípphê (1,12-4,20; xem Phần Tóm Tắt) có sự pha trộn các tài liệu, trong đó Phaolô nói tới nói lui câu chuyện của mình (lúc ngài trong tù và mối tương quan của ngài với các tín hữu Philípphê thông qua Êpáprôđitô và Timôthê), các huấn từ và những lời cảnh báo chống lại các thầy dạy giả hiệu. Việc phân chia thành hai hoặc ba thư thực sự là một nỗ lực của các học giả để sắp xếp lại tài liệu đó một cách hợp lý và dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, người ta không thể tìm thấy trong thư Philípphê hai hoặc ba Công thức Mở đầu và Kết thúc riêng biệt, vì vậy nếu ban đầu có nhiều thư, thì người biên tập sẽ tóm tắt chúng. Hơn nữa, lôgíc của ngài trong việc di chuyển tài liệu qua lại (chẳng hạn: 4,8-9) và đan dệt các thư này thành một chuỗi không đúng quy tắc hiện tại vẫn chưa rõ ràng. Hỗ trợ cho tính duy nhất chính là điều mà Phaolô chỉ nói rất ít lời, còn cộng đoàn có nhiều ý tưởng được chia sẻ qua hai hoặc ba thư đưa ra. Do đó, gần như một số người  tương đương các học giả vẫn cho rằng hình thức hiện tại của thư Philípphê có nguồn gốc ban đầu. Người ta có thể đưa ra một định đề rằng, trong tù, Phaolô đã viết theo “dòng ý thức”, truyền lại những lời chân thành biết ơn của ngài vì những mối tương quan trong quá khứ và sự tận tâm hiện tại, những lời huấn từ và những lời sửa dạy mà họ đã luôn ghi nhớ trong lòng, nếu không muốn nói là được sắp xếp thành một chuỗi hoàn toàn lôgíc. Dù sao chăng nữa, cuộc tranh luận này[41] không nhất thiết phải để tâm nhiều đến những độc giả bình thường, những người trình bày theo lối chia mang tính học thuật; sẽ khôn ngoan hơn nếu đọc thư này theo trình tự hiện tại, và nhận ra rằng nó phản ánh các mối tương quan trong một khoảng thời gian và nhiều mối nguy hiểm hơn có thể hình dung ra.

CÁC VẤN ĐỀ CẦN SUY GẪM

(1) Khi thảo luận về tính duy nhất của Philípphê, tôi cho rằng cuộc tranh luận về việc liệu bức thư hiện tại có phải là một bản kết hợp từ hai hoặc ba thư gốc hay không, đó không phải là điều quan trọng lớn đối với hầu hết các độc giả. Sự xác định đó có lẽ được kiểm nghiệm qua nghiên cứu một trong các lý thuyết biên soạn và xét xem liệu có phương pháp nào mà trong đó nó ảnh hưởng đến nghĩa cơ bản của thư Philípphê hay không.

(2) Đây là một thực hành đáng giá để xem lại phương pháp mà trong đó Bài thánh thi Kitô học được in ra trong một số bản dịch Tân Ước hiện đại. Quyết định về số các khổ thơ và dòng được gán cho mỗi khổ thơ (ghi chú 19 và 20 ở trên) có ảnh hưởng gì trên nghĩa của chúng?

(3) Phaolô có vẻ tự bạch hoá đáng kể về thư Philípphê. Dựa vào nội dung của nó, Phaolô có những điểm mạnh nào trong vai trò một mục tử liên quan đến cộng đoàn ở Philípphê? Ngài rõ ràng là một người dùng bút chiến để đối phó với bọn thợ xấu trong 3,2tt. Những lời ngài nói có hiệu quả thế nào trong việc bác bỏ chúng? Vì ngài không có khả năng thay đổi quyết định của họ, nên khả năng tiếp cận của ngài để bảo vệ hoặc sửa dạy các tín hữu Philípphê mà cả ngài và họ đang đề cập đến phải như thế nào?

(4) Vì bị cầm tù, Phaolô đã suy niệm nhiều lần trong lá thư này về mối tương quan của ngài với Đức Kitô và qua đó, ngài tiết lộ “linh đạo” của mình. Chẳng hạn, Phaolô mời độc giả noi gương ngài (3,17) và gương Đức Giêsu Kitô (2,5). Thật vậy, ngay ở đầu thư, Phaolô tự xưng mình là nô lệ của Đức Kitô để chuẩn bị nói về Đức Kitô như một Đấng đã chấp nhận hay mặc lấy “hình hài nô lệ” trong 2,7. Lưu ý rằng việc noi gương không chỉ là việc gánh lấy thân phận làm người (2,13). Sự bắt chước như vậy trên thực tế đã đạt đến mức độ nào sau gần hai nghìn năm?

(5) Trong Công thức Mở đầu, Phaolô tự xưng với dân thánh ở Philípphê, “với episkopoi [các giám thị hay giám mục] và diakonoi [các thừa tác viên hay phó tế].” Cuộc thảo luận về hai nhóm chức vụ đó[42] đã được tô vẽ thêm do thái độ của các Kitô hữu thời hiện đại đối với các giám mục, có thiện chí và không có thiện chí. Để tránh sự có mặt quá sớm của các giám mục như vậy (trong đó không có chứng cứ trong các thư đệ nhất khác của Phaolô), một số học giả đã loại bỏ tư tưởng này vì cho rằng nó được thêm vào sau này hay tìm cách phát hiện ra sự coi thường của Phaolô đối với các chức sắc như vậy (ám chỉ nó trái với sự tự nhận của Phaolô và Timôthê, những người chỉ xưng mình là “những nô lệ” của Đức Kitô). Ngày nay, có nhiều học giả hơn cảnh báo rằng chức episkopoi trong thư Philíphê không giống với các chức vụ theo danh hiệu đó được mô tả vào thời sau đó trong các thư Mục vụ của thư đệ nhị Phaolô. (Chẳng hạn, vì chức episkopoi thuộc thế tục là nhân viên tài chính của các nhóm người. Có thể Phaolô đã trình bày cho những người đó ở Philípphê, những người đã giúp ngài quyên tiền hỗ trợ cho ngài không?) Tuy nhiên, trong thư Philípphê, không có nơi nào nói về điều đó; và do đó, tuyên bố của các học giả về các nhân vật này chỉ là phỏng đoán. Một thực hành hữu ích hơn, đó là sử dụng chứng cứ  trong các tác phẩm cùng thời với Phaolô, so sánh “các giám thị” ở Philípphê với những người “lãnh đạo  [proïstamenoi] anh em nhân danh Chúa” trong 1Tx 5,12, với những người “quản trị” (kybernēseis) trong 1 Cr 12,28, và với người “khuyên răn” (parakalōn) trong Rm 12,8. Thêm vào những điều đó, còn có Cv 12,17; 15, 2.4.6.22.23; 21,18 tường thuật về Giacôbê và các kỳ mục hay trưởng lão tại Giêrusalem. Có vẻ như các Hội thánh ở thập niên 50 đã được cơ chế hoá, nhưng không theo cùng một cách hay với các chức danh được sử dụng phổ biến.

(6) Sau khi suy ngẫm về những quan điểm khác nhau được tường thuật trong phần phụ ở trên về Kitô học của bài thánh thi trong 2,5-11, người ta có thể so sánh các chủ đề trong đoạn đó với các đoạn của các thư đệ nhất Phaolô và các thư đệ nhị Phaolô khác, chẳng hạn như 1 Cr 8,6; 2 Cr 5,18-19; 8,9; Rm 5,12-19; Cl l,l8-20.

(7) Phaolô tự nhận mình là người Pharisêu (3,5; xem Cv 23,6); và do đó, ngay cả trước khi tin vào Đức Giêsu, ngài đã tiên đoán có sự phục sinh của kẻ chết. Chúng ta đã thấy một sự thay đổi niềm tin nơi ngài trong 1Tx 4,15-17, nơi ngài khẳng định rằng những kẻ chết trong Đức Kitô sẽ sống lại để gặp Người vào ngày quang lâm. Tuy nhiên, ngay cả trước ngày quang lâm, Phaolô nghĩ rằng nếu ngài từ giã cuộc đời này, ngài sẽ được ở với Đức Giêsu Kitô (Pl 1,23). Trong 3,11, có lẽ theo lối hùng biện, ngài nói: “Nếu có thể, tôi sẽ được sống lại từ cõi chết.”[43] Làm thế nào để người ta dung hòa được những kỳ vọng này? Bằng phương thức nào, những kỳ vọng như vậy thuộc một phần trong niềm hy vọng của các Kitô hữu ngày nay?

(8) Hoàn cảnh xã hội tại Philípphê khi Phaolô lần đầu tiên đến có lẽ phù hợp hơn với nghiên cứu Cv 16,12-40, nhưng bà Lyđia nổi bật ở đó ngay cả khi chị Êvôđia và Xintikhe rất quan trọng trong cộng đoàn mà Phaolô đã viết cho 5-10 năm sau đó (Pl 4, =2). Thomas và Portefaix cung cấp tài liệu mời gọi suy niệm say mê về những gì Tin mừng Đức Kitô có lẽ muốn nói về các phụ nữ ở thành phố Rôma này, nơi lần đầu tiên ở Châu Âu được Phaolô phúc âm hoá.

[1] Lịch sử sơ khai của thành phố này (được Philíp II, cha của Alexander Đại đế, đưa vào dưới quyền thống trị của người Makêđônia vào năm 356 TCN, và được đặt theo tên của ông; sau đó được đặt dưới quyền kiểm soát của quân Rôma vào năm 168 TCN) không phù hợp với mục đích của chúng ta. Cv 16,12 mô tả chính xác nó như là một kolōnia (một khu định cư của quân đội Rôma đã về hưu). Tiếng Latinh là ngôn ngữ chính thức, nhưng các quan hệ thương mại với các thành phố lân cận, muốn nói rằng, tiếng Hy Lạp cũng được sử dụng. Thành Philípphê được quản lý bằng luật ius italicum hay luật Rôma có thể áp dụng trong nước Ý. Điều đó có thể giải thích tại sao trong Cv 16,38-39, khi các quan tòa phát hiện ra rằng họ đã ngược đãi công dân Rôma (Phaolô và Xila), họ phải xin lỗi. Cv 16,12 cũng mô tả thành Philípphê là “thành phố đầu tiên hay hàng đầu của quận Makêđônia”, nhưng nó không phải là thủ phủ của quận này hay của tỉnh (tương ứng như Amphipôlít và Thêxalônica, được đề cập trong Cv 17,1).

[2] Bằng chứng khảo cổ học (V. Abrahamsen, BA 51 [1 988]. 46-56) về các giáo phái Thracian bản địa và phía Đông bên ngoài thành phố La Mã đã dẫn đến suy đoán rằng người Do Thái cũng thờ cúng ở đó, từ đó có sự hiện diện bên ngoài cổng thành của bà Lyđia và Phaolô. Thyatira ở trong thành Lydia, và người nô lệ đôi khi được đặt tên sau tên quê mình. Vì những người giàu có (đặc biệt là phụ nữ trong gia đình) mua vải điều nên bà Lyđia chắc chắn có mối quan hệ thân thiện với Phaolô ở Philípphê.

[3] Cv 17,1. Có phải Phaolô đã từng đến Philípphê một lần nữa kể từ lần viếng thăm đầu tiên đến thời điểm ngài viết thư Philípphê không? Nếu ngài biên soạn thư ở Êphêxô, thì chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy ngài đã đến Philípphê một lần khác trước khi đến Êphêxô để ở đó ba năm (54-56); nhưng ngài có lẽ đã đến thăm Makêđônia và Philípphê trong thời gian lưu trú ở đó (Chương 23 dưới đây, ghi chú 3). Nếu Phaolô biên soạn thư Philípphê ở Xêdarê hoặc Rôma (58-60 hoặc 61-63), thì ngài đã đến Makêđônia sau khi ngài lưu lại Êphêxô, rồi lên đường đến Côrintô (khoảng 57, Cv 19,21; 20,1; 1 Cr 16,5; 2 Cr 2,13; 7,5) và sau đó (đặc biệt với Philípphê) sau khi ngài ở Côrintô, trên đường đến Xêdarê và Giêrusalem (khoảng 58, Cv 20,3,6; Rm 15,25- 26?).

[4] Ngoài cách phân chia thư Philípphê được đề xuất ở Phần Tóm Tắt, còn có một cách sắp xếp theo phép đối ngẫu được đề nghị của A. B. Luter và M. V. Lee, NTS 41 (1995), 89-101, trong đó Lời Tựa trong 1,3-11 khớp với Lời Kết ở 4,10-20; 1,12-26 đến 4,6-9, v.v.

[5] Pl 1,7.13.17; 4,10. Tôi chấp nhận toàn bộ giả thuyết cho rằng Phaolô đã viết thư Philípphê ở Êphêxô vào khoảng năm 56; còn trong các giả thuyết khác (Xêdarê [58-60], Rôma [61-63]), các tín hữu Philípphê hỗ trợ cho Phaolô thậm chí còn kéo dài lâu hơn – lên tới mười năm! Phaolô tự lo cho bản thân hơn là xin tiền ở các thành viên của cộng đoàn khi ngài đang còn làm việc giữa họ; nhưng dường như một khi ngài cảm động, ngài cũng nhận tiền hỗ trợ cho mình để tiếp tục sứ vụ của ngài ở nơi khác.

[6] Sự cạnh tranh giữa các nhà giảng thuyết hoặc ít là giữa những kẻ về phe họ dường như diễn ra phổ biến trong các cộng đoàn sơ khai này. Theo 1 Cr 1,11-12 các nhóm ở Côrintô được hình thành quanh Phaolô,  Apôlô và Kêpha (Phêrô). Cv 18,24-28 cho biết rằng ngay trước lúc Phaolô đến Êphêxô lưu lại ba năm (54-56), thì Apôlô đã ở đó (và rồi chuyển qua Côrintô: Cv 19,1).

[7] R. E. Otto, CBQ 57 (1995), 324-340.

[8] Có tới 18 kiểu phân tích khác nhau về các đối thủ đã được đề xuất (xem Gunther, St. Paul’s 2). Một vài người trong đám đông thì không cần nói đến. Những ai rao giảng Đức Kitô vì ghen tị với Phaolô (1,15-18) có lẽ diễn ra tại nơi ngài bị giam, không phải ở Philípphê.

[9] Phaolô nhờ ai đó (“Người bạn chân thành thật sự của tôi”) can thiệp vào cuộc tranh chấp; không rõ điều đó muốn nói người bạn “đồng lao cộng khổ với tôi” hay anh “Sidigô” chân thật của tôi. Đây có phải là “bạn đồng hành của chúng tôi” trong Cv 16,10-16, người đã cùng Phaolô đến Philípphê vào năm 50-51 và dường như ở đó cho đến năm 58 (20,6)? Xem trang 325 ở trên.

[10] Việc Phaolô sử dụng từ ngữ này có thể chỉ phản ánh một danh từ quen thuộc của người Do Thái (Is 56,10-11; Mt 7,6; Mc 7,27). Tuy nhiên, một số người thấy ở đây đề cập đến những nhà giảng thuyết theo chủ nghĩa hoài nghi vì danh từ “Cynic” (Kynikos) có nguồn gốc từ những danh từ mang tính miệt thị, như là từ kyōn, kynos, “con chó”, được cho là phản ánh hành vi kinh tởm nơi công cộng (tiểu bậy và thủ dâm) của họ theo nghĩa bút chiến. Tuy nhiên, theo mạch văn của thư Philípphê thì nó không nhắm đến hành vi như vậy.

[11] Điều gì đó pha trộn với điều mà tôi đặt tên là đối thủ thứ hai và thứ ba. M. Tellbe, JSNT 55 (1994), 97-121, lập luận rằng những người theo đạo Do Thái đang cố gắng thuyết phục các tín hữu Philípphê rằng nếu họ chịu cắt bì, thì họ sẽ được người La Mã xử khoan dung như những người Do Thái.

[12] O. J. Doughty, NTS 41 (1995), 102-22, lập luận rằng 3,2-21 không đề cập đến tình huống cộng đoàn cụ thể liên quan đến các đối thủ thực sự; đúng hơn nó là đặc điểm của những người ngoài cộng đoàn trong thời các thư Phaolô đệ nhị.

[13] Luận đề này liên quan đến việc phát hiện ra bối cảnh ngộ đạo trong bài Thánh Thi Kitô Học 2,5-11, và liên quan đến việc sử dụng từ gnōsis trong 3,8, đến việc chỉ ra “nhiều người sống đối nghịch với thập giá” trong 3,18 (theo nghĩa phủ nhận Chúa Giêsu đã chết trên thập tự giá và do đó bác bỏ sự phục sinh).

[14] H. Koester, NTS 8 (1961-1962), 317-332, trả lời một cách chắc chắn rằng: Các nhà truyền giáo gốc đạo Do Thái rao giảng sự hoàn hảo dựa trên Lề Luật và các tục lệ đạo Do Thái – một sự hoàn hảo mà họ đã đạt được.

[15] Cl 3,16; Ep 5,19; thêm Cv 16,25; Hr 2,12; 1 Cr 14,15.26; Gc 5,13. “Thánh Vịnh” là một sáng tác của Kitô giáo, rõ ràng được cho là có thể so sánh với các Thánh Vịnh Cựu Ước. Bức thư của Pliny gửi Trajan (10,96-97) vào khoảng năm 110, nói rằng các Kitô hữu gặp nhau trước bình minh vào một ngày đã định và hát luân phiên nhau (đối đáp?) “một bài thánh thi tôn vinh Đức Kitô là Thiên Chúa.” Tuyển tập thánh thi Kitô giáo được lưu truyền sớm nhất có thể là Thánh Vịnh Salomon, một tuyển tập của người Kitô hữu gốc Do Thái bằng tiếng Syriac ở thế kỷ thứ 2. Bài thánh thi của người Kitô hữu có chú thích điệu nhạc được bảo tồn sớm nhất dường như là Oxyrhynchus Papyrus 1786 ở đầu thế kỷ thứ 3.

[16] Ranh giới giữa các thánh thi và công thức tuyên xưng là không chính xác. Để tìm ra các bài thánh thi, một tác phẩm tiên phong bằng tiếng Đức, E. Norden, Agnostos Theos (Leipzig: Teubner, 1913). Trong một thư mục lớn, hãy xem J. T. Sanders, The New Testament Christological Hymns (SNTSMS IS; Cambridge Univ.. 1971); E. Stauffer, NT Theology. 338-339; M. Hengel. “Hymn and Christology,” Studia Biblica 1978 (JSNTSup 3; Sheffield: Academic, 1980), 173-197; E. Krentz, BR 40 (1995), 50-97.

[17] So sánh Ep 5,19 (“với Đức Chúa”) với Cl 3,16 (“với Thiên Chúa”); Kh 4,8-11 (với “Đức Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng“) đến 5,9 (một bài hát mới ca mừng Con Chiên).

[18] R. MacMullen và E. N. Lane, Paganism and Christianity 100-425 C.E. (Minneapolis: A/F, 1992), bao gồm một số bài thánh thi cổ.

[19] Về thư mục, xin xem R. P. Martin, The Song of Christ, Philippians 2,5-11 in Near Interpretation (ed. 2; Grand Rapids, Eerdmans, 1983); cũng xem N. T. Wright, JTS NS 37 (1986), 321-352.

[20] Vì thế, các khổ thơ khớp với các câu như sau: khổ A = câu 6; B = 7a-c; C = 7d-8b; D = 9; E = 10; F = 11. “Cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” trong câu 8c được xem là phần thêm vào thánh thi gốc của Phaolô. (Về bố cục phần phụ hay các câu được biểu thị bằng các chữ trong bảng chữ cái [7a,b,c,d], xem trang xxxii ở trên.)

[21] Như vậy: A = 6-7b; B = 7c-8b; C = 9-11. Ngoài câu “Cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (8c), “cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ” trong câu 10c và “và để tôn vinh Thiên Chúa Cha” trong llc đều được coi là phần thêm vào của Phaolô.

[22] Danh sách sáu đề xuất: D. Seeley, JHC I (1994), 49-72, lập luận rằng bài thánh thi tương phản với người Tôi Tớ trong Isaia và người thống trị thế giới Hy-La được tôn thờ như Thiên Chúa và Đấng Toàn Năng.

[23] Xem J. A. Fitzmyer, CBQ 50 (1988), 470-483; cũng là bản tóm tắt của ngài trong NJBC 82.48-54.

[24] Xem BINTC 133-35. Những cách giải thích về sự nhập thể trong L. D. Hurst, NTS 32 (1986), 449-457; C. A. Wanamaker, NTS 33 (1987), 179-193; không nhập thể trong J. Murphy-O’Connor, RB 83 (1976), 25-50; G. E. Howard, CBQ 40 (1978), 368-387; xem thêm J.D.G. Dunn, Christology in the Making (ed. 2; London, SCM, 1989).

[25] Thật không may, bài thánh thi này thường được nghiên cứu riêng mà không đề cập đến vị trí của nó trong dòng tư tưởng của bức thư. Về bối cảnh đó, hãy xem Kurz, “Kenotic”; và M. D. Hooker trong Jesus und Paulus, eds. E. E. Ellis và E. Grässer (Göttingen, Vandenhoeck & Ruprecht, 1975), 151-164.

[26] Dấu hoa thị biểu thị những đặc điểm ở Philípphê cũng đúng trong toàn bộ hoặc một phần trong tình huống của Phaolô khi ngài biên soạn thư Philêmon (Chương 21 dưới đây). Đối với thư Philípphê, nếu nó bao gồm các thư gốc của hai hay ba thư (xem phần phụ sau đây), thì một thư có thể được viết ở nơi này và một thư khác được viết ở nơi kia. (Ví dụ, chương 3 không đề cập đến việc bị giam tù.) Nhưng đó là một khả năng quá khó kiểm soát đối với mục đích của chúng ta ở đây.

[27] Chẳng hạn, các quan chức, tôi tớ và nô lệ dưới sự quản trị và/hoặc sự phục vụ của hoàng đế, cả ở Rôma và trên toàn Đế quốc.

[28] Người ta có thể đã bỏ tù Phaolô sau khi Êpáprôđitô đến, nếu có chuyện đó các tín hữu Philípphê sẽ gửi quà chỉ để giúp đỡ Phaolô hoạt động truyền giáo (giống như món quà họ gửi cho ngài khi ở Thêxalônica [Pl 4,16]).

[29] Kế hoạch ban đầu của Phaolô là từ Giêrusalem, ngài đi Rôma và Tây Ban Nha (Rm 15,24-28); và nếu ngài được phóng thích khỏi Xêdarê, thì thành Philípphê cũng trên con đường đi của ngài miễn là ngài muốn ghé thăm các giáo hội mà ngài đã phúc âm hoá ở duyên hải Tiểu Á và Hy Lạp. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng tác giả Công vụ, nguồn chứng cứ duy nhất của chúng ta nói về việc tù đày của ngài tại Xêdarê, miêu tả Phaolô không có hy vọng nhiều trong việc quay trở lại vùng Tiểu Á đó (Cv 20,25.38).

[30] Điều này cũng đã được đưa ra trong Lời tựa của Marcion (khoảng năm 200?) và vẫn giữ nguyên tính truyền thống cho đến thời hiện đại, một phần vì thư Philípphê được liên kết với Côlôxê, Êphêxô và Philêmon như bốn thư trong tù (và Timôthê là người cùng gửi cả hai thư Philípphê và Côlôxê). Theo giả thuyết đó, Côlôxê và Êphêxô phù hợp nhất đối với giai đoạn cuối trong sự nghiệp của Phaolô (thập niên 60). Nếu được coi là sớm hơn một chút so với các thư khác, thì thư Philípphê đã có năm biên soạn trong thời điểm bắt đầu bị giam ở La Mã.

[31] C. S. Wansink, Imprisonment for the Gospel: The Apostle Paul and Roman Prisons (JSNTSup 130; Sheffield: Academic, 1996). Có lẽ việc Phaolô bị tù ở Rôma đã được 1 Clêmentê  5,7 ghi lại (thư này được biên soạn tại hội thánh Rôma khoảng năm 96 SCN): “Sau khi đi đến bờ Tây [xem Cv 1,8], và sau khi làm chứng trước các nhà cầm quyền, ngài đã rời khỏi thế gian này và được đưa đến thành thánh [tức là Thiên Đàng].”

[32] Pl 1,15 nói về một số người rao giảng vì phthonos (“ghen tị, nhiệt thành”); 1 Clêmentê 5,2 cho biết vì phthonos mà những trụ cột lớn nhất (của giáo hội: Phêrô và Phaolô) đã bị bắt và giết chết (tại Rôma).

[33] A. J. Malherbe, JBL 87 (1968), 71-80, coi các “thú dữ” là cách Phaolô sử dụng ngôn ngữ bút chiến truyền thống đối với các đối thủ. Tuy nhiên, vì Ignatiô, trong thư Romans 5,1, sử dụng ngôn ngữ này để mô tả việc chính ngài bị bắt và bị giao cho lính canh giữ, chuyển từ Syria đến Rôma, nên với Phaolô, liệu ngài có thể vượt qua các đối thủ hung hãn và ám chỉ cụ thể đến những kẻ đã giam giữ ngài tại Êphêxô không?

[34] 1 Clêmentê 5,6 theo truyền thống cho biết rằng Phaolô đã bị bắt trói bảy lần. Sau này, khi ngài đi Giêrusalem vào năm 58, có phải ngài tránh Êphêxô (Cv 20,16-17) là do ngài đã từng bị giam ở đó và có thể bị bắt lại không?

[35] Đối với điểm b, Êphêxô là thành phố quan trọng nhất của tỉnh Châu Á thuộc Rôma và là nơi đặt trụ sở của vị thống đốc, do đó sẽ có nhiều người La Mã ở đó, bao gồm một praitōrion (lính cận vệ). “Gia đình Xêda” (ghi chú 27 ở trên) có thể ám chỉ các nhân viên của ngân hàng đế quốc ở Châu Á.

[36] Mặt khác, như được chỉ ra trong toàn bộ chương này, có những điểm rất giống nhau giữa thư Philípphê và 1 Côrintô.

[37] Gl 2,10 cho thấy rằng Phaolô đã đồng thuận trong cuộc họp ở Giêrusalem (khoảng năm 49 SCN) khi nhớ đến những người nghèo, nhưng ở Galát không nói gì đến kế hoạch quyên tiền của Phaolô tại các hội thánh khác để  chuyển đến Giêrusalem như đã nêu ra trong các thư năm 56-58 SCN.

[38] Tuy nhiên, thư Philípphê 11,3 (chỉ được lưu giữ trong tiếng Latinh) dường như ám chỉ về phần đầu của “bức thư” (số ít) do Phaolô viết.

[39] Được mô tả nhiều cách khác nhau như khởi đầu ở câu 3,1b hoặc 3,2 và kết thúc ở câu 3,21 hoặc 4,1. Những ai tách 3,1 ra thành hai phần thường xem phần đầu của câu này (3,1a) quay trở lại chương 2, và phần thứ hai (3,1b) hướng tới những cảnh báo sắp được đưa ra.

[40] Một biến thể được đưa ra cho thấy trong I: 1,1-3,1a và 4,2-7.10-23 (một lá thư mục vụ được viết ra sau cả hai sự kiện trên) và II: 3,1b-4,1 và 4,8-9 (một lá thư bút chiến đã được viết ra sau khi Phaolô được phóng thích và các thầy dạy giả hiệu đến).

[41] B. D. Rahtjen, NTS 6 (1959-60), 167-173, khẳng định có ba bức thư; và B. S. Mackay, NTS 7 (1960-61), 161-170, bác bỏ điều đó. Collange, Philippians, khẳng định có ba bức thư; và W. J. Dalton, Biblica 60 (1979), 97-102, bác bỏ điều đó. T. E. Pollard, NTS 13 (1966-67), 57-66, tìm theo dấu vết về các liên kết chủ đề xuyên suốt thư Philípphê; và J. T. Reed, JBL 115 (1996), 63-90, cho rằng 3,1 không cho biết một thư khác mà cho biết một kiểu nói do dự về một sự thay đổi trong chủ đề.

[42] Collange và Soards đặt các từ này vào vị trí sao cho “các giám thị” và “thừa tác viên” chỉ đề cập đến một nhóm người. Thừa tác viên trong thư Phaolô là một vấn đề phức tạp, ví dụ, xem Ellis, Pauline Theology.

[43] Xem R. E. Otto, ghi chú số 7 ở trên.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục