danvienxitochauthuy

Dẫn Vào Thư Philêmon (Raymond E. Brown)

Trích dịch từ cuốn sách: “An Introduction to the New Testament

Tác giả: Raymond E. Borwn

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist 

THƯ GỬI CHO PHILÊMON

Khi nói Phaolô là tác giả của thư này không gây ra tranh luận nhiều, ngay cả với những người cho rằng ngài không viết thư Côlôxê, một lá thư có cùng bối cảnh và nhiều nhân vật (dramatis personae) giống với Philêmon. Thường thì họ giả thiết rằng, lấy cảm hứng từ thư chính lục Philêmon, tác giả có bút danh đã vẽ ra bối cảnh cho thư Côlôxê. Chắc chắn vấn đề được đặt ra là: tại sao cả hai thư không thể là thư mạo danh; nhưng câu hỏi ngược lại là tại sao ai đó lại phải bận tâm để soạn ra thư Philêmon, một ghi chú với mục tiêu hẹp hòi như vậy, và gán nó cho Phaolô. Một suy đoán như vậy để lại nhiều điều tò mò; nhưng trong phần Dẫn nhập này, mục đích duy nhất của tôi là giúp độc giả làm quen với những gì có vẻ hợp lý đối với đa số học giả lớn: chấp nhận Phaolô là tác giả của thư chính lục Philêmon, khác với thư Côlôxê. Sau phần trình bày Bối cảnhPhân tích tổng quát, tôi sẽ dành các phần phụ để trình bày về Ảnh Hưởng của Xã hội lên Quan điểm của Phaolô về Chế độ Nô l, rồi đến phần Nơi chốn và Thời gian viết thư, Sự nghiệp sau này của Ônêximô, Các vấn đề cần suy gẫm, và cuối cùng là Thư mục.

BỐI CẢNH

Đây là bức thư ngắn nhất trong các thư Phaolô (chỉ có 335 từ), và có hình thức gần giống với mẫu thư của Hy Lạp thông thường, đặc biệt là đối với các thư xin can thiệp.[1] Tuy nhiên, chúng ta nên cẩn thận, không nên đánh giá nó đơn giản chỉ như một thư cá nhân này gửi đến cá nhân khác để xin một đặc ân. Là một người sống lâu năm[2] và chịu nhiều đau khổ trong khi phụng sự Đức Kitô, Phaolô đang viết thư cho người đứng đầu một hội thánh tư gia, hoặc ngay cả cho một hội thánh có chủ nhà là người đứng đầu (vì Phaolô lường trước được áp lực cộng đồng lên Philêmon). Ngài viết thư trong lúc ở tù, tức là một người đã hy sinh tự do của mình vì Đức Kitô, để xin cho người khác được tự do; và trong từng dòng chữ ẩn dưới bề mặt là thách đố cơ bản đối với tầng lớp xã hội giữa chủ-tớ được cung cấp nhờ mối tương quan đã thay đổi mà Tin mừng đưa ra. Môn Phê bình văn chương và xã hội học đã giúp làm phong phú thêm nghiên cứu bức thư này (Petersen), nhưng Soards đã đúng khi nhấn mạnh đến tính ưu việt của chiều kích thần học.

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: khoảng năm 55 nếu viết ở Êphêxô; năm 58-60 nếu viết ở Xêdarê (không thể xảy ra); năm 61-63 nếu ở Rôma.

NGƯỜI NHẬN THƯ: ông Philêmon cùng với Apphia (vợ ông), Áckhíppô và hội thánh tại nhà Philêmon.

TÍNH XÁC THỰC, TÍNH DUY NHẤT, VÀ TÍNH TOÀN VẸN: không có nhiều tranh luận.

BỐ CỤC THEO HÌNH  THỨC:

A. Công thức Mở đầu: 1-3

B. Lời Cảm tạ: 4-7

C. Nội Dung: 8-22 (21-22 có thể được coi là Phần kết nội dung hoặc Phần Kết thúc.

D. Công thức Kết thúc: 23-25

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG (và cấu trúc tu từ):

1-3: Người nhận, lời chào

4-7: Lời Cảm tạ đóng vai trò như một đoạn mào đầu (exordium) để thuyết phục Philêmon qua lời ca ngợi.

8-16: Kêu gọi Philêmon rộng lượng nhân danh ông Ônêximô (lời xác nhận).

17-22: Lặp lại và mở rộng lời kêu gọi (kết thúc)

23-25: Lời chào kết thúc và chúc lành

Vì thư này đề cập đến một người nô lệ, nên xin có một vài nhận xét chung về chế độ nô lệ vào thời của Phaolô có lẽ cũng phù hợp trước khi chúng ta xem xét tình huống cụ thể. Xã hội ở các tỉnh của Đế quốc Rôma nơi Phaolô tiến hành hoạt động truyền giáo được phân tầng rõ ràng. Ở cấp cao, người Rôma được Thượng viện hoặc hoàng đế bổ nhiệm để quản lý tỉnh về mặt chính trị, tài chính và quân sự; ở cấp tiếp theo sẽ đến giai cấp đặc quyền địa phương (thông qua di truyền hoặc tiền bạc); tầng lớp sau đó là các điền chủ nhỏ, chủ cửa hàng và thợ thủ công. Những người này sẽ được xếp theo thứ hạng xã hội theo thứ tự: những người tự do và phụ nữ tự do, những người đã được giải phóng khỏi ách nô lệ thông qua hành động của chủ nhân của họ hoặc bằng cách chuộc lại tự do của chính họ; và sau đó tầng lớp thấp nhất sẽ là vô số người nô lệ với những người có liên quan mật thiết đến phúc lợi kinh tế của Đế quốc. (Kết quả thảm khốc của cuộc nổi dậy của những người nô lệ ở Ý do Spartacus lãnh đạo vào năm 73-71 TCN cho thấy rằng bất kỳ đề xuất nào về việc bãi bỏ chế độ nô lệ đều có tiềm năng gây lung lay đế chế.) Mọi người trở thành nô lệ theo nhiều cách khác nhau: nhiều người bị bắt làm tù binh trong chiến tranh; những người khác bị những kẻ săn nô lệ bắt cóc; vẫn còn những người khác bị bắt làm nô lệ vì nợ nần; và tất nhiên, có những đứa trẻ được sinh ra từ những người nô lệ. Chế độ nô lệ mà nhiều độc giả Kinh Thánh nói tiếng Anh quen thuộc nhất là chế độ nô lệ của người da đen ở Mỹ, nhưng tình hình ở Rôma thì phức tạp hơn. Trong danh mục chung, hình thức sống nô lệ nặng nề nhất mà họ phải chịu đựng là những người làm công việc lao động chân tay nặng nhọc, chẳng hạn, trong hầm mỏ, xây dựng công trình và chèo thuyền trên các con tàu. Ngược lại, nhiều người làm việc trong các hộ gia đình cho những ông chủ thấu hiểu sẽ không bị thiệt thòi nhiều hơn những người hầu trong các gia đình giàu có ở Anh vào cuối thế kỷ vừa qua mà những người theo dõi truyền hình biết đến qua bộ phim “Upstairs, Downstairs.” Ở cấp độcao là những người nô lệ có giáo dục cao, những người quản lý bất động sản hoặc công việc kinh doanh của ông chủ, dạy trẻ con, và thậm chí kiếm tiền cho riêng mình. Đây là nhóm người nhờ khả năng của mình, họ giành được hoặc được trao quyền tự do.

Tình trạng nô lệ cụ thể liên quan trong thư Philêmon được  Phaolô, Philêmon và Ônêximô biết rõ. Thật không may, các giả định không được công khai nói ra và các chuỗi biến cố phải được tái tạo từ các gợi ý. (Để đánh giá tình hình, chúng ta phải chú ý không chỉ đến những tên riêng được sử dụng để xác định nhân vật chính mà còn những tước hiệu cho biết vai trò Kitô hữu của họ.) Một sự tái tạo hợp lý, ấy là Philêmon đúng là một Kitô hữu, Apphia là vợ ông, và Áckhíppô thân thiết với ông;[3] Nhà của Philêmon là nơi hội họp của một hội thánh tại gia. Không rõ Phaolô đã từng gặp riêng Philêmon chưa;[4] tuy nhiên, ít nhất, việc truyền bá Tin mừng trong khu vực Philêmon sinh sống có lẽ là kết quả do sứ mệnh của Phaolô, cũng có lẽ nhờ những người bạn của Phaolô (câu 23-24 nói đến Êpápra?). Ônêximô là một người nô lệ của Philêmon, người này dường như đã bỏ trốn khỏi nhà Philêmon.[5] Chữ “sinh ra” trong câu 10 gợi ý rằng Phaolô (gần đây) đã hoán cải ông ta. Tại một thành phố khác, có phải ông bị tống vào tù (nhưng không phải như một kẻ trốn chạy hoặc ông sẽ bị đưa trở về), và có phải ở đó ông đã gặp Phaolô, người đã truyền đạo cho ông không? Hay cuộc gặp gỡ này có chủ ý: nếu không bị giam tù, thì một kẻ chạy trốn như ông đã phải tìm sự trợ giúp từ một nhóm Kitô hữu (và từ Phaolô, người mà ông đã nghe ông chủ nói đến) tại một thành phố xa lạ nơi ông đang gặp khó khăn? Trong bất cứ trường hợp nào, việc Phaolô chịu trách nhiệm về cuộc sống mới được cả Philêmon và Ônêximô chia sẻ là nền tảng cho thông điệp được lên chương trình để tìm ra những hiệu quả cho thực tại thần học đó trên bình diện xã hội.

PHÂN TÍCH THÔNG ĐIỆP TỔNG QUÁT

Thư này được viết ra để thuyết phục. Nó được trình bày rất sắc bén; hầu hết mọi câu đều ám chỉ một điều gì đó nhiều hơn những gì được nêu ra. Thật vậy, một số người đã phát hiện ra các quy tắc và kỹ thuật tu từ nổi tiếng. Trong các câu 4-7, tạo thành một kỹ thuật tu từ captatio benevolentiae, Phaolô tâng bốc Philêmon (không nhất thiết là giả dối) bằng cách cho biết những điều ngài đã nghe về tình yêu và đức tin của ông – nghe Êpápra và / hoặc Ônêximô thuật lại, hoặc từ một số người trong nhóm Phaolô biết đến một nhân vật xuất sắc như vậy không? Sau đó, trong câu 8, Philêmon được nhắc nhớ cách gián tiếp về quyền tông đồ của Phaolô; tuy nhiên theo ý muốn của Phaolô, thư này là một thư kêu gọi tha thứ cho Ônêximô (10). Mặc dù ông là con của Phaolô trong Đức Kitô, ông cực kỳ hữu ích[6] cho người cha Kitô hữu của mình trong tù và Phaolô có ý muốn giữ ông lại làm cộng tác viên, nhưng Phaolô sẽ không làm gì mà không có sự đồng ý của Philêmon (và có lẽ là sự chuẩn nhận của hội thánh tại tư gia). Do đó, ngài đã gửi Ônêximô trở về với chủ cũ và mong muốn Philêmon chấp nhận ông với tư cách không còn phải là người nô lệ mà là người anh em yêu quý. Hãy lưu ý đến lời kêu gọi xem ngài đạt được điều gì: không chỉ Ônêximô thoát khỏi sự trừng phạt mà pháp luật quy định, không chỉ Ônêximô được tự do (điều chúng ta có lẽ kỳ vọng vào một nghĩa cử cao đẹp hơn), nhưng Ônêximô còn được biến đổi thành một Kitô hữu: “xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi” (câu 17). Lời thỉnh cầu này tạo ra một cảm xúc mãnh liệt về lối tư duy của Phaolô mà chính lòng trung thành làm thay đổi các giá trị do Đức Kitô mang lại, đó là sự tương phản không chỉ giữa người nô lệ và người tự do, mà còn là giữa người nô lệ và sự sáng tạo mới trong Đức Kitô. Trong các câu 18-19, Phaolô tự bảo đảm hoàn thành lời hứa là hoàn lại bất cứ điều gì ông ấy còn mắc nợ;[7] tuy nhiên, với sự nhấn mạnh rằng Philêmon còn nợ ngài (trực tiếp hoặc gián tiếp) về đời sống Kitô hữu của ông, điều đó Phaolô khiến mọi đòi hỏi trả nợ hầu như không thể xảy ra. Có một điểm nhấn tu từ kép trong câu 21, trong đó Phaolô vừa nhắc nhở Philêmon còn nợ ngài về sự vâng phục (nợ với Phaolô vì ngài là tông đồ hoặc với Thiên Chúa và với Tin mừng?) vừa tin rằng Philêmon sẽ còn làm được nhiều hơn những điều ngài thỉnh cầu. Lời “nhiều hơn” trong câu được một số người giải thích là một gợi ý cho Philêmon giải thoát cho Ônêximô khỏi thân phận nô lệ, tức là trở thành người anh em Kitô hữu. Phaolô hứa sẽ đến thăm sau khi được ra tù (một cơ hội mà Philêmon đã đang cầu nguyện: câu 22). Đây có phải là một dấu chỉ tinh tế cho thấy Phaolô muốn tự mình chứng kiến xem Ônêximô được đối xử làm sao không? Hầu như chắc chắn Philêmon đã đáp ứng một cách quảng đại, nếu không thư này sẽ không được truyền lại.

Ảnh Hưởng của Xã hội lên Quan điểm của Phaolô về Chế độ Nô l

Chính Đức Giêsu đã có một quan điểm mang tính khải huyền mạnh mẽ: Nước hay quyền thống trị của Thiên Chúa hiện diện trong sứ vụ của ngài; mọi người buộc phải có lòng quyết tâm khi đối diện với lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi này sẽ không lặp lại. Theo truyền thống, Đức Giêsu tránh làm lộ bí mật về thời kỳ cuối; nhưng ngay cả khi không thể biết được lúc nào nó đến, thì thời điểm đó có ấn tượng là sẽ xảy ra sớm hơn. Phaolô cũng có một cách tiếp cận mang tính khải huyền, trong đó cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô đánh dấu sự thay đổi của triều đại. Chủ thuyết khải huyền mạnh mẽ không khuyến khích lập kế hoạch về phương diện xã hội lâu dài. Các thể chế trong xã hội ngăn cản việc loan báo Tin mừng phải bị vô hiệu hóa. Tuy nhiên, chính vì Đức Kitô sẽ sớm trở lại, nên các thể chế khác mà không đại diện cho các giá trị Tin mừng có thể được tồn tại miễn là chúng có thể giúp rao giảng Đức Kitô. Thời kỳ đó sẽ không còn xa nữa. Đối với Phaolô, những ám chỉ trong Tin mừng đối với chế độ nô lệ là quá rõ ràng: trong Đức Kitô, không còn chuyện phân biệt “nô lệ hay tự do” (Gl 3,28); tất cả mọi sự đều có giá trị như nhau. Tất cả chúng ta đều được chịu phép rửa để trở nên một thân thể (1 Cr 12,13) vì thế nên phải cư xử với nhau bằng tình thương. Chế độ nô lệ thực sự duy nhất còn tồn tại sau khi triều đại mới lên ngôi là nô lệ cho Đức Kitô (1 Cr 7,22). Tuy nhiên, để lật đổ thể chế nô lệ xã hội Rôma rộng lớn không phải là một điều khả thi với một thời gian rất ngắn ngủi trước khi Đức Giêsu Kitô đến. Rõ ràng trên thế gian này, những người nô lệ sẽ tìm cách có được sự tự do; tuy nhiên, nếu một người đang trong tình trạng nô lệ ở thời điểm được kêu gọi và chưa được tự do về thể lý, thì tình trạng đó không nhất thiết là điều quan trọng lắm. “Ngay cả khi có thể được tự do, tốt hơn hãy lợi dụng thân phận nô lệ.” (1 Cr 7,21-22).

Đối với một số nhà giải thích, thư Philêmon phản ánh lập trường đón nhận nồng nhiệt, mạnh mẽ của Phaolô đối với chế độ nô lệ, nhưng quan điểm này cuối cùng đã khiến các Kitô hữu nhạy cảm nói chung loại bỏ nó. Ở đây, chúng ta thấy rằng khi Phaolô đang hy vọng có được sự hợp tác, ngài đã buộc ông chủ của người nô lệ theo Đức Kitô từ bỏ các quy ước xã hội: tha thứ và đón nhận một người nô lệ chạy trốn trở về với gia đình; để từ chối bồi thường tài chính khi được trả nợ thì người ta cần phải lưu tâm đến người mắc nợ Đức Kitô như Phaolô đã Công bố; để tiến xa hơn trong sự quảng đại thì cần giải phóng người nô lệ; và theo quan điểm thần học, điều quan trọng nhất là phải nhìn nhận Ônêximô là một người anh em yêu quý và do đó chân nhận sự biến đổi nên con người Kitô hữu của ông. (Ngày nay, nhiều người khi đánh giá thư Philêmon có thể không đánh giá cao điều được đề cập sau cùng, nhưng đối với Phaolô, đó là đòi hỏi chính yếu.) Sử dụng lập trường khoan dung như vậy có lẽ có những tác động xã hội có hại trong mắt những người ngoài cuộc và ngay cả đối với những Kitô hữu yếu nhược. Có lẽ chính người hành động như vậy có lẽ trông giống như một kẻ gây rối trật tự xã hội và là một nhà cách mạng; nhưng đó là một cái giá đáng phải trả bởi lòng trung thành với Tin mừng.

Đối với các nhà giải thích khác, Philêmon đại diện cho người thiếu quyết đoán. Điểm mấu chốt là, dù ngầm khuyến khích Philêmon giải thoát cho Ônêximô, nhưng Phaolô không nói rõ với ông rằng việc giữ lại một người khác làm nô lệ trên thực tế là phủ nhận việc Đức Kitô đã thay đổi các giá trị. Khoan dung với một người làm điều xấu trong khi nhẹ nhàng phản đối nhân danh Kitô giáo cũng tương tự như việc dung túng cho nó và giúp cho nó tồn tại. Và quả thật, qua nhiều thế kỷ, Phaolô không thể loại bỏ chế độ nô lệ, điều đó đã được một số độc giả Kinh Thánh sử dụng như một bằng chứng cho thấy chế độ này tự nó là không xấu xa. Vấn đề không được đặt ra là: liệu lòng khoan dung một phần của Phaolô có phải được xác định một cách cơ bản bởi quan điểm khải huyền của ngài đến mức nó không thể dùng làm hướng dẫn một khi kỳ vọng về ngày quang lâm được chuyển sang tương lai vô định hay không. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây trong phần Các Vấn Đề Cần Suy Gẫm, các vấn đề luân lý xã hội xung quanh vấn đề này cũng có thể được mở rộng sang các vấn đề khác.[8]

NƠI VÀ NGÀY BIÊN SOẠN?

Phaolô viết thư này trong tù, và vì vậy chúng ta phải khảo sát ba nhà tù tương tự đã được xem xét trong thư Philípphê ở Chương 20: Êphêxô, Xêdarê, hoặc Rôma.[9] Tuy nhiên, tình huống ở đây phức tạp hơn nhiều. Chính thư này có ít gợi ý hơn thư Philípphê: dù Phaolô xin dọn cho ngài một chỗ cho chuyến viếng thăm của ngài (câu 22), nhưng chúng ta không bao giờ biết người nhận thư sống ở đâu. (Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc Phaolô xin dọn một chỗ ở nếu ngài thực hiện một chuyến đi biển dài từ Rôma hoặc Xêdarê, đến gần địa điểm đó thì dường như không khả thi.) Một số yếu tố chính (được đánh dấu hoa thị) ở trang 493 trên đây giúp xác định xuất xứ của thư Philípphê; và vì vậy, nếu Êphêxô được xác định là nơi viết thư Philípphê, thì thư Philêmon cũng có lẽ đã được viết ở đó.

Tuy nhiên, người ta cũng phải tính đến mối liên hệ rõ ràng giữa Philêmon và Côlôxê. Phần mở đầu của cả hai thư đều ghi tên Timôthê là “anh em của chúng ta”, là người cùng với Phaolô gửi thư; và phần kết của cả hai thư đều cho biết do chính tay Phaolô viết (Plm 19; Cl 4,18). Tám trên mười người được đề cập trong thư Philêmon cũng được đề cập trong thư Côlôxê.[10] (Tuy nhiên, không dám chắc Phaolô đã viết thư Côlôxê, và do đó các chi tiết trong đó có thể không phải là tiểu sử thực.) Bởi vì Ônêximô và Áckhíppô được nhắc đến trong Côlôxê (4,9.17), nên đa số các nhà giải thích cho rằng ông Philêmon sống ở vùng đất Côlôxê; và giả thiết[11] sáng giá đó cũng giúp khẳng định Êphêxô là nơi Phaolô viết thư. Về việc người nô lệ chạy trốn, thì thành phố đó chỉ cách 161-193 km, trái ngược với khoảng cách bao la giữa Côlôxê và Rôma hoặc Xêdarê.[12] Tuy nhiên, vẫn có những khó khăn khác. Nền Kitô học của thư Côlôxê có tiến triển, và nếu Côlôxê do chính Phaolô viết, thì điều đó giúp khẳng định ngài bị giam ở Rôma (61-63) và đây là nơi kết thúc sự nghiệp biên soạn của Phaolô trong cả thư Côlôxê và Philêmon. Cụ thể hơn, những người ở với Phaolô lúc ngài gửi thư Philêmon (câu 1,24), trong khi sự hiện diện của Timôthê hỗ trợ giả thiết Êphêxô (trang 495 ở trên), thì Aríttakhô trong cả hai thư đều nói ở với Phaolô tại Êphêxô năm 54-57 và cùng với ngài đi từ Xêdarê đến Rôma năm 60 (Cv 19,29; 27,2); Máccô (người nào?) Luca Đêma không được đề cập đến trong lúc ngài ở Êphêxô, nhưng sau đó thì được đề cập đến khi ở Rôma (tương ứng 1 Pr 5,13 [Babylon = Rôma]; 2 Tm 4,11 [cũng Cv 28,16 nếu Luca là thành phần trong “chúng tôi”]; 2 Tm 4,10). Tuy nhiên, tất cả những điều này không có gì chắc chắn; và toàn bộ các luận cứ ủng hộ nơi viết Êphêxô vào khoảng năm 56 thì khả dĩ như và thậm chí có thể hơn Rôma. Những điều này không nhất thiết phải giải thích dựa vào quyết định.

SỰ NGHIỆP CUỐI CÙNG CỦA ÔNÊXIMÔ

Có thể Phaolô đã viết nhiều thư riêng cho mỗi Kitô hữu. Nhưng tại sao chỉ có thư này được giữ lại? Câu trả lời thông thường và hợp lý hơn chính là vì thư này mang tính giáo hội hơn cá nhân, và có những ám chỉ thần học hay mục vụ quan trọng (dù, như chúng ta đã thấy, Phaolô không định đoạt tương lai của chế độ nô lệ). Tuy nhiên, để giải thích cho sự lưu truyền này, một đề xuất hơi lãng mạn đã được hai học giả là Goodspeed và Knox đưa ra. Ônêximô được Philêmon trả tự do và trở về làm việc với Phaolô ở Êphêxô, và ở lại đó trong vai trò là nhân vật chính khi Phaolô ra đi. Sau đó ông vẫn ở lại đó hơn nửa thế kỷ khi Ignatiô Antiôkia nói với Hội thánh Êphêxô bằng ngôn ngữ cấu trúc hội thánh phát triển hơn: “chính bản thân Ônêximô, một con người của tình yêu không sao tả xiết và là một giám mục của anh em” (thư Êphêxô 1,3). Với vai trò đó, và từ một kỷ niệm đáng quý về người cha của ông trong Đức Kitô, Ônêximô đã được trao nhiệm vụ để thu thập các thư rải rác khắp nơi của Phaolô, nay đang bị thất lạc từ lâu. Với niềm tự hào đó của mình, ông xếp vào giữa những tác phẩm lớn mà vị tông đồ đã gửi cho các Hội thánh một lá thư nhỏ được giấu kín trong những năm qua vì nó liên quan đến chính Ônêximô và giúp cho toàn bộ sự nghiệp sau này của ông có thể thành hiện thực. Thật không may, gần như không có bằng chứng nào chứng minh cho lý thuyết thực sự hấp dẫn này. Ônêximô ở Êphêxô vào năm 110 SCN có thể đã lấy tên đó để vinh danh cho người nô lệ đã được tù nhân Phaolô hoán cải ở đó rất lâu trước đó. Không có cách nào để khẳng định như thế, nhưng phù hợp với một câu nói của người Ý: Se non è vero, è ben trovato: dù nó không đúng sự thật, nhưng nó vẫn đáng được đề xuất.

CÁC VẤN ĐỀ CẦN SUY GẪM

(1) Đây là một thực hành đáng để xếp các nhân vật chính cùng với các tước hiệu mô tả được đưa ra trong thư Philêmon. Phaolô đang sử dụng tước hiệu, theo mức độ nào đó, khiến những người liên quan ý thức về họ và ngài như thế nào, qua ân sủng của Thiên Chúa trong Đức Kitô? Chiều kích thần học mới này ảnh hưởng như thế nào đến mối tương quan hiện có của họ?

(2) Thông thường, quyền bính nhanh chóng được viện dẫn để giải quyết một vấn đề của hội thánh. Phaolô biết rất rõ ngài có quyền, nhưng ngài thích thuyết phục hơn (câu 8-9; xin xem thêm 2 Cr 8,8), dù ngài khôn khéo dùng áp lực của thuật hùng biện và tâm lý trong việc thuyết phục. (Sở thích thuyết phục cũng được nói đến trong Mt 18,15-18.) Sở thích đó vốn gắn liền với metanoia hay “hoán cải” ở mức độ nào khi điều đó được hiểu theo nghĩa đen là thay đổi tư duy của một người? Tân ước dùng ngôn ngữ của (các) giới răn của Thiên Chúa để nói về Nước Chúa đang đến. Điều đó có mối quan hệ nào đối với trách nhiệm đang được đặt lên vai cá nhân của Tin mừng?

(3) Lòng khoan dung phần nào của Phaolô đối với chế độ nô lệ có thể liên quan đến cái nhìn khải huyền của ngài, trong đó muốn nói về việc thế gian này đang qua đi. Trách nhiệm thường phải được đưa ra ngay cả ngày nay các Kitô hữu với những quan điểm khải huyền mạnh mẽ cũng ít quan tâm đến công bằng xã hội. Có những trường hợp xảy ra trong lịch sử Kitô giáo, nơi mà chủ thuyết khải huyền và đòi hỏi mạnh mẽ muốn thay đổi cấu trúc xã hội để cùng nhau tồn tại không? Làm thế nào mà ngày nay chúng có thể cùng tồn tại?

(4) Liên hệ đến số (3) là vấn đề “đạo đức tạm thời”, tức là, những thái độ đạo đức được diễn tả trong bối cảnh thế giới hiện tại được xem là sẽ qua đi nhanh chóng vì Đức Kitô sẽ sớm trở lại. Một mặt, niềm tin vào sự tái lâm sắp xảy ra của Đức Kitô thúc đẩy lòng khoan dung đối với các thể chế xã hội bất công trong một khoảng thời gian chờ đợi ngắn ngủi ​​(với điều kiện người ta vẫn được phép Công bố Tin mừng); mặt khác, những đòi hỏi tinh thần anh hùng dường như đã được đưa ra cho các Kitô hữu chính vì những điều họ đang bám víu sẽ không kéo dài được bao lâu. Nếu trong 1 Cr 7,20-24, một người nô lệ được khuyên là nên ở lại trong tình trạng nô lệ của mình theo nguyên tắc là người ta cũng vẫn có thể ở trong tình trạng của mình khi họ được kêu gọi; điều tương tự cũng áp dụng cho một người độc thân hoặc một người đã kết hôn mà cuộc sống đang gặp những phiền muộn. “Thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có” (7,29). Làm sao người ta có thể xác định điều nào được Tin mừng đòi hỏi vĩnh viễn thậm chí dù đòi hỏi đó được đặt ra với giả định chỉ trong một khoảng thời gian ngắn?

[1] Thư này có thể so sánh với bức thư ngắn hơn của Người Trẻ Pliny, thư này kêu gọi Sabinianus tha thứ cho một thanh niên được tự do và đang tỵ nạn ở nhà Pliny; Pliny đưa ra một số lý do để Sabinianus tỏ lòng khoan dung (9,21; bằng tiếng Anh và tiếng Latin trong Lohse, Colossians 196-197). Xét về chiều dài, thư 2 Ga có 245, thư 3 Ga có 219; chiều dài này của chúng thường được cho là bằng kích thước của một tờ giấy cói.

[2] Trong câu 9, từ presbytēs, “trưởng lão,” có trong tất cả các mss., dù một số người thích chọn hoặc thay thế từ presbeutēs, “sứ giả”.

[3] Áckhíppô được các học giả nhận diện theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn, là con trai của ông Philêmon, hoặc người đứng đầu hội thánh hội họp tại nhà ông Philêmon (Stöger), hoặc thậm chí là ông chủ của Ônêximô. (Nhận diện cuối cùng được J. Knox bảo vệ; xem thêm L. Cope, Biblical Research 30 [1985], 45-50 – sau đó, Phaolô có lẽ đã viết thư xin ông Philêmon, người lãnh đạo hội thánh, trình bày với Áckhíppô để xin giải thoát cho ông Ônêximô.) Hai đề xuất cuối cùng phụ thuộc vào cách giải thích đáng ngờ về chỉ thị trong Cl 4,17 dành cho Áckhíppô để xin ông hoàn thành nhiệm vụ của ông, ví dụ: bằng việc quản lý hội thánh hoặc bằng việc giải phóng Ônêximô. (Ở trường hợp thứ hai, tại sao trong đoạn thư Côlôxê ở trên lại thẳng thừng nói như vậy, nhưng cuối cùng lại rất tế nhị với Philêmon?) Sự đa dạng trong các đề xuất như vậy cho thấy trong thư Philêmon có rất ít điều được nói công khai ra.

[4] Nhắm đến việc không gặp gỡ: câu 5 viết “Tôi nghe nói”; nhắm đến cuộc gặp gỡ: câu 1 nói về “cộng sự viên” (một thuật ngữ được Phaolô sử dụng chủ yếu ám chỉ đến những người đã từng làm việc riêng với ngài) và câu 19 “Anh còn nợ tôi chính cuộc đời của anh.” Những người đồng ý có một cuộc gặp gỡ thường cho rằng cuộc gặp gỡ không diễn ra ở nơi Philêmon hiện đang sống (vì chính Phaolô chưa rao giảng ở Côlôxê) mà có lẽ là ở Êphêxô. Liệu Apphia và Áckhíppô có ở cùng với Philêmon, hay chúng ta có thừa nhận các mối tương quan khác nhau giữa Phaolô và ba người được đề cập?

[5] Chúng ta thấy có trường hợp cổ thời về những “áp phích truy nã” cung cấp tiền để bắt các nô lệ bỏ trốn, nhưng không rõ liệu Ônêximô có đang bị truy lùng một cách hợp pháp hay không – có lẽ đã là dấu hiệu cho thấy sự nhạy cảm Kitô giáo đối với ông chủ. Hoặc có lẽ Ônêximô không chỉ đang muốn được giải thoát, chẳng hạn, có lẽ khi còn làm việc, Ônêximô đã làm điều gì đó khiến Philêmon bị mất tiền (“Kẻ xưa kia đối với anh là vô dụng” trong câu 11, và 18-19); và thay vì đối mặt với ông chủ của mình, ông đã đi khắp nơi để tìm người can thiệp cho mình.

[6] Cái tên Ônêximô, thường dùng cho nô lệ, có nghĩa là “hữu ích” trong tiếng Hy Lạp; Phaolô chơi chữ trong câu 11 đối lập giữa “xưa kia đối với anh là vô dụng … nay đã thành người hữu ích cho cả anh lẫn tôi.”

[7] Nhiều người nghĩ rằng Ônêximô đã lấy trộm thứ gì đó rồi bỏ trốn, nhưng điều này có thể chỉ phản ánh luật La Mã rằng người chứa chấp người nô lệ bỏ trốn phải chịu trách nhiệm trước mặt ông chủ về việc mất việc.

[8] Thật vậy, Burtchaell, trong Philemon’s Problem sử dụng bức thư này như một dẫn nhập vào những vấn đề tạo nên tình thế tiến thoái lưỡng nan hàng ngày của các Kitô hữu.

[9] Không thể xác định đây là một nơi giam giữ hay một kiểu quản thúc tại gia mà Phaolô có thể dễ dàng bị tiếp cận. Điều kỳ lạ là Lời Tựa Quân Chủ ở thế kỷ thứ 2 lại xác định thư Philêmon và Philípphê viết ở Rôma, nhưng thư Côlôxê lại viết ở Êphêxô. Theo đánh giá của tôi, có rất ít người ủng hộ Xêdarê là nơi Phaolô gửi thư Philêmon.

[10] Timôthê, Áckhíppô, Ônêximô, Êpápra, Máccô, Aristakhô, Đêma và Luca đều hiện diện trong hai tác phẩm; Ông Philêmon và Apphia không có ở trong thư Côlôxê. Tuy nhiên, vai trò được gán cho Ônêximô trong thư Côlôxê 4,9 hầu như không tương ứng với vai trò mà ông có trong thư Philêmon.

[11] Tại sao lại khả thi? Nếu thư Côlôxê được Phaolô viết, thì người ta có thể tin vào các tài liệu tham chiếu về địa lý và lịch sử trong đó và đưa ra giả thuyết rằng Tykhicô và Ônêximô đã mang các thư đó đến Côlôxê và đến Philêmon (Cl 4,7-9). Tuy nhiên, thư Côlôxê viết nhiều nhiều lời chào thăm đến dân Côlôxê (và Laođikêa), lại không đề cập đến thư Philêmon. Có phải hội thánh tại gia nhóm họp không phải ở Côlôxê, mà ở một thị trấn gần đó trong vùng không? (Nói chính xác là: Laodikêa là thị trấn có liên quan đến luận đề mạo hiểm của Knox cho rằng, sau khi được Philêmon đọc ở Laodikêa, thư Philêmon đã được mang đến Áckhíppô ở Côlôxê và bức thư từ Laođikêa trong Cl 4,16 cũng vậy.) Nếu thư Côlôxê không phải do Phaolô viết, thì việc đề cập đến Ônêximô và Áckhíppô trong đó rất có thể được lấy cảm hứng từ bức thư chính lục gửi cho Philêmon, và hướng đi của bức thư có bút danh có thể xuất phát từ một truyền thống đáng tin cậy đã kết nối những người này với Côlôxê.

[12] Người ta có thể tranh luận một cách khó khăn về sự bỏ trốn của một người nô lệ chạy đến Rôma, là nơi một người khó có thể đi đến thủ đô của đế quốc cách đó hơn 1600 km; nhưng việc bỏ trốn đến Xêdarê thì ít hợp lý hơn.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục