danvienxitochauthuy

Dẫn Vào Thư Thứ Hai Côrintô (Raymond E. Brown)

Trích dịch từ: “An Introduction to the New Testament

Tác giả: Raymond E. Brown

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm, O. Cist

 

Mặc dù không có nghi ngờ gì về quyền tác giả của Phaolô trong thư thứ 2 Côrintô, nhưng các câu chuyển ý từ phần này sang phần khác trong thư được cho là quá đột ngột đến nỗi khiến nhiều học giả chia nhỏ thư này thành nhiều phần độc lập. Tuy nhiên, đây có thể là tác phẩm có sức thuyết phục nhất so với tất cả các tác phẩm của Phaolô, vì theo giả thuyết, trong nhiều phần độc lập khác nhau, ngài đã để lại những đoạn khó quên. Có lẽ không có thư nào của Phaolô gợi lên hình ảnh sống động như vậy bằng thư này về một vị Tông đồ chịu đau khổ và bị loại trừ, bị các Kitô hữu đồng đạo hiểu lầm. Để tránh bỏ sót các chi tiết trong thư, sau phần trình bày về Bối Cảnh là phần Phân tích Tổng quát, ở đây tôi sẽ làm nổi bật sự hùng hồn của thư 2 Côrintô. Sau đó, trong các phần phụ, tôi sẽ giải quyết các vấn đề: Một bức thư thống nhất hay Một b tổng hợp các thư, Hình ảnh trong 2 Cr 4,16-5,10, Việc quyên góp của Phaolô cho Giêrusalem (2 Cr 8-9), Những kẻ chống đối trong 2 Cr 10-13, Những vấn đề cần suy gẫm và Thư mục.

BỐI CẢNH

Bắt đầu từ trang 514 trên đây, có những cuộc tiếp xúc được liệt kê theo chữ số (#1-6) giữa Phaolô và Côrintô, bao gồm tác phẩm của Thư A (bị thất truyền) và Thư B (= 1 Cr), thuộc thành phần trong thư Phaolô gửi tín hữu Côrintô. Bây giờ chúng ta tiếp tục theo số thứ tự và bảng chữ cái như một giải thích về nguồn gốc của 2 Côrintô.

(#7) Sau khi Phaolô viết 1 Côrintô vào cuối năm 56 hoặc rất sớm năm 57 SCN, Timôthê, người đã đi qua ngã Makêđônia đến Côrintô (Cv 19,21-22; 1 Cr 4,17-19; 16,10- 11; trang 517 trên đây). Điều này xảy ra vào đầu năm 57 (sau khi 1 Côrintô được viết?). Timôthê thấy tình hình tồi tệ; và nhiều người cho rằng đây là kết quả của sự xuất hiện của các tông đồ giả được mô tả trong 2 Cr 11,12-15, những người thù địch với Phaolô. Timôthê đến Êphêxô để báo cáo tình hình với Phaolô. (#8) Tình huống khẩn cấp này khiến Phaolô phải lên đường từ Êphêxô và đi thẳng đến đó bằng đường biển[1] và phải trả giá bằng “một chuyến thăm đau đớn” khi đến Côrintô (2 Cr 2,1). Lần viếng thăm thứ hai trong ba chuyến viếng thăm Côrintô[2] của Phaolô đã gặp thất bại. Trong 1 Cr 4,21, ngài đã đe dọa sẽ đến bằng “roi vọt”; tuy nhiên theo 2 Cr 10,1.10b, ngài bị cho là rụt rè và kém hiệu quả khi đối mặt với các tín hữu Côrintô. Rõ ràng ai đó đã xúc phạm ngài một cách công khai và làm suy yếu quyền lực của ngài với cộng đoàn (2 Cr 2,5-11; 7,12). Phaolô đi đến quyết định tìm thời gian để nghỉ ngơi, và vì vậy, ngài rời Côrintô với dự định sẽ quay trở lại nhanh, và không dừng lại trên đường trở về thăm các Hội Thánh Makêđônia như trước đó (như ngài đã từng lên kế hoạch trong 1 Cr 16,5).

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: vào cuối Mùa Hè hoặc đầu Mùa Thu năm 57 ở Makêđônia (hay theo Niên biểu Thuyết Xét Lại là năm 55/56).

ĐỘC GIẢ: Hội Thánh được trình bày trong 1 Côrintô.

TÍNH XÁC THỰC: không có nhiều tranh luận.

TÍNH THỐNG NHẤT: Hầu như tất cả các học giả nghĩ rằng có nhiều (2 đến 5) lá thư được kết hợp với nhau.

TÍNH TOÀN VẸN: một số người cho rằng từ đoạn 6,14-7,1 không phải là của Phaolô viết mà được thêm vào sau đó.

BỐ CỤC THEO HÌNH THỨC: (Trong thư hiện tại)

A.    Công thức Mở đầu: 1,1-2.

B.    Lời Cảm Tạ: 1,3-11.

C.    Nội dung: 1,12-13,10.

D.    Công thức Kết thúc: 13,11-13.*

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG:

1,1-11: Địa chỉ hay Lời Chào và Lời Cảm Tạ, nhấn mạnh đến những đau khổ của Phaolô.

1,12-7,16: PHẦN I: Những liên hệ của Phaolô với các tín hữu Côrintô.

a)     1,12-2,13: lần thăm viếng được hoãn lại và thư “đẫm nước mắt”.

b)     2,14-7,16: Sứ mệnh của ngài (đoạn ngắt giữa: 6,14-7,1)

 

8,1-9,15: PHẦN II: Quyên góp cho Giáo Hội tại Giêrusalem.

10,1-13,10: PHẦN III: Phaolô trả lời cho những thách đố về quyền Tông đồ của ngài.

13,11-13: Lời chào và Chúc lành Kết thúc.

* Bản dịch tiếng Anh RSV chia câu 13,12 tiếng Hy Lạp thành hai câu, vì thế câu cuối cùng (13,13) trở thành câu 13,14.

#9 Trước hoặc sau khi Phaolô trở về Êphêxô,[3] ngài đã đổi ý không trở lại thăm Côrintô trực tiếp nữa, vì ý thức rằng điều đó chắc sẽ chỉ gặp một chuyến thăm đau đớn khác (2 Cr 2,1); và thay vào đó, ngài viết một lá thư bằng “nước mắt chan hoà” (2,3-4; 7,8-9, Thư C, bị thất truyền[4]). Có thể có điều gì đó quá nghiêm khắc trong thư, chẳng hạn, việc Phaolô tỏ ra mạnh dạn ra oai khi ngài vắng mặt ở Côrintô (10,1-10). Tuy nhiên, điều đó không nhằm mục đích làm cho các tín hữu Côrintô đau buồn mà để họ biết tình yêu của ngài dành cho họ. Được khuyến khích bởi vì Phaolô hy vọng các tín hữu Côrintô sẽ đáp lại một cách thuận lợi (7,14), khi Titô mang thư này đến.[5] #10 Cuối cùng Phaolô khởi hành từ Êphêxô, có lẽ vào Mùa Hè năm 57, đi theo hướng bắc đến cảng Trôa, và từ đó, băng qua đường biển từ tỉnh Axia đến Makêđônia (1 Cr 16,5.8; 2 Cr 2,12-13; Cv 20,1). Trong khi đó, Titô đã được đối đãi tử tế tại Côrintô (2 Cr 7,15); quả thật, ngài thậm chí có thể bắt đầu quyên tiền để Phaolô mang đến giúp Giêrusalem (8,6); và vào cuối Mùa Hè hoặc đầu Mùa Thu năm 57, ngài mang tin vui đó đến cho Phaolô ở Makêđônia (7,5-7,13b). Mặc dù thư “đẫm nước mắt” của Phaolô đã khiến ngài đau lòng, nhưng các tín hữu Côrintô đã sám hối và bày tỏ sự lo lắng cho nỗi đau mà họ đã gây ra cho Phaolô. Thật vậy, với sự cảnh báo và phẫn nộ, họ đã nóng lòng muốn chứng minh mình vô tội (7,7-13). (#11) Khi hồi âm ngay tức khắc (lúc ở Makêđônia [Philípphê?] vào cuối Mùa Hè hoặc đầu Mùa Thu năm 57, có Timôthê bên cạnh) PHAOLÔ ĐÃ VIẾT THƯ 2 CÔRINTÔ (Thư D).[6] Thư này được ông Titô mang đi (và cùng với hai anh em khác) như một phần sứ mệnh tiếp tục quyên góp tại Côrintô để Phaolô mang đến giúp Giêrusalem (8,6.16-24). (#12) Phaolô tự mình tiếp tục đến Côrintô (đây là chuyến thăm thứ ba của ngài tại đó; 12,14; 13,1-2), nơi ngài đã trải qua mùa đông năm 57-58[7] trước khi đưa quà quyên góp đến Giêrusalem ngang qua Makêđônia, Philípphê và Trôa ( Cv 20,2-5). (#13) Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy ngài đã từng trở lại Côrintô. Nếu các Thư Mục vụ chứa thông tin lịch sử đáng tin cậy, thì 2 Tm 4,20 có lẽ muốn nói rằng con tàu đưa tù nhân Phaolô từ Êphêxô đến Rôma đã dừng lại ở Côrintô. Sau cái chết của Phaolô, còn có dư âm về những cuộc tiếp xúc của ngài với dân Côrintô vào cuối thế kỷ thứ nhất. Bức thư từ Hội Thánh của Chúa tại Rôma gửi Hội Thánh của Chúa tại Côrintô mà chúng ta biết là Thư 1 Clêmentê một lần nữa quan tâm đến vấn đề bè phái tại Côrintô (1,1); và trong chương 47, thư ấy so sánh bè phái mới với bè phái được đề cập trong thư Phaolô gửi tín hữu Côrintô khi mới bắt đầu rao giảng.

PHÂN TÍCH THÔNG ĐIỆP TỔNG QUÁT

Công thức Mở đầu (1,1-2) và Lời Cảm Tạ (1,3-11). Chúng ta không biết lý do tại sao ở đây Phaolô lại thay đổi người nhận trong 1 Cr 1,2 (Kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô và các Ki-tô hữu (các thánh) ở bất cứ nơi nào) thành người nhận cụ thể là các Kitô hữu “trong khắp miền A-khai-a.” Điều này có phải là để chuẩn bị cho việc lạc quyên sẽ được diễn ra khắp miền Akhaia không (2 Cr 9,2)? Trong 1,3-11, Phaolô nói về những thử thách mà ngài phải chịu tại Êphêxô – một trải nghiệm làm lộ rõ sự yếu đuối của chính ngài và sự an ủi của Đức Kitô, đồng thời cũng là bối cảnh của các mối tương quan gần đây của ngài với các tín hữu Côrintô.

PHẦN I CỦA NỘI DUNG BỨC THƯ (1,12-7,16) thảo luận về các mối tương quan đó với các tín hữu Côrintô, cả hai đều kể lại câu chuyện của họ và xét dưới khía cạnh thần học. Trong tiểu mục (a) 1,12 – 2,13, ngài tập trung nói về việc thay đổi lộ trình của mình sau chuyến thăm đau buồn mà ngài đã trải qua ở Êphêxô (#8). Sự thay đổi không chỉ là một vấn đề về sở thích của con người, mà là một phần của lời “Xin vâng” đối với những gì Thiên Chúa muốn cho các tín hữu Côrintô và cho chính Phaolô. Thay vì cho họ tiếp xúc bằng một cuộc đối đầu khác có thể khiến ngài dường như quá độc đoán (1,23-24), ngài đã viết một lá thư “đẫm nước mắt” (#9) giúp làm thay đổi tư duy ​​của họ, để khi ngài đến, ngài có thể tận hưởng niềm vui. Từ đoạn 2,5-11, chúng ta nhận thấy rằng, vấn đề chính trong chuyến viếng thăm đau buồn đã xoay quanh một cá nhân bất trị.[8] Để hồi âm cho bức thư “đẫm nước mắt” của Phaolô, các tín hữu Côrintô đã trừng phạt người này, thế nhưng bây giờ Phaolô lại thúc giục họ thể hiện lòng thương xót và sự tha thứ.[9] (Đây là một ví dụ mẫu mực thú vị về việc sử dụng vừa cả biện pháp chế tài vừa cả những kiềm chế khi gặp những trường hợp như thế, tất cả vì Hội Thánh.) Phaolô nói với các tín hữu Côrintô rằng, ngài quan tâm đến việc hàn gắn mối tương quan của mình với họ đến nỗi (sau khi rời Êphêxô) ngài đã ngưng sứ vụ rao giảng của mình ở Trôa để qua Makêđônia nghe Titô kể về hiệu quả của thư đẫm nước mắt (2,12-13).

Trong tiểu mục (b) 2,14-7,16, Phaolô liên hệ sứ vụ của mình ở quy mô lớn hơn với cuộc khủng hoảng ở Côrintô.[10] Cuộc khủng hoảng đó bắt nguồn từ những đoạn văn hùng hồn ấn tượng của Phaolô, chẳng hạn, 5,16-21 mô tả những điều Thiên Chúa đã làm trong Đức Kitô. Nhiều người sẽ thấy Phaolô đề cập đến việc Thiên Chúa “dùng chúng tôi mà kêu gọi” (5,20) vẫn còn đúng, vì lời kêu gọi vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay. Nếu dòng tư tưởng dường như lan man, thì một phần là do lập luận theo chiều hướng hoạt động của các tông đồ giả tại Côrintô và các cuộc tấn công của họ nhằm vào Phaolô (về điều này, ngài đã thuật lại nhiều hơn ở các chương 10-12). Nhấn mạnh rằng ngài không phải là người xuyên tạc Lời Chúa (2,17), Phaolô nói thêm rằng, không giống những kẻ khác, ngài không cần thư giới thiệu mình cho các tín hữu Côrintô[11] – chính họ, qua sứ vụ của ngài, là thư giới thiệu của ngài ( 3,1-3). Sau đó, Phaolô trình bày tính ưu việt của sứ vụ liên quan đến Thần Khí hơn sứ vụ được khắc trên những bia đá đã dẫn đến cái chết (3,4-11). Môsê che mặt khi nói chuyện với Ítraen, và điều đó vẫn tuân giữ khi dân Ítraen đọc Cựu Ước. Tuy nhiên, khi người ta hướng về Đức Giêsu Kitô, thì tấm màn che mặt được cất đi vì Thiên Chúa, Đấng đã đàm đạo với Môsê, nay đang hiện diện trong Thần Khí (3,12-18). Tin Mừng của Phaolô không bị che khuất, ngoại trừ những ai đang trên đà hư mất, vì tên ác thần của đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng (4,3-4). Sức mạnh của Phaolô đến từ Thiên Chúa, dù kho tàng này được đựng trong một chiếc “bình sành” (4,7). Trong một đoạn văn châm biếm (4,8-12),[12] Phaolô phân biệt giữa đau khổ thể xác và địa vị của ngài trong Đức Kitô, vì “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.

Trong đoạn 4,16-5,10, Phaolô đề cập đến một loạt sự tương phản: bên ngoài / bên trong /; hữu hình / vô hình; trần trụi / mặc quần áo. Ngài giải thích lý do tại sao ngài không nản lòng. Ngài khẳng định: một chút gian truân hiện tại không thể nào so sánh với vinh quang vô tận sau này; khi chiếc lều trên trái đất này bị phá huỷ đi, thì chúng ta có một nơi ở vĩnh cửu trên trời do Thiên Chúa dựng lên. Trong tiểu mục Hình ảnh dưới đây, chúng ta sẽ xem xét đoạn văn này kỹ hơn; tuy nhiên, đoạn văn này cho chúng ta biết mức độ dinh dưỡng mà Phaolô chắt lọc ra từ những điều vô hình, vì ngài sống trong sự giằng co giữa cái “đã qua” và cái “chưa đến”. Mặc dù Phaolô nhấn mạnh rằng, ngài không tự giới thiệu mình với các tín hữu Côrintô, nhưng rõ ràng ngài đang cố thuyết phục họ đánh giá cao sứ vụ của ngài dành cho họ (5,11-15), điều này khiến những kẻ khác sẽ đàm tiếu.[13] Liệu ngài có ý nói đến tình yêu của Đức Kitô dành cho ngài hay tình yêu của ngài dành cho Đức Kitô hoặc cả hai: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi” (5,14) của Phaolô là một bản tóm tắt tuyệt vời về lòng sùng mộ của ngài. Thiên Chúa “là Đấng đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, … Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Ki-tô” (5,18-20) mô tả cách cảm động về ơn gọi mà Phaolô chia sẻ với họ. Kêu gọi các tín hữu Côrintô đừng đón nhận ân huệ của Thiên Chúa một cách vô ích (6,1), Phaolô bảo đảm với họ rằng ngài sẽ không trở nên cớ vấp phạm cho bất kỳ ai (6,3). Trong một đề mục xúc động mô tả cuộc sống của ngài đã diễn ra như thế nào (6,4-10), Phaolô thổ lộ tâm tình cho các tín hữu Côrintô để thách đố họ cởi mở tâm hồn với ngài (6,ll-13).

Chuyển đề tài để nói về những mâu thuẫn nhị nguyên (6,14-7,1, sự công chính / sự bất chính, v.v.), Phaolô khuyên họ đừng chung phần với những người không tin. (Trong trình tự hiện tại, đoạn văn mang dấu chỉ cho thấy tất cả mọi người chưa được giao hoà ở Côrintô và chuẩn bị cho các chương nói về việc sửa dạy 10-13. Dưới đây, trong một tiểu mục nói về tính thống nhất, chúng ta sẽ thảo luận về các vấn đề liên quan: trình tự, tư tưởng và nguồn gốc.) Sau đó, trong 7,2, ngài trở về giải thích hành vi của mình (xem 2,13) cho các tín hữu Côrintô, nói với họ rằng, ngài vui mừng như thế nào khi ông Titô mang đến cho ngài tin vui ở Makêđônia nói rằng: thư “đẫm nước mắt” của ngài đã tạo ra một hiệu ứng tốt. (#9, 10 trên đây). Ngài vui mừng vì giờ đây ngài có thể hoàn toàn tự tin vào họ (7,16).

PHẦN II CỦA NỘI DUNG BỨC THƯ (8,l-9,15) xử lý tiền lạc quyên của Phaolô cho Hội Thánh ở Giêrusalem. Sự tự tin đó dẫn ngài đến việc cả dám xin[14] quyên góp tiền nơi họ, một dự án đã được khởi động từ năm ngoái (8,10; 9,2, xem ghi chú số 7 trên đây). Ngài nêu cao tấm gương của các Kitô hữu ở Makêđônia, những người sống quảng đại dù họ còn nghèo (8, l-5), cũng như tấm gương của chính Đức Giêsu Kitô, “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.”(8,9). Có lẽ bị ảnh hưởng bởi thói quen của người Do Thái khi phái những người ưu tú đến Giêrusalem cùng với tiền quyên góp cho Đền thờ, và muốn cho thấy tính liêm khiết của mình, Phaolô cử Titô đi, người gần đây đã được những người Côrintô ưu ái đón nhận, để chuẩn bị tiền quyên góp (và có thể cũng mang theo thư 2 Côrintô). Cùng đi với ngài (một lần nữa để cho thấy tính liêm khiết của mình: 8,16-23), có một người anh em nổi tiếng giữa các Hội Thánh (một người đến từ Akhaia [cụ thể là từ Côrintô như một động thái ngoại giao], làm việc ở Makêđônia chăng?), và một người anh nhiệt thành khác, người đã trợ giúp Phaolô – hai nhân vật này chúng tôi không thể nêu tên dù có nhiều đề xuất. Tiền quyên góp cho Giêrusalem cũng là chủ đề của chương 9, chương này dường như nói một cách cụ thể về Akhaia (điều mà một số học giả coi đó là một cách xử lý riêng, nhưng hãy xem 1,l và sự kết hợp giữa Côrintô và Akhaia). Cũng như Phaolô tự hào về sự quảng đại của người Makêđônia trước mặt các tín hữu Côrintô, thì ngài cũng tự hào về các tín hữu Côrintô (Akhaia) trước mặt người Makêđônia; và ngài không muốn phải xấu hổ nếu có bất cứ người Makêđônia nào tháp tùng với ngài để đi quyên tiền. Lời tuyên bố của Phaolô, “Ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương” (9,7) có thể hiểu là ngài vô cùng quý mến những người tự nguyện đi quyên tiền.

PHẦN III CỦA NỘI DUNG BỨC THƯ (10,1-13,10) chứa lời phản hồi chi tiết hơn của Phaolô trước những thách thức với thẩm quyền tông đồ của ngài. Đang khi chương 8-9 tỏ ra lạc quan và nhiệt tình về phản hồi của các tín hữu  Côrintô, thì đột nhiên bốn chương tiếp sau đó lại trở nên bi quan hơn khi Phaolô không dám chắc được tiếp đón khi ngài đến thăm lần thứ ba. Thật vậy, ngài phải đe dọa sẽ nghiêm khắc hơn khi ngài đến thăm giống như ngài đã viết trong văn thư của mình, có lẽ bao gồm cả thư #9 “đẫm nước mắt” (10,2.6.11;13, 2) của ngài. Tuy nhiên, Phaolô muốn nhấn mạnh rằng thẩm quyền mà Chúa ban cho ngài là để xây dựng chứ không phải để phá đổ (10,8; 13,10; xem Gr 1,10). Đã có những “tông đồ” (ước muốn trở nên “tông đồ siêu đẳng”, 11,5; 12,11) phá đám Phaolô tại Côrintô; nhưng theo như Phaolô được biết, họ là những kẻ giả mạo và tông đồ giả (11,13-15), những người này cuối cùng sẽ bị trừng phạt. (Một tài liệu bên ngoài nói có người đã bỏ phiếu ủng hộ cho những đối thủ này, và các đối thủ này sẽ được xem xét trong tiểu mục dưới đây.) Phần đóng góp kéo dài của họ sẽ được lọc ra từ phần mô tả dài nhất và say mê nhất của Phaolô về công việc tông đồ của ngài.[15] Trong khoảnh khắc ray rứt- khủng hoảng trong cuộc đời ngài, từ trong tâm hồn ngài vang vọng một âm thanh tin tưởng vào quyền năng của Đức Kitô: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (12,10). Mặc dù câu 12,12 liệt kê các dấu chỉ, những điềm thiêng và các phép lạ là những “dấu chỉ của sứ vụ tông đồ” mà Phaolô đã thực hiện giữa các tín hữu Côrintô, nhưng rõ ràng là những lần ngài bị tù đày, bị ném đá, đánh đập, đánh đòn, đắm tàu, hiểm nghèo, chịu đói, chịu khát, và bị trần truồng, quan trọng hơn đối với ngài như một sự bày tỏ sự quan tâm tông đồ đối với tất cả Hội Thánh (11,23-29).[16] Phaolô sẵn sàng nói lên lòng tự hào để bày tỏ lòng chân thành với lời thách đố của mình cho các tín hữu Côrintô: “Tôi rất vui lòng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em. Phải chăng vì yêu mến anh em nhiều hơn mà tôi được yêu mến ít hơn?” (12,15). Rõ ràng đây là cách hay nhất ngài nghĩ ra để khiến các tín hữu Côrintô đáp trả một cách quảng đại và loại bỏ những chia rẽ và hư hỏng trước khi ngài đến, để ngài không cần phải xử nghiêm khắc (12,20-13,10).

CÔNG THỨC KẾT THÚC (13,11-13) đóng vai lời khuyến dụ cuối cùng của Phaolô dành cho các tín hữu Côrintô trong thư khi nói: “Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà.” Ngài có thành công không? Chuyến thăm thứ ba của ngài là hòa bình hay là một cuộc chiến tranh? Cv 20,2-3 chỉ dùng một câu để nói về ba tháng ngài lưu trú tại Akhaia (mà Côrintô là thủ phủ của nó) sau khi ngài từ Makêđônia đến; nó không cho thấy dấu hiệu mâu thuẫn nào trong nội bộ của các Kitô hữu. Các đoạn trong Rm 16,1,21-23 cũng không đề cập đến những người bạn Kitô hữu nào của Phaolô tại Côrintô (nơi nào ngài viết thư đó). Dù các tín hữu Côrintô phản ứng thế nào, thì phúc lành của Ba Ngôi Thiên Chúa mà Phaolô dành cho họ trong 13,13 gồm Thiên Chúa, Chúa Giêsu và Thánh Thần (đây là lời cầu chúc được Phaolô đã sáng tác đầy đủ nhất) đã được các Kitô hữu dùng trong phụng vụ, thậm chí ngày nay được dùng như một lời khẩn cầu kiểu mẫu.

MỘT THƯ HAY MỘT TỔNG HỢP NHIỀU THƯ?

Trong các thư có nội dung Phaolô, tính thống nhất của thư 2 Côrintô bị thách đố nhiều nhất (so với tính thống nhất của thư Philípphê thì cách một quảng xa), và người ta đoán là có khoảng 2-5 thư độc lập với nhau. Theo thảo luận sau đây, nơi lấy ký hiệu theo bảng chữ cái bắt đầu bằng Thư D, thì độc giả cần nhớ ở số #3 và số #6 ở trang 515 trên đây rằng, có một Thư A trước khi thư 1 Côrintô được viết ra, vì vậy thư 1 Côrintô là Thư B. Sau đó, Thư C “đẫm nước mắt” được viết trước thư 2 Côrintô (số #9, trang 542-543 trên đây).

Nhiều người đánh giá về tính thống nhất của thư 2 Côrintô nghĩ rằng chính nó là Thư D, do đó, toàn bộ số thư trong Côrintô là bốn, bao gồm hai thư bị thất truyền và hai thư được bảo tồn. Hỗ trợ cho tính thống nhất trong 2 Côrintô chỉ nằm trong Công thức Mở đầu (1,1-2) và Công thức Kết thúc (13,11-13). Nếu một khi các thư độc lập với nhau chứa trong thư 2 Côrintô, thì chúng đã bị cắt xén, và người ta không thể nối kết các tài liệu lại với nhau một cách đơn giản được.[17]

Mặt khác, sự thay đổi giọng điệu trong thư 2 Côrintô từ chiều hướng lạc quan chung chung của chương 1-9 đến chiều hướng bi quan nhiều hơn của chương 10-13 là khá rõ; và đa số các học giả đã tranh luận về nguồn gốc độc lập của ít nhất hai bức thư đó là Bruce, Barrett, Furnish và Murphy-O’Connor – các thư này sẽ trở thành Thư D E trong danh sách bảng chữ cái của chúng tôi. Ngoài ra, chúng ta có cảm giác như đoạn 2 Cr 6,14-7,1 là một chương độc lập, trong khi các chương 8 và 9 dường như chỉ là một sự trùng lặp nào đó liên quan đến bộ sưu tập. Theo đó, G. Bornkamm thấy có 5 bức thư trong thư 2 Côrintô. Trong hệ thống bảng chữ cái của chúng tôi, gồm có: Thư C = 10,1-13,10 = “thư đẫm nước mắt” được đề cập trong 2,3-4; Thư D = 2,14-7,14 (trừ 6,14-7,1), tức là phần chính của thư 2 Côrintô; Thư E = 1,1-2.13 + 6,14-7,1, một lá thư hòa giải; Thư F = 8,1-24, được viết cho các tín hữu Côrintô liên quan đến việc quyên góp cho Hội Thánh Giêrusalem; Thư G = 9,1-15, một thư thông báo gửi đến Akhaia để xin quyên góp.[18] Theo giả thuyết này, mỗi chủ đề riêng biệt trong thư 2 Côrintô được giải thích theo một thư tách biệt.

Vấn đề về trình tự có lẽ được kết hợp với vấn đề về các thư từng tồn tại độc lập. Chẳng hạn, Soards (Apostle 88), cùng với Bornkamm và D. Georgi, lập luận rằng 2 Cr 8 được viết trước và được Titô mang đến, rồi sau đó ông lại đem tin tức về những chuyện rắc rối tại Côrintô kể lại cho Phaolô. Sau đó, Phaolô viết thư 2 Cr 2,14-7,4, một lá thư không giải quyết được gì. Tiếp theo Phaolô đến thăm Côrintô (số #8 trên đây); và cuộc thăm viếng đó thất bại, nên ngài đã viết thư “đẫm nước mắt” (số #9) bao gồm 2 Cr 10-13. Titô báo tin thắng lợi cho Phaolô; và vì vậy ngài đã viết thư 2 Cr 1,1-2,13 và 7,5-16. Cuối cùng, ngài viết thư 2 Cr 9. Về vấn đề rõ ràng tại sao có người biên tập nào đó đã sắp xếp lại tài liệu này theo thứ tự như bây giờ, thì có một số người cho rằng đó là chuyện ngu ngốc. Fallon (2 Cr 7), cùng với Bornkamm, cho rằng 2 Côrintô đã được sắp xếp lại sau khi Phaolô chết như một di chúc cuối cùng của ngài, cùng với các chương 10-13 có ý muốn tiên báo sẽ có các tông đồ giả trong tương lai, và 13,11-13 như lời từ biệt và lời cầu nguyện cuối cùng của ngài. Hurd (trong “Good News“) có cách giải thích đơn giản nhất: ba bức thư “gửi các tín hữu Côrintô” đã được tập hợp lại với nhau dưới tiêu đề đó, theo thứ tự độ dài giảm dần, tức là cái mà chúng ta biết là 1 Cr; 2 Cr 1-9; 2 Cr 10-13; nhưng người đã tách nó ra theo thứ tự của thư quy điển không để ý mình đã ghép hai thư tách biệt thành một thư 2 Côrintô.

Căn nguyên của những điều này và hàng tá lý thuyết khác là gì? Một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tính thống nhất là liệu các đoạn ngắt từ phần này của 2 Côrintô sang phần khác có sắc nét đến mức chúng không thể được hiểu là sự chuyển đổi trọng tâm trong cùng một tác phẩm hay không. Tuy nhiên, đôi khi các vấn đề khác xen vào. Trong phần Dẫn nhập này, chúng tôi không hy vọng thảo luận mọi vấn đề của thư 2 Côrintô vừa được đề cập ở trên, nhưng cả hai phần trong các chương 10-13 và chương 6,14-7 cần được lưu ý. (Để biết thêm chi tiết, xin xem Furnish, 2 Corinthians 35-48; 371-383.)

(a) 2 Cr 10-13. Người ta có ấn tượng từ bản tường trình do Titô mang về trong 7,5-16 nói rằng những khúc mắc giữa Phaolô và Côrintô đã được giải quyết: “Tôi vui mừng vì trong mọi sự tôi có thể tin cậy anh em.” Tuy nhiên, trong các chương 10-13 bầu không khí khác hẳn. Phaolô lo sợ rằng khi ngài đến, ngài sẽ phải nghiêm khắc; có những tông đồ giả đang muốn hạ bệ Phaolô, và các tín hữu Côrintô đang nghe họ. Ba giải thích đã được đề xuất. GIẢI THÍCH ĐẦU TIÊN là: các chương 10-13 có nguồn gốc từ một thư độc lập được viết vào một thời điểm khác. Một số người nghĩ rằng thư đó được viết trước các chương 1-9, đồng nhất với các chương 10-13 là Thư C, thư “đẫm nước mắt” được đề cập trong 2 Cr 2,3-4, nhưng có nhiều phản biện quan trọng đối với luận điểm đó (x. ghi chú 4,9 trên đây). Một đề nghị hợp lý hơn, đó là: sau khi 2 Cr 1-9 được gửi đi (được xem là Thư D), thì một cuộc khủng hoảng mới đã sinh ra tại Côrintô do những siêu tông đồ giả dạng xuất hiện, buộc Phaolô phải viết thư mới này, trong đó các chương 10-13 là phần bị cắt xén còn sót lại (Thư E).[19] GIẢI THÍCH THỨ HAI là: các chương 10-13 là một phần trong cùng một Thư (D) như các chương 1-9, nhưng là một phụ lục được thêm vào do có tình huống mới, gây nhiễu loạn đến tai Phaolô trước khi ngài bắt đầu viết các chương 1-9. Trên thực tế, ranh giới giữa phần thêm vào không mong đợi so với bức thư gốc và một thư mới viết ra khá mờ ảo. Thực tế, không có Công thức Mở đầu trong chương 10[20] có lẽ là điều làm cho dễ giải thích hơn nếu chúng ta đang giải quyết phần thêm vào, nhưng rồi việc không có dấu chỉ nào cho thấy tin tức gây nhiễu loạn đến tai Phaolô là điều trở nên khó hiểu hơn khi chúng ta xử lý một thư mới bị cắt xén. GIẢI THÍCH THỨ BA là: các chương 10-13 là thành phần của cùng một Thư (D) như các chương 1-9, và được Phaolô dự định viết ngay sau khi ngài bắt đầu viết thư 2 Côrintô. Sau đó, người ta phải thừa nhận rằng Phaolô đã phản ứng với tình huống Côrintô theo từng giai đoạn. Niềm tin lạc quan rất rõ ràng trong chương 7 chính là vì Titô đã cho biết cuộc khủng hoảng lớn đã được giải quyết: người quấy rối đã công khai làm cho Phaolô xấu hổ khi đối diện với hành động của cộng đoàn nay đã bị sửa trị và sắp bị kỷ luật. Cộng đoàn đã không quyết định loại trừ Phaolô. Tuy nhiên, vẫn còn có nguy cơ từ những người tự cho mình là tông đồ và đưa ra những nhận xét phiến diện về Phaolô. Mặc dù Phaolô đã tự tin hơn về thiện chí của các tín hữu Côrintô vì họ đã loại bỏ kẻ quấy rối, nhưng ngài sẽ phải sửa sai nếu họ không thấu suốt những tông đồ giả. Chúng ta đã thấy trong thảo luận của thư 1 Côrintô rằng, ý thức của Phaolô về trình tự tư tưởng không phải lúc nào cũng trôi chảy, và vì vậy lý thuyết này không thể bị bác bỏ ngay. Lập luận chính ủng hộ điều này chính là một số nhận xét trong các chương 1-9 dường như mường tượng các đối thủ giống như những người được mô tả trong các chương10-13 (xem tiểu mục dưới đây nói về các tông đồ giả). Tuy nhiên, liệu cuộc tấn công dữ dội trong các chương10-13 có thực sự được lên kế hoạch sau khi ngài kêu gọi quyên góp ở các chương 8-9 không?

2 Cr 6,14-7,1. Ở đây cũng có vấn đề về trình tự, vì chủ đề về sự mở rộng tấm lòng trong 6,13 được lặp lại trong 7,2, nên rõ ràng 6,14-7,1 có một sự gián đoạn. Nhưng cũng có những vấn đề về từ vựng và tư tưởng. Đoạn văn này chứa một số từ và cách sử dụng không thấy xuất hiện bất cứ nơi nào trong các thư chính lục của Phaolô, chẳng hạn, từ Bêlia, và các trích dẫn Kinh Thánh của nó. Nếu “người không tin” muốn nhắm đến Dân ngoại, thì việc liên lạc thân thiện quá mức với Dân ngoại không phải là một vấn đề trong 2 Côrintô.[21] Nếu Phaolô khuyên các tín hữu Côrintô không nhập bọn với Dân ngoại khi còn ở Antiôkia, nơi ngài tranh cãi với Phêrô (Gl 2,11-13) về việc dùng bữa với Dân ngoại, thì việc đó có tượng trưng cho tự do của Tin Mừng không?[22] Hay chúng ta sẽ nghĩ rằng những người Dân ngoại “không tin” tượng trưng cho mối đe dọa đạo đức đặc biệt trong bầu khí ăn chơi của thành phố cảng “mở cửa” ở Côrintô không? Ba mục từ trong thuyết nhị nguyên (công chính / bất chính, ánh sáng / bóng tối, Chúa Kitô / Bêlia) chứa một số thuật ngữ quen dùng trong Cuộn sách Biển Chết của thuyết nhị nguyên, và một số học giả đã giả định rằng, Phaolô hoặc một người biên tập của 2 Côrintô đã chép lại đoạn văn này từ nguồn đó.[23] Tuy nhiên, một số nhà bình luận rất nổi tiếng cho rằng chính Phaolô đã viết đoạn 6,14-7,1 để đặt vào vị trí hiện tại của nó.[24] “Người không tin” có được xem là thuật ngữ bút chiến chống lại những đối thủ sẽ đi vào tiêu điểm rõ ràng hơn trong các chương 10-13 không? Dù người ta chấp nhận theo quan điểm nào, thì vẫn còn một vấn đề là tại sao đoạn văn này lại được đặt ở đây và làm thế nào nó dường như ăn khớp với tư tưởng trong phần còn lại của bức Thư.

Hai ví dụ này thiết lập nên một dải từ khả thể đến khả thi cho luận đề nói rằng thư 2 Côrintô là một tổng hợp nhiều thư. Sự chắc chắn là không thể đạt tới. Cuộc tranh luận về tính thống nhất của 2 Côrintô đã giúp cải thiện kiến ​​thức lịch sử chi tiết về các mối liên hệ giữa Phaolô với các tín hữu Côrintô; tuy nhiên, từ những ngày đầu tiên, thư 2 Côrintô đã được trình bày theo dạng và trình tự hiện tại.[25] Do đó, thính giả và độc giả có nhiệm vụ và cơ hội làm cho hình dạng hiện tại trở nên có ý nghĩa. Như tôi đã cảnh báo nhiều lần trong phần Dẫn nhập này, các bài bình luận dựa trên những sự tái cấu trúc thuộc vấn đề có thể gây tranh cãi. Để hiểu những gì Phaolô muốn truyền đạt, hầu hết các độc giả sẽ có đủ khả năng để nhận ra rằng thư 2 Côrintô chứa đựng những chủ đề khác nhau được diễn đạt theo những điểm nhấn tu từ khác nhau.

HÌNH ẢNH TRONG 4,16-5,10

Phaolô bày tỏ suy nghĩ của mình về sự hiện hữu của sự chết và cánh chung bằng ngôn ngữ ám chỉ thì không dễ giải mã. Ngài dùng sự tương phản giữa con người bên ngoài (anthrōpos) và con người bên trong. Điều này không nói đến thể xác so với linh hồn, mà là sự hiện hữu của con người trên thế gian này như một người sống bằng sự sống mà người ta có được từ cha mẹ mình, chứ không phải sống bằng sự sống mà người ta nhận được nhờ đức tin từ Đức Giêsu Kitô phục sinh. Sự sống trước phải bị chấm dứt, liên tục bị trao nộp cho cái chết; còn sự sống sau đang được đổi mới và làm cho vinh quang hơn mỗi ngày khi con người được biến đổi nên giống hình ảnh Đức Kitô (4,11; 3,18). Trong cuộc sống trên trần gian của mình, Phaolô đã nhiều lần cận kề với cái chết; và thật nghịch lý là mỗi lần cuộc đời của Đức Giêsu đều biểu lộ rõ ​​ràng hơn trong thân xác của Phaolô. Như Furnish chỉ ra (2 Corithians 290), trong khi theo triết học Khắc kỷ, linh hồn người ta được hoàn hảo hơn nhờ sống theo kỷ luật, thì trong đức tin của Phaolô, sự hoàn hảo ngày càng trở nên hoàn hảo nhờ tác động của Chúa là Thần Khí (3,18).

Tuy nhiên, một số hình ảnh của Phaolô cũng cho cái nhìn sâu sắc về những gì ngài mong đợi ở thế giới bên kia, và điều gì sẽ xảy ra nếu ngôi lều tạm trên thế gian này[26] bị phá hủy (5,1) – một cái lều làm cho ngài cảm thấy mệt mỏi, nặng nề khi ở trong đó (5,4), chính khi thân xác ở lại trong nhà là lúc lạc xa Chúa (5,6). Đối với Phaolô, sự hủy diệt không có nghĩa là ngài sẽ không mặc quần áo và trần trụi (5,3-4); thay vào đó, ngài sẽ được mặc chiếc áo lộng lẫy hơn. Để thay thế ngôi lều tạm này, Thiên Chúa sẽ xây một toà nhà vĩnh cửu trên trời (5,1), một nơi không do tay người phàm làm ra. Phaolô thực sự muốn rời khỏi ngôi nhà thân xác này và muốn cư ngụ trong nhà Chúa (5,8; xin xem Pl 1,20-26). Nếu điều đó hiển hiện rõ ràng hơn[27] thì nhiều điều khác lại không. Ngôi nhà này không do bàn tay con người làm ra đã hiện hữu hay nó được Thiên Chúa dựng nên khi căn lều trần gian bị phá hủy? Nó có phải là một thân xác thiêng liêng mới thay thế cho thân xác hay chết này không? Và nếu đúng như thế thì lúc nào một người Kitô hữu sẽ đứng trước toà xét xử của Đức Kitô (5,10) và mặc lấy thân xác này – ngay lúc chết hoặc lúc sống lại từ cõi chết (như trong 1 Cr 15,36-44)? Hay ám chỉ này có mang tính giáo hội học hơn không, khi liên kết với việc tháp nhập vào Thân thể của Đức Kitô? Hay ám chỉ này có mang tính khải huyền hơn không, khi liên kết với một loại thánh điện trên trời? Hoặc nếu không trở nên cụ thể thì có phải hình ảnh này chỉ muốn phân biệt sự hiện hữu tạm thời trong hiện tại so với sự hiện hữu lâu dài trong tương lai không? Dù dưới góc độ nào thì có phải Phaolô đã được mặc khải một kiến thức đặc biệt về những gì đang đợi chờ các Kitô hữu bên kia cái chết không? Hay trong hình ảnh này, ngài chỉ muốn bày tỏ niềm tin vào chiến thắng và mong được ở với Đức Kitô?

VIỆC QUYÊN GÓP CỦA PHAOLÔ CHO GIÊRUSALEM (Chương 8-9)

Theo trình tự thời gian, vào thập niên 40, Cv 11,29-30 tường thuật Phaolô và Banaba đã gửi cho các kỳ mục Giêrusalem một khoản tiền quyên góp từ Antiôkia nhằm “giúp đỡ anh em ở miền Giuđê” – một cử chỉ khó phù hợp với cuộc lạc quyên của Phaolô liên quan đến các mối tương quan của ngài với các Kitô hữu Giêrusalem trước Cuộc họp tại Giêrusalem năm 49 SCN. Tại đây, Phaolô thuận theo yêu cầu của giáo quyền Giêrusalem nhớ đến những người túng thiếu, điều mà ngài háo hức thực hiện (Gl 2,10).[28] Chúng ta không biết liệu Phaolô có lập tức tiến hành quyên góp để đáp ứng nhu cầu đó hay không và liệu ngài có ngừng hoạt động sau khi “những người của ông Giacôbê đến” và gây ra một số vấn đề tại Antiôkia hay không. Dù ở trường hợp nào thì khoảng năm 56-57, nửa tá năm sau, có việc lạc quyên cho Giêrusalem, “sự phục vụ các thánh,” đã trở thành mối quan tâm lớn trong sự nghiệp truyền giáo của ngài.[29] Các Hội Thánh ở Galát và các tín hữu Côrintô được yêu cầu dành dụm một số tiền nào đó vào ngày thứ nhất trong tuần (1 Cr 16,1-4, có lẽ là ngày các Kitô hữu cùng nhau đến), và trong 2 Cr 8-9 và Rm 15,26, chúng ta thấy Phaolô đi vận động ở Makêđônia và Akhaia.[30] Nhưng tại sao Phaolô lại quan tâm đến chuyện thành công trong nỗ lực này?

Sự quảng đại đối với người nghèo đã được chứng thực trong Cựu Ước (Tv 112,9) và được Đức Giêsu ghi nhớ. Những người giàu có nên chia sẻ với những người túng thiếu – một ngày nào đó, họ túng thiếu sẽ được giúp lại (2 Cr 8,14). Nhưng tại sao có những người nghèo ở Giêrusalem? Chắc chắn một yếu tố là Phaolô muốn hợp nhất các cộng đoàn Dân ngoại của ngài với cộng đoàn Giêrusalem (koinonia; xem Gl 2,9), Dân ngoại đã nhận những phúc lành thiêng liêng của người Do Thái, và vì vậy họ cần có bổn phận chia sẻ lại với người Do Thái những phúc lộc vật chất (x. Rm 15,27). Như vậy, rõ ràng Dân ngoại và Do Thái (đặc biệt là những người trong cùng Mẹ Hội Thánh) là một trong Đức Kitô. Vừa cả tâm lý vừa cả thực tế, có một số điều trong cuộc sống gắn kết mọi người và các thể chế với nhau hiệu quả hơn việc chia sẻ tiền bạc trong ngân hàng của họ.

Có vấn đề cá nhân trong chuyện này không? Nếu có ai đang muốn hạ bệ Phaolô tại Côrintô đến từ Giêrusalem và đang nói xấu Phaolô không trung thành với Cộng Đoàn Mẹ, thì việc quyên góp cho các Kitô hữu tại Giêrusalem có phải thực hiện để bác bỏ điều đó không? Phải chăng những người chống đối Phaolô tại Galát đã phát tán những bình luận châm biếm của ngài về cái gọi là những cột trụ của Hội Thánh ở Giêrusalem, những người không liên hệ với ngài (Gl 2,6.9) và ngài mô tả Giêrusalem hiện đang nô lệ (cho Lề Luật) cùng với con cháu của nó (4,25); và nếu vậy, Phaolô có hy vọng tiền quyên góp sẽ hàn gắn bất kỳ rạn nứt tình cảm nào giữa ngài và các vị lãnh đạo ở Giêrusalem không? Chắc chắn trong Rm 15,30-31 Phaolô có vẻ e ngại về việc liệu sự phục vụ của ngài tại Giêrusalem có được các tín hữu Đức Kitô ở đó chấp nhận hay không. Đọc kỹ Cv 21,17-25, người ta có thể nhận thấy có sự căng thẳng giữa Phaolô và Giacôbê khi Phaolô đến Giêrusalem. Vì vậy, tiền quyên góp có thể đã đóng một vai trò thiêng liêng, mang tính giáo hội và ngoại giao trong sứ vụ của Phaolô – một mẫu thức cho các vai trò phức tạp mà việc quyên góp đã làm trong các Hội Thánh kể từ đó.

CÁC ĐỐI THỦ HOẶC CÁC TÔNG ĐỒ GIẢ TRONG 2 Cr 10-13

Dù một số học giả đáng kính (Barrett, Kasemann) lập luận rằng “các Tông đồ siêu đẳng” trong 11,5 và 12,11 khác với “các tông đồ giả” (11,13), nhưng đó chỉ là một quan điểm của thiểu số gây thêm phức tạp không cần thiết.[31] Giả dụ luận đề đưa ra chỉ có một nhóm “tông đồ” được mô tả trong các chương 10-13, thì đặc điểm của họ là gì? Đọc kỹ các chương với câu hỏi đó trong đầu, người ta có thể tạo ra một bức chân dung không chỉ từ những gì Phaolô nói khi phê bình trực tiếp mà còn từ sự tự vệ của ngài. Họ dường như gần đây đã “đến” Côrintô. Họ là người gốc Do Thái nhưng có kỹ năng hùng biện (có lẽ là của Hy Lạp); họ giảng về Đức Giêsu và những gì tuyên bố cho một Tin Mừng. Họ tự hào về sức mạnh và kinh nghiệm phi thường của mình,[32] và việc họ xin hỗ trợ khiến các tín hữu Côrintô cảm thấy mình quan trọng. Điều thú vị là Phaolô tập trung tấn công vào những kỳ vọng và thái độ hào nhoáng của họ nhiều hơn là vào giáo lý của họ, và ngài làm như vậy phần lớn theo phong thái người cấp trên. Nếu họ là người Do Thái và dân Ítraen và là tôi tớ của Đức Kitô, thì ngài cũng vậy (11,21-23). Nếu các tông đồ siêu đẳng nói về quyền lực của họ, thì Phaolô cũng đã làm các dấu lạ, điều kỳ diệu và phép lạ khi ngài ở Côrintô (12,11-12). Nếu họ nói về những trải nghiệm của họ, thì mười bốn năm trước, ngài cũng đã được đưa lên tầng trời thứ ba và nghe những điều ngài không thể thuật lại (12,1-5). Họ phải xây trên nền tảng của ngài, tự hào về những gì thực sự là công sức của người khác; nhưng ngài không cướp công của ai khác (10,15; 1 Cr 3,10). Tuy nhiên, quan trọng hơn bất kỳ điểm nào khác, họ có giống với ngài về sự đau khổ và chịu bách hại vì Đức Kitô không (2 Cr 11,23-29)? Về tiền bạc, việc Phaolô không xin giúp đỡ là dấu chỉ của sức mạnh chứ không phải sự yếu đuối – chính xác là để tránh tạo gánh nặng cho các tín hữu Côrintô và vì tình yêu của ngài dành cho họ (11,7-15). Ngài dành của cải hỗ trợ của các Hội Thánh khác để phục vụ họ. Giờ đây, bất chấp những lời nói bóng gió của các tông đồ giả, khi Phaolô đang gom tiền quyên góp lại, ngài đã cẩn thận hành động cách trung thực khi cử ông Titô và một anh em đi thu tiền quyên góp (12,16-18).

Bức tranh về các tông đồ giả có thể được phóng to lên và xác nhận bằng cách nhận thấy Phaolô đã nghĩ đến họ vào thời gian trước đó trong 2 Cr (3,1-6,13). Rõ ràng là họ đã đến Côrintô với thư giới thiệu từ những tín hữu khác; trái lại, Phaolô không cần gì cả, vì các tín hữu Côrintô mà ngài đã hoán cải bước theo Đức Kitô là lá thư của ngài (3,1-3). Xác nhận được nhìn thấy ở đây là họ đã chịu trách nhiệm với Tin Mừng của họ (2,17) và rằng họ tự hào về những gì họ đã thấy (5,12). Việc Phaolô biện hộ cho những đau khổ và tình trạng khó khăn đe dọa đến tính mạng của ngài (4,7-5,10; 6,4-10) có phải là dấu hiệu cho thấy các tông đồ giả đang viện dẫn những điều này như một dấu hiệu về sự thất bại của ngài không? Có phải việc Phaolô luôn khẳng định rằng kho tàng nhận được từ Thiên Chúa được chứa đựng trong những bình sành là dấu hiệu cho thấy các tông đồ giả nghĩ rằng quyền năng giờ đây thuộc về họ hơn là thuộc về Thiên Chúa không (4,7)?

Đối với giáo lý của những người này công bố, theo quan điểm của Phaolô, tự bản chất nó có sai lầm không; hay khó khăn đó chỉ là do họ đòi hỏi? Người ta không thể biết được nhiều từ tham chiếu có tính chất khoa trương về khả năng có thể có một người nào đến và rao giảng một Đức Giêsu khác hoặc một Tin Mừng khác (11,4).[33] Người ta không tìm thấy trong 2 Côrintô bất cứ điều gì có thể so sánh với cuộc tấn công ở Galát đối với những người đòi hỏi các Kitô hữu Dân ngoại phải cắt bì. Tuy nhiên, Phaolô nhấn mạnh nền tảng Do Thái và Ítraen của mình; và trong 3,6-18, ngài ca ngợi một sứ vụ và giao ước mới của Chúa Thánh Thần trong những chữ được khắc trên đá, và đề cao tính ưu việt của việc phản chiếu vinh quang của Chúa trên khuôn mặt không che màn so với việc phản chiếu trên khuôn mặt che màn của Môsê. Sự nhấn mạnh này có lẽ gợi ý rằng, các đối thủ đã đặt nặng giá trị di sản Do Thái.[34] Tuy nhiên, nhìn chung, ngoài những ám chỉ thần học từ những tuyên bố của các tông đồ giả về họ, thì không có một sự ngụy biện giáo lý rõ ràng nào xuất hiện ở 2 Cr 3-7; 10-13.

Điều gì xảy ra nếu chúng ta kết nối 1 Cr đến 2 Cr lại với nhau? Những người bị Phaolô tấn công trong 1 Cr (trang 526 trên đây) có phải là những đối thủ bị coi là các tông đồ giả trong 2 Cr không? Theo 1 Côrintô, các tín hữu Côrintô được phân chia hoặc là theo phe Phaolô, Apôlô, Kêpha (Phêrô) hay Đức Kitô; và ít nhất thì Phêrô đã được coi là một Tông đồ,[35] ngay cả khi vẫn rất không dám chắc ngài có ở Côrintô hay không. 1 Cr 9,1-27 bảo vệ quyền Tông đồ của Phaolô và 15,8-10 bảo vệ địa vị của ngài như là người nhận ra Đức Giêsu phục sinh xuất hiện, Đấng đã được ban cho tất cả các Tông đồ. Tuy nhiên, chính vì ngài đã không chứng kiến Đức Giêsu thi hành sứ vụ công khai, nên nhiều lần trong cuộc đời của Phaolô, việc bảo vệ quyền Tông đồ có lẽ đã đè nặng lên vai ngài bởi nhiều người chỉ trích, những người không tự coi mình là tông đồ. Chống lại sự đồng hoá giữa các đối thủ trong 1 Côrintô với những đối thủ trong 2 Côrintô có ấn tượng với những gì được đưa ra trong 2 Cr 3,1; 11,4 đề cập đến việc các tông đồ giả đã tiếp cận gần đây; thực sự, họ có lẽ đã nổi lên như một lực lượng quan trọng nhất để bị chống đối chỉ sau chuyến thăm của Titô mang theo thư “đẫm nước mắt” (#9). Tuy nhiên, vì có vẻ như 1 Côrintô không thể chế ngự được tất cả các đối thủ của Phaolô được đề cập trong đó, có nhiều khả năng hơn là một số kẻ thù cũ của ngài đã gia nhập lực lượng mới vừa đến, vì vậy có một loại tông đồ giả pha trộn đã xuất hiện để tạo ra rắc rối cho Phaolô tại Côrintô?

Từ lâu, các học giả đã đưa ra giả thuyết rằng các tông đồ giả có nguồn gốc từ Giêrusalem là những người ủng hộ Nhóm Mười Hai hoặc thuộc nhóm Giacôbê, hoặc là những nhà truyền giáo Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, những người nhấn mạnh Đức Giêsu là một người làm phép lạ, hoặc là những người theo thuyết ngộ đạo. Mặc dù thỉnh thoảng có những đoạn văn có lẽ ủng hộ cho lý thuyết này hoặc lý thuyết khác, nhưng không có đủ bằng chứng rõ ràng trong thư Côrintô tương ứng để thiết lập nên một trong các lý thuyết đó cách thuyết phục. Trong Gl 2,12, Phaolô nói rất cụ thể rằng “những người của ông Giacôbê đến” (hay Giêrusalem) quấy rối ngài tại Antiôkia; nếu các sứ giả của ông Giacôbê từ Giêrusalem đến đang làm đảo lộn mục đích của ngài tại Côrintô, thì tại sao ngài lại không nói cụ thể hơn? Chúng ta có lẽ phải đồng ý rằng các “Tông đồ” được chỉ đó đang tìm vinh quang hão huyền về những ân sủng kỳ diệu của Thần Khí và rao giảng về một Đức Kitô chiến thắng mà ít nhấn mạnh đến những đau khổ của ngài hoặc sự bắt chước gương lành Kitô hữu của ngài về những đau khổ đó.

CÁC VẤN ĐỀ CẦN SUY GẪM

(1) “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta.” (2 Cr 5,21). Có một sự giáo huấn chung trong Tân Ước nói rằng Đức Giêsu không phạm tội (Ga 8,46; 14,30; Hr 4,15; 1 Pr 2,22; 1 Ga 3,5). Ở đây có phải Phaolô đi ngược lại truyền thống đó bằng cách tuyên bố rằng Thiên Chúa đã biến Đức Giêsu trở thành một tội nhân, sau đó, sẽ trở thành đối tượng cho sự khinh bỉ của Thiên Chúa không? (Một số người ủng hộ điều đó bằng cách tuyên bố rằng Đức Giêsu đang cố tránh uống chén thịnh nộ của Thiên Chúa trong Mc 14,36.) Nếu Phaolô không chống lại truyền thống, thì có một số khả năng: (a) Thiên Chúa cho phép Đức Giêsu bị coi là một tội nhân (kẻ phạm thượng) và chết cái chết của một tội nhân. Một bản văn song song là Gl 3,13: “Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!‘” (Hình phạt cho tội phạm thượng: Lv 24,16 và Đnl 21,22-23 được Josephus trộn lại). (b) Thiên Chúa cho phép Đức Giêsu đứng về phía nhân loại tội lỗi. Phần còn lại của câu trong 2 Cr 5,21 có lẽ ủng hộ cách giải thích đó: “để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (c) Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu trở thành của lễ đền tội. Trong tiếng Hy Lạp của Lv 4,25.29, “tội lỗi” được dùng làm của lễ đền tội. Tuy nhiên, không có dấu hiệu nào trong mạch văn của 2 Côrintô cho một ý tưởng như vậy.

(2) Tính lịch sử của Sách Công vụ cùng với chân dung được tôn sùng như một anh hùng của Phêrô và Phaolô, công nghiệp chứa đầy những kỳ công của họ, thường bị thách đố (ngay cả khi các phép lạ được gán cho Đức Giêsu thường bị gạt ra ngoài như một sự tuyên truyền sau này). 2 Cr 12,12 đáng được xét lại dựa trên những đánh giá đó. Phaolô tự tuyên bố làm được “nào là những dấu lạ điềm thiêng, nào là các phép lạ” giữa các tín hữu Côrintô (cũng Rm 15,19), ngay cả khi ngài không đặt giá trị chứng minh trên những việc đó như những người khác làm. So sánh trình thuật của Phaolô trong 2 Cr 2,23-33 về những gì ngài đã trải qua với bức tranh trong Công vụ cho thấy rằng, nếu có bất cứ điều gì, thì Công vụ có thể khiến chúng ta đánh giá thấp công nghiệp phi thường của vị Tông đồ. Ngay cả một số khía cạnh đáng thách thức nhất của bức tranh Công vụ, như lời rao giảng ban đầu của Phaolô trong các hội đường và sự phản đối từ những người Do Thái hải ngoại, cũng được xác nhận (11,24.26). Có những khác biệt nhỏ, chẳng hạn, việc Phaolô rời khỏi Đamát liên quan đến sự thù địch của Vua Arêta chứ không chỉ sự thù địch của người Do Thái (xem 2,32-33 và Cv 9,22-25). Tuy nhiên, những điểm tương đồng giữa Công vụ và các thư của Phaolô không nên bị đánh giá thấp (Bảng 5 ở Chương 16 trên đây).

[1] Tuyến đường biển trực tiếp dài khoảng 402 km (nhưng không phải lúc nào cũng có thể sử dụng một cách an toàn); Timôthê và cả Phaolô đi theo tuyến đường bộ Êphêxô-Trôa-Makêđônia-Achaia-Côrintô (chủ yếu) trong chuyến thăm Côrintô thứ ba (xem #10, #12) bao gồm một hành trình dài khoảng 1450 km.

[2] 2 Cr 12,14; 13,1-2. Chuyến viếng thăm đầu tiên (#1) chứng kiến ​​việc thành lập Hội Thánh; chuyến thăm thứ ba sẽ được kể lại ở số #12 dưới đây.

[3] Phaolô có đi theo đường bộ từ Côrintô đến Makêđônia (thăm Thêxalônica và Philípphê?) không?; và từ đó, chắc chắn thật không khôn ngoan nếu ngài quay lại Côrintô sớm như vậy, vậy thì ngài có ngang qua Êphêxô không? Hay ngài đã đi bằng đường biển từ Côrintô tới Êphêxô; và ở đó, một phần vì ngài gặp rắc rối, nên ngài đã thay đổi kế hoạch của mình chăng? (Trong 2 Cr 1,8-9, ngài nói về sự đau khổ vượt quá sức chịu đựng ở tỉnh Axia [=Êphêxô] và thậm chí có cả án tử hình.) 2 Cr 1,15-16 đúng thật là rất phức tạp.

[4] Thực ra nhiều học giả không cho rằng bức thư “đẫm nước mắt” đã bị thất truyền. Một số người đã cho rằng thư 1 Côrintô chứa đựng các phần đã được chỉnh lại, vì thế nó là phần đề cập đến. (Tuy nhiên, tại sao chuyến viếng thăm đau đớn của Thánh Phaolô [#8; 2 Cr 2,1] diễn ra trước thư “đẫm nước mắt” không được đề cập trong 1 Cr?) Nhiều học giả khác cho rằng nó đã được lưu truyền trong thư 2 Cr 10-13 nhưng nó được chỉnh lại nhiều. Đề  nghị này khó có thể xảy ra vì nhiều lý do. Bức thư “đẫm nước mắt” (#9) được viết vào thời điểm Phaolô đã quyết định không đến thăm trong lúc đau buồn nữa (2 Cr 2,1.4), nhưng trong 2 Cr 10-13 (12,14; 13,1-2) Phaolô nói đến việc trở lại. Hơn nữa, 12,18 cho thấy rằng Titô (người mang lá thư “đẫm nước mắt”) đã đến Côrintô và báo cáo lại cho Thánh Phaolô. Như vậy, 2 Cr 10-13 được viết sau thư “đẫm nước mắt”.

[5] Xem 7,7: “Ti-tô đến.” Phaolô và Timôthê đã không thể dàn xếp ổn thoả cho Côrintô trong sứ vụ trước đây, vì vậy bây giờ Phaolô dùng cách khác để thử. Thật khó để biết chúng ta sẽ hiểu làm sao những lời khen ngợi gần như ngây ngất của Phaolô trong 2 Cr 7,13-16 xét theo nghĩa đen.

[6] Tiểu mục dưới đây sẽ thảo luận xem 2 Côrintô có phải là một bức thư thống nhất hay một tập hợp các bức thư đã từng đứng độc lập (2-5 thư), nhưng chúng ta sẽ bắt đầu (Phân tích tổng quát) bằng cách ngiên cứu bức thư như hiện tại.

[7] Murphy-O’Connor cộng thêm một năm vào trình tự: sau khi Phaolô gửi thư 1 Côrintô từ Êphêxô trước mùa xuân, ngài đã trải qua Mùa Đông năm đó ở Makêđônia và viết thư 2 Cr 1-9 vào mùa xuân năm sau. Cuối Mùa Hè năm sau, vì có tình trạng sa đoạ mới ở Côrintô, nên ngài viết 2 Cr 10-13 từ Miền tây Hy Lạp hay tại Ilyri (Rm 15,19); chỉ sau đó ngài mới tiếp tục nghỉ đông ở Côrintô.

[8] Một số người đưa ra giả thuyết rằng đây là người đàn ông loạn luân bị khiển trách trong 1 Cr 5,1-2, người mà cộng đoàn rất tự hào.

[9] Đối với giả thuyết nói 2 Cr 10-13 tạo thành bức thư “đẫm nước mắt”, người ta có thể phản đối vì không có sự tập trung nào như vậy vào một cá nhân trong các chương đó.

[10] Dựa vào 2 Cr 2,14-3,3, hãy xem S. J. Hafemann, Suffering and Ministry in the Spirit (Grand Rapids: Eerdmans, 1990). Vào 3,1-18, L. L. Belleville, Reflections of Glory (JSNTSup 52; Sheffield: Academia, 1991); J. A. Fitzmyer, TS 42 (1981), 630-44; W. C. van Unnik, NovT 6 (1964), 153-69; S. J. Hafemann, Paul, Moses và History of Israel (WUNT 81; Tübingen: Mohr-Sieheck, 1995). Về 4,8-9; 6,3-10, J. T. Fitzgerald, Cracks in an Earthen Vesel (SBLDS 99; Atlanta: Scholars, 1988).

[11] Về các thư như thế, xem W. R. Baird, JBL 80 (1961), 166-172.

[12] Có nhiều ví dụ châm biếm khác nhau trong 2 Cr. Xin xem C. Forbes, NTS 32 (1986),1-30, về cách Phaolô sử dụng kỹ thuật văn học này, cũng như G. A. Kennedy, IN Interpretation.

[13] Xem J. L. Martyn trong CHI 269-87; J. P. Lewis, ed., Interpreting 2 Corinthians 5.14-21 (New York: Mellen, 1989). Trong 5,13, Phaolô nói ngài có điên cũng vì Chúa; Phải chăng điều đó là ám chỉ đến việc ngài nói tiếng lạ, nghĩa là nói với Thiên Chúa (1 Cr 14,2,18)? Trong 5,16-17, Phaolô viết về việc từng biết Đức Kitô theo tính xác thịt, nhưng bây giờ không còn nữa. Điều này không có nghĩa là ngài đã biết Đức Giêsu trong thời gian rao giảng công khai, nhưng ngài đã từng nhìn Đức Kitô không bằng con mắt đức tin. Bây giờ thời cũ đã qua, trong thời mới này, thời của tạo vật mới, Phaolô nhìn Người theo một cách khác.

[14] 8,8; Lưu ý rằng, như trong Plm 8-9, Phaolô không chọn cách ra lệnh. Trước đó người Makêđônia, đặc biệt là người Philípphê, đã thể hiện lòng quảng đại của họ (Pl 4,10-19; 2 Cr 11,9), nhưng bây giờ tình hình ở Makêđônia dường như đặc biệt khó khăn (7,5). Những người Kitô hữu ở Thêxalônica có lẽ đã rất nghèo vì sự nhầm lẫn liên quan đến những người đã ngừng làm việc (1 Tx 4,11-12; 2 Tx 3,6-13).

[15] M. DiCicco, Paul’s Use of Ethos, Pathos, and Logos in 2 Corinthians 10-13 (Lewiston, NY: Mellen, 1995), lập luận rằng Phaolô biết và sử dụng các phương pháp tu từ khác nhau của Aristote.

[16] Một “cái gai” bí ẩn đã đâm vào xác thịt Phaolô, thủ hạ của Satan được sai đến để hành hạ ngài (12,7). Đó có phải là thế lực ma quỷ, hay căng thẳng tâm lý, hay bệnh tật thể xác, hay sự chống đối liên tục của con người? Gl 4,13 nói về sự yếu đuối của xác thịt liên quan đến lần đầu tiên rao giảng cho người Galát. Xem Furnish, 2 Corinthians 548-550; TY. Mullins, JBL 76 (1957), 299-303; H. R. Minn, The Thorn That Remained (Auckland: Moore, 1972); P. H. Menoud, trong cuốn sách của ông: Jesus Christ and Faith (Pittsburgh: Pickwick, 1978), 19-30.

[17] Đối với vấn đề thống nhất, xem W. H. Bates, NTS 12 (1965-66), 56-69; Stephenson, A.M.G., trong The Authorship and  Integrity of the New Testament (London: SPCK, 1965); và Young và Ford, Meaning. A. Stewart-Sykes, JSNT 61 (1996), 53-64, phê phán lập luận trong các lý thuyết phức tạp hơn về việc phân chia 1-2 Côrintô thành nhiều thư khác nhau.

[18] Đối với một phân tích hơi khác về năm thư trong 2 Cr, xem N. H. Taylor, “Composition”; những người khác thừa nhận có hơn sáu lá thư. Betz, 2 Corinthians 3-36, kể lại lịch sử của các lý thuyết chia nhỏ 2 Côrintô. Betz tin chắc rằng F và G là những thư riêng biệt nên ông đã viết cả một bài bình luận Hermeneia về chúng.

[19] Luận đề cho rằng các chương 10-13 nguồn gốc là một phần của một bức thư độc lập được J. S. Semler đưa ra vào năm 1776. F. Watson, JTS NS 35 (1984), 324-46, sẽ đồng nhất nó với Thư C; J. Murphy-O’Connor, Australian Biblical Review 39 (1991), 31-43, nghĩ về các chương 10-13 như là lá thư cuối cùng của Phaolô gửi cho các tín hữu Côrintô, được viết ở Ilyri ngay trước #12.

[20] J. Knox trong JBL 55 (1936), 145-53, gợi ý rằng một người biên tập đã nối ba thư riêng biệt (1 Cr; 2 Cr 1-9; và 2 Cr 10-13) lại thành một tuyển tập “gửi các tín hữu Côrintô” bằng cách lược bỏ bớt Công thức Mở đầu của thư thứ hai và thứ ba. Sau này, một người biên tập khác chia bộ sưu tập này thành hai, cụ thể là 1 Cr và 2 Cr, và sao chép Công thức Mở đầu từ 1 Cr để làm Công thức Mở đầu cho 2 Cr.

[21] Một số người dựa vào 1 Cr 5,9-11, nơi Phaolô nói rằng ngài đã viết một lá thư (Thư A; #3) bảo các tín hữu Côrintô đừng giao du với những người vô luân. Có phải 2 Cr 6,14-7,1 là lá thư đó không? Liệu Phaolô có đồng hoá toàn thể Dân ngoại không tin đạo là vô luân không?

[22] H. D. Betz, JBL 92 (1973), 88-108, đã lập luận rằng 2 Cr 6,14-7,1 là một bộ phận chống Phaolô, chống những ý tưởng mà Phaolô lên án.

[23] Ví dụ, J. A. Fitzmyer, CBQ 23 (1961), 271-280; FESBNT 205-217, tranh luận về phần thêm vào không phải của Phaolô. J. Murphy-O’Connor (RB 95 [1988], 55-69) cho rằng có những điểm tương đồng trong Philo tốt hơn trong Các Cuộn Giấy Da; xem Chương 22 ở trên, ghi chú 48.

[24] Lambrecht, Murphy-O’Connor. Xem thêm M. E. Thrall, NTS 24 (1977), 132-148; W. J. Webb, Returning Home: New Covenant and Second Exodus as the Context for 2 Corinthians 6,14-7,1 (JSNTSup 85; Sheffield: Academic, 1993).

[25] W. S. Kurz, JSNT 62 (1996), 43-63, chỉ ra rằng dù 2 Cr là một bộ tổng hợp, thì hoàn cảnh sống ban đầu của các thành phần sẽ ít liên quan đến khán giả của dạng kết hợp. Cái nhìn sâu sắc đó tương đối hóa tầm quan trọng của việc tái tạo lại các mảnh vỡ ban đầu.

[26] 2 Cr 5,1.4 trình bày cách sử dụng chữ lều duy nhất (skēnoslē) trong các tác phẩm của Phaolô nói về người sản xuất lều (Cv 18,3).

[27] Tuy nhiên, J. Murphy-O’Connor, RB 93 (1986), 214-221, lập luận rằng “ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa” (5,6b) không phải là tư tưởng của Phaolô mà là một khẩu hiệu được những người chống đối Phaolô sử dụng và bày tỏ sự hiểu lầm của họ.

[28] Người ta đã tranh luận liệu tình trạng nghèo đói rất nghiêm trọng ở Giêrusalem có phải do việc chia sẻ của cải chung hay không (theo mô tả lý tưởng trong Cv 2,44-45; 4,32.37); Tuy nhiên, hãy nhìn sự lạc quan về của cải được chia sẻ trong 4,34-35.

[29] C. H. Buck, Jr., HTR 43 (1950), 1-29; L. E. Keck, ZNW 56 (1965), 100-29; J. Munck, Paul 282-308; K. F. Nickle, The Collecction: A Study in Paul’s Strategy (SBT 48; London: SCM, 1966); D. Georgi, Remembering the Poor: The History of Paul’s Collection for Jerusalem (Nashville: Abingdon, 1992; German orig., 1965).

[30] Dường như quà quyên góp cho Giêrusalem đến được mô tả trong Cv 24,17, “Sau nhiều năm, tôi về Giê-ru-sa-lem để đem tiền cứu trợ cho dân tộc tôi.”

[31] Thông thường, trong luận đề này, các tông đồ giả là những người rao giảng ở Côrintô trong khi các Tông đồ siêu đẳng là những người có thẩm quyền ở Giêrusalem, có lẽ được gọi là trụ cột của Hội Thánh trong Gl 2,9. Nhưng chắc chắn người ta phải giải thích 2,5 (“Tông đồ siêu đẳng”) dưới ánh sáng của 2,4, mô tả một người đến và rao giảng một Đức Giêsu khác. Xem Furnish, 2 Corinthians 502-505. Tổng quát hơn, D. Kee, Restoration Quarterly 23 (1980), 65-76; M. E. Thrall, JSNT 6 (1980), 42-57.

[32] Georgi, Opponents, đã lập luận mạnh mẽ rằng các đối thủ là những người xuất thần Do Thái theo văn hoá Hy Lạp nói năng hùng hồn, tràn đầy Chúa Thánh Thần, Đấng biểu lộ quyền năng làm phép lạ, liên quan đến hình ảnh “người của Thiên Chúa” (theios anēr) trong thế giới văn hoá Hy Lạp. Murphy-O’Connor, với những sửa đổi, đã sử dụng chủ đề “Những con người đầy Thánh Thần” này.

[33] Trong Gl 2,14, ngài cáo buộc Phêrô không sống ngay thẳng với chân lý của Tin mừng, nhưng trong 1 Cr 15,5.11 ngài nhấn mạnh rằng Phêrô và ngài đang rao giảng cùng một thông điệp căn bản cần phải tin. Trong 2 Cr 6,14-7,1 Phaolô cảnh cáo những người không tin; Phải chăng đó là lối văn hùng biện quá đáng đối với các tín hữu sai lạc của Đức Kitô, Đấng mà ngài đang mô tả trong các chương 10-13 không?

[34] Gunther, Paul’s Opponents 299-303, là một người ủng hộ mạnh mẽ nguồn gốc Do Thái.

[35] Xem C. K. Barrett, “Cephas and Corinth,” trong Essays on Paul, 28-34. F. C. Baur đã khám phá ra một trong những cách xử lý kẻ thù lâu đời nhất của Phaolô ở Côrintô (1831). Nó làm nền tảng cho lý thuyết của ông nói rằng Hội thánh sơ khai được hình thành bởi cuộc đấu tranh giữa Kitô giáo thiên về luật của Phêrô và Kitô giáo thiên về tự do của Phaolô.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục