danvienxitochauthuy

Thư 1 Thêxalônica (Raymond E. Brown)

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm
Trích dịch từ: “An Introduction to the New Testament”
Tác giả: Raymond E. Brown

Là văn bản Kitô giáo lâu đời nhất được giữ lại, tài liệu này có một giá trị đặc biệt ngay cả bên ngoài Nội dung của Phaolô. Đôi khi, trong Nội dung của 1 Thêxalônica đã bị bỏ quên vì nó không lưu tâm đến chủ đề lớn của Phaolô về sự Công chính hóa nhờ đức tin chứ không phải nhờ làm những việc Luật dạy. Tuy nhiên, chính thái độ đó đặt ra những vấn đề về thần học Phaolô mà độc giả đã được cảnh báo trong Chương 16. Liệu sự đánh giá của chúng ta về tầm quan trọng một thư Phaolô có thể tách biệt khỏi mối liên hệ của thư với hoàn cảnh sống mà trong đó nó được viết ra không? Không phải sự trình bày tư tưởng Phaolô được định hình do nhu cầu của cộng đoàn cụ thể sao (có lẽ trong trường hợp này nó không bị ảnh hưởng do sự tranh luận về công việc của Lề Luật)? Hoặc nếu có sự tiến bộ trong tư tưởng của ngài, thì chúng ta có thể thấy ở đây một Phaolô trẻ trung hơn – vẫn rất gần gũi với những kinh nghiệm của ngài trong hội thánh Antiôkia, nhưng chưa được cuộc khủng hoảng ở Galát nhào nặn nên để đưa đến vấn đề công chính hóa hiện có trong tư tưởng của ngài. (Chương 10 ở trên, số 102)? Các vấn đề vừa được đặt ra ngụ ý rằng một nghiên cứu dẫn nhập vào bối cảnh của Phaolô liên hệ đến những người được ngài rao giảng là điều quan trọng để hiểu 1 Thêxalônica (thực sự đối với bất cứ thư nào của ngài). Vì vậy, phần Phân tích tổng quát sẽ đưa ra những hướng dẫn khi độc giả lướt qua nội dung của lá thư và các phần phụ sẽ bao gồm các vấn đề cần suy tư và sau đó là Thư mục.

BỐI CẢNH

Phaolô, cùng với Xila và Timôthê,[1] đã băng qua tỉnh Axia (Tiểu Á hoặc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) để đến Makêđônia (thuộc Châu Âu, miền bắc Hy Lạp ngày nay) khoảng năm 50 SCN. Trong một thời gian tương đối ngắn, ngài di chuyển qua Makêđônia đến Akhaia (miền nam Hy Lạp) dừng lại ở Philiphê, Thêxalônica, Bêroia, Athêna và Côrintô. Có lẽ các việc truyền giáo đã mang Đức Giêsu Kitô từ Giêrusalem đến Châu Âu sớm hơn;[2] nhưng đây là một bước tiến quan trọng trong việc loan báo Tin Mừng của Phaolô, và mối quan tâm của ngài trong những năm sau này thường hướng về các hội thánh được ngài thành lập trong chương trình rao giảng Tin Mừng ở Hy Lạp.

TÓM TẮT NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN

Ngày biên soạn: là tài liệu cũ nhất của Kitô giáo được lưu lại: theo ngày biên soạn truyền thống là năm 50 hoặc 51 trong cuộc hành trình của Phaolô (Hành trình truyền giáo thứ hai), được biên soạn trong cuộc gặp mặt ở Giêrusalem (hoặc năm 41-43 theo ngày biên soạn của thuyết xét lại:* trước cuộc gặp gỡ ở Giêrusalem).

Nơi biên soạn: ở Côrintô, trong vòng vài tháng sau khi ngài rao giảng tại Thêxalônica.

Người nhận: Các tín hữu ở Thêxalônica, nguồn gốc có lẽ gồm cả người gốc Dân ngoại và gốc Do Thái.

Tính xác thực: ngày nay không ai nghi ngờ về tính xác thực của nó.

Tính thống nhất: Một số ít học giả đáng kính cho rằng: có hai thư khác nhau được kết hợp để tạo ra 1 Thêxalonica (ví dụ, W. Schmithals), nhưng tính thống nhất vẫn được khẳng định một cách rõ ràng.

Tính toàn vẹn: Tác giả Phaolô trong 2,13-16 được đa số các học giả khẳng định chắc chắn; xin xem Vấn đề thứ 2 bên dưới. Nhìn vào 5,1-11, nó giống như phần bổ sung của thư.

Bố cục:

A. Lời Mở đầu: 1,1

B. Lời Tạ ơn: 1,2-5 hoặc 1,2-10; hoặc Lời Tạ Ơn dài: 1,2 – 3,13, được chia làm phần thứ nhất (1,2 – 2,12) và thứ hai (2,13 – 3,13)

C. Nội dung: 2,1 – 3,13 (hoặc 1,6 – 3,13): Dấu hiệu thuộc Phaolô (mối tương quan với các tín hữu Thêxalônica)

4,1 – 5,22: Đòi buộc của Phaolô (những chỉ dẫn, huấn dụ)

D. Công thức cuối thư: 5,23-28.

BỐ CỤC THEO NỘI DUNG:

1,1-10: Địa chỉ / Lời chào và Lời Tạ Ơn

2,1-12: Hành vi của Phaolô tại Thêxalônica

2,13-16: Thêm Lời Tạ Ơn về việc đón nhận Tin Mừng

2,17-3,13: Sứ vụ của Timôthê và tương quan hiện tại của Phaolô với hội thánh ở Thêxalônica

4,1-12: Lời khuyên tu đức và huấn dụ

4,13-5,11: Những hướng dẫn cho ngày Chúa quang lâm

5,12-22: Những hướng dẫn về đời sống hội thánh

5,23-28: Phúc lành và lời chào kết thúc (gửi kèm một nụ hôn, xem trang 418-419 ở trên).

Bài giảng đầu tiên của ngài là tại Philiphê, nơi ngài chịu “đau khổ và bị làm nhục” (1Tx 2,2).[3] Sau đó, tiếp tục đi khoảng 100 dặm về phía tây dọc theo con đường Qua Ngã Egnatia, con đường lớn từ Rôma xuyên qua Bắc Hy Lạp, Phaolô và các bạn đồng hành của ngài đã đến Thêxalônica,[4] nơi ngài Công bố Tin Mừng “không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa” (1Tx 1,5). Ngài ở đó bao lâu thì không biết chắc. Trong một bức tranh mang phong cách và có tính cô đọng cao, Cv 17,2 đề cập đến ba ngày Sabát liên tiếp tại hội đường,[5] và sau đó đề cập đến một việc mục vụ tập trung quanh nhà Giaxon (17,5-9), sau đó ngày ra đi vội vàng. Ngoài việc rao giảng, Phaolô (1Tx 2,9) còn kể lại rằng ngài đã lao động khổ cực, làm việc ngày đêm để không trở thành gánh nặng tài chính cho anh em; và trong Pl 4,16, ngài ghi nhớ vài lần các tín hữu Philiphê đã gửi tiền cho ngài tại Thêxalonica – qua mô tả cho thấy ngài cư ngụ ở đó khoảng hơn vài tuần.

Thêxalônica là một thành phố có một cộng đoàn Do Thái ở đó nhưng nổi tiếng nhờ sự đa dạng tôn giáo, cho thấy dân tứ xứ ở đó. Khảo cổ học và các bảng ghi chép lịch sử cho thấy nơi này có thờ các vị thần Rôma và hoàng đế,[6] cũng như nhiều vị thần Phương Đông, chẳng hạn, Cabirus (Kabiroi), Isis, Serapis và Osiris. Thư Phaolô viết cho những người mới theo đạo của ngài tại Thêxalônica, những người đã “từ bỏ ngẫu tượng” (1,9) ám chỉ rằng họ là những người ngoại, và rằng (4,1) họ phần lớn thuộc tầng lớp lao động. Cv 17,4 có lẽ không quá sai lệch khi thuật lại rằng tại Thêxalônica, mặc dù Phaolô lần đầu tiên rao giảng trong hội đường, ngài đã hoán cải được một số người nghe ngài ở đó, và cuối cùng ngài đã thu hút được nhiều người kính sợ Thiên Chúa và Dân ngoại theo ngài.[7] Cũng có thể nghề dệt lều, da thuộc làm cho ngài giao du với các người ngoại, những người cũng kiếm sống bằng nghề này. (sách Công vụ chắc chắn chỉ đề cập đến những người nổi bật hơn.) Trong 1Tx 2,2, Phaolô nói về cuộc “chiến đấu gay go” tại Thêxalônica. Điều này có lẽ liên quan đến Cv 17,5-10, trong đó Phaolô thành công với Dân ngoại đã khiến một nhóm người Do Thái tức giận, những người thay phiên nhau kích động đám đông ở chợ chống lại ngài, khiến ngài phải trốn khỏi thành phố cùng với Xila. Sự ra đi vội vàng có tính cưỡng chế như vậy đã để lại nhiều điều chưa hoàn thành; điều đó có thể giải thích được tại sao Phaolô đã viết thư cho họ sau khi ra đi chỉ trong một thời gian ngắn (1Tx 2,17) và mong muốn mãnh liệt của ngài là về thăm lại, nhưng lại bị cản trở (2,18), nên ngài đã gửi Timôthê từ Athêna đến Thêxalônica[8] để tránh cho các Kitô hữu ở đó khỏi lo lắng trước những khó khăn gian khổ (3,2-5) và những gì họ đang phải gánh chịu từ “đồng bào” của mình (2,14-15). Những khó khăn và đau khổ này là gì? Không chắc đó là sự phản đối mà Phaolô phải đối mặt từ cả người ngoại và Do Thái vẫn diễn ra sau khi ngài ra đi và đã làm khổ những người mới theo đạo của mình.[9] Có lẽ những “đồng bào” mà ngài vừa đề cập là người ngoại, tuy nhiên Phaolô cũng so sánh những đau khổ của người Kitô hữu Thêxalônica với những đau khổ mà các hội thánh của Thiên Chúa tại Giuđêa đã phải chịu đựng do những người Do Thái đã giết Đức Giêsu và các ngôn sứ. Trong bức tranh Tin Mừng này, những nhà cầm quyền Do Thái đã gây ra cái chết cho Đức Giêsu qua sự cộng tác của thẩm phán Rôma, ngay cả như trong Cv 17,5 – 6,13, có một số người Do Thái ở Thêxalônica đã gây rối trên đường phố và làm cho các thẩm phán (có lẽ là một người ngoại) chống lại Phaolô. Với bối cảnh tương quan giữa Phaolô và các Kitô hữu tại Thêxalônica thì ngài đã nói gì trong thư được viết ngay sau khi ngài rao giảng giữa họ?

Phân tích tổng quát thông điệp

Bởi vì tư tưởng của Phaolô thường thay đổi liên tục trong thư, nên tôi sẽ không cố gắng phân tích hoàn toàn theo tuần tự.[10] Thay vào đó, tôi đề nghị độc giả lướt qua thư 1 Thêxalônica một cách nhanh chóng để có ấn tượng sơ qua về nội dung, và sau đó họ sẽ cảm thấy điều này hữu ích khi nhấn mạnh đến các vấn đề chính.

Rõ ràng Phaolô quan tâm chăm sóc các tín hữu Thêxalônica. Ngài gọi họ là “anh em” (anh em và chị em) của mình khoảng 40 lần tương ứng với độ dài của thư, một tần suất lớn. Một cách dịch câu 2,8 là: “Khi được tách khỏi anh em, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ với anh em không chỉ Tin Mừng của Thiên Chúa mà còn cả mạng sống chúng tôi.” Đôi khi Phaolô nhẹ nhàng khuyến khích những người nghe lời ngài, nhưng người ta có cảm giác rằng ngài thật sự cảm thấy nhẹ nhõm khi Timôthê trở về với ngài (tại Côrintô) cùng với tin vui rằng các Kitô hữu ở Thêxalônica không nao núng trước những ưu phiền (3,3) và đang kiên định trong Chúa (3,6-8). “Chúng tôi biết nói gì để tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì tất cả niềm vui mà nhờ anh em, tôi có được trước nhan Thiên Chúa chúng ta?” (3,9). Thật vậy, họ dường như đã phải chấp nhận thử thách trong khi rao truyền đức tin vào Đức Kitô, bằng cách làm cho Lời Chúa vang lên ở những nơi khác ở Makêđônia và Hy Lạp (Akhaia; 1,7-8; xem 4,10). Vì vậy, Phaolô không thể đến với họ sớm và có lẽ bấy giờ cảm thấy không cần phải làm như thế nữa, nên ngài đã có thể viết một thư nhẹ nhàng, để khuyến khích họ yêu thương nhau nhiều hơn (4,10) nhưng ít trách móc[11] hoặc có những chỉ thị mới cho họ. Thật vậy, trong phần lớn thư, bằng cách dùng văn phong hùng biện, đã nại tới những điều các tín hữu Thêxalônica đã biết rồi.[12] Có lẽ những lời nhắc nhắc nhở và / hoặc giáo huấn mới của ngài đã giải đáp những vấn đề do Timôthê tường thuật và những câu hỏi do các tín hữu Thêxalônica đưa ra. Tuy nhiên, Phaolô có động lực chính xác như thế nào qua những nguy hiểm hoặc xu hướng cụ thể hiện tại ở Thêxalônica và qua sự định hình về tôn giáo, chính trị và văn hóa của những người đã tin theo Đức Giêsu trong thành phố đó?[13] Chúng ta hãy xem xét vấn đề đó một cách chi tiết hơn dưới những đề mục của hai câu hỏi sau đây.

ĐẦU TIÊN, tại sao trong phần lớn thư, Phaolô lại nhắc nhở các tín hữu Thêxalônica về những điều họ đã biết rồi? Theo mức độ đơn giản nhất thì bất kỳ cộng đoàn nào có nhiều người Dân ngoại mới theo đạo sau chuyến thăm truyền giáo tương đối ngắn của ngài sẽ tạo ra một sự thay đổi lớn trong việc chấp nhận niềm tin vào một Thiên Chúa duy nhất của Ítraen, cũng là Cha của Đức Giêsu Kitô; và do đó, việc củng cố đức tin của họ bằng cách gợi nhớ lại những gì đã được rao giảng sẽ thực sự là thích hợp. Nói một cách cụ thể hơn, tác giả Donfried trong “Cults” trang 338-342, cho rằng các tà giáo cuồng tín (Dionysus, Cabiri) ở Thêxalônica là bối cảnh để Phaolô đưa ra những lời cảnh báo trong 4,3-8: “Xa lánh gian dâm”; “không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại, là những người không biết Thiên Chúa”; “Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện”[14] Đó là một gợi ý thú vị; tuy nhiên những người khác lại cho rằng phần lớn bằng chứng khảo cổ liên quan đến các tà giáo đến sau thời này, và do đó khả năng áp dụng điều đó cho Thêxalônica mà Phaolô biết vẫn đang nằm trong vòng tranh luận (xem H. Koester trong TTC 442-444).

Một lần nữa, Donfried trong “Cults” trang 347-352, chỉ ra các khả năng so sánh theo tình huống trong 1Tx 1,6; 2,2.14; 3,3, nơi Phaolô viết về những nỗi gian truân và chống đối. Có phải một phần của vấn đề loại trừ kỳ lạ của nhóm Kitô hữu này, những người mới trở lại đạo đã từ bỏ tôn giáo công khai không? Đặc biệt, việc công bố Tin Mừng của Phaolô về một Thiên Chúa duy nhất của Ítraen và Đức Đức Giêsu Kitô có gây ra nỗi gian truân và bắt bớ trong một thành phố nơi có phong tục thờ cúng của dân Rôma rất mạnh mẽ không? (Cv 17,7 làm rõ trách nhiệm, lời rao giảng của Phaolô về Đức Giêsu như một vị vua là mâu thuẫn với chiếu chỉ của Xêda.) Phaolô có cần nhắc nhở các tín hữu Thêxalônica rằng bản thân ngài đã trải qua đau khổ khi rao giảng ở đó (2,2) vì ngài đang bị buộc tội hèn nhát khi bỏ trốn khỏi thành phố và bỏ mặc những người khác đối mặt với hậu quả rao giảng của ngài không (Cv 17,9-10)? Trong một thời gian ngắn sau khi Phaolô rời khỏi Thêxalônica, các tín hữu đã bị đem đi xử tử: vậy thì vấn đề số phận của những người an nghỉ trong Đức Kitô sẽ như thế nào (1Tx 4, 16)? Hay Malherbe (Paul 46-48) có chính xác không, khi gợi ý rằng nỗi gian truân và đau khổ mà Phaolô nói đến không phải là sự bắt bớ từ bên ngoài mà là sự đau khổ và bị cô lập từ bên trong không? Điều đó chắc chắn có thể là một phần của bức tranh; tuy nhiên, khi nhìn lại các hoạt động của ngài vài năm sau đó (2 Cr 11,23-27), Phaolô có nói đến sự hành hạ về thể xác, những âm mưu sát hại ngài, và những nguy hiểm từ bên ngoài do cả người Do Thái và Dân ngoại; và trong Rm 8,35-36, liên quan đến “gươm giáo” (nếu ngài không dùng lời nói hoàn toàn hùng biện), ngài nêu lên vấn đề về các Kitô hữu bị giết. Những quấy rối và bắt bớ đó đã diễn ra trong những năm đầu trong sứ vụ của ngài. Cũng vẫn còn một khả năng khác mà Phaolô ám chỉ đến liên quan những nỗi gian truân. Ngài gợi ý cho độc giả về hành động của mình trong vai trò là người rao giảng ở Thêxalônica trong 1Tx 2,1-13. Họ đã thấy rằng ngài không truyền giáo bằng những động cơ không trong sạch hay lừa dối, xu nịnh hay tham lam, hay tìm kiếm lời khen ngợi nhưng nhẹ nhàng như người mẹ hiền ấp ủ con thơ (2,7) và như một người cha yêu thương (2,11), lời rao giảng không chê vào đâu được, không dùng lời ngon ngọt của con người nhưng là lời của Thiên Chúa. Lời nhắc nhở này có gây nên những cáo buộc chống lại ngài bởi những người đang gây đau khổ cho hội thánh ở đó không? Liệu ngài có bị so sánh với khuôn mẫu triết gia hoài nghi lệch lạc thô lỗ và hám lợi đang rêu rao thông điệp của mình không?[15] Đặc biệt, lời buộc tội này có lẽ đã làm cho Phaolô bực bội, vì ngài tự xưng mình là một tông đồ của Đức Kitô, người rao giảng Tin Mừng hoặc Lời Chúa ( 2,2.8.13). Thật vậy, ngài đã lặp lại lời Đức Giêsu: “Anh em đã được Thiên Chúa dạy phải thương yêu nhau” (4,9; xem thêm “lời của Chúa” trong 4,15).

THỨ HAI, tại sao trong 4,13 – 5,11, thay vì nhắc nhở các tín hữu Thêxalônica về những gì họ đã biết, thì Phaolô lại chỉ ra rằng họ cần chính xác hơn nữa? Phaolô đã có kiến thức sâu sắc mang tính khải huyền hay ngày cánh chung về những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô: cái chết và sự phục sinh của Người đánh dấu sự thay đổi thời đại khiến tất cả mọi người bây giờ sống trong thời kỳ cuối cùng. Đây là một thông điệp đầy hy vọng cho tất cả những ai tin;[16] và Phaolô đã dạy cho các tín hữu Thêxalônica hiểu sự hoàn tất niềm hy vọng cánh chung đó chính là ngày quang lâm lần thứ hai của Đức Kitô từ trời ngự xuống[17] để mọi người được chiêm ngưỡng (1,10; 4,16-17). Khi họ trải qua những nỗi gian truân và đau khổ, sự mong ngóng này làm tăng thêm sức mạnh. Tuy nhiên, có lẽ vì ngài nghĩ rằng điều này sẽ sớm xảy ra, nên ngài không đem vấn đề này ra bàn luận liên quan đến những tín hữu qua đời trước khi Chúa đến. Có lẽ ngài đã không tiên đoán được một số người sẽ bị giết vì Đức Kitô nhanh chóng như thế nào. Bây giờ, có lẽ vì các tín hữu Thêxalônica xin ngài chỉ dẫn, nên ngài muốn cụ thể hóa nó, dựa trên sự ám chỉ về những gì ngài đã giảng dạy về giá trị cứu độ của cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Người Kitô hữu có thể đau buồn đối với người thân đã qua đời của họ nhưng không giống như “những người không có niềm hy vọng” (4,13). Một khi ngày quang lâm bắt đầu, “những người đã an giấc trong Đức Giêsu” sẽ được sống lại và cùng với những người sống, họ sẽ được đưa lên để nghênh đón Chúa trên không trung (4,14-17). Không có thời gian nào hay ngày tháng nào đi kèm với tất cả những điều này; quả thật nó sẽ xảy đến bất ngờ, vì vậy họ phải cẩn thận luôn tỉnh thức và điềm tỉnh (5,1-11). Tuy nhiên, xét về tổng thể, tư tưởng về ngày quang lâm của Đức Giêsu Kitô rất đáng khích lệ: “Đấng đã chết vì chúng ta, để dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người (5,10). Lưu ý rằng Phaolô trong 1 Thêxalônica không quan tâm đến các chi tiết của ngày quang lâm như vậy; mối quan tâm mục vụ của ngài là làm dịu lại mọi xáo trộn trong cộng đoàn mà ngài đã rao giảng.

Các vấn đề dành để suy niệm thêm

(1) Trong phần Dẫn nhẫp thư này, chúng ta sẽ không nên dành nhiều thời gian tìm hiểu chi tiết chính xác về cấu trúc các thư Phaolô (ngoài phần tổng quát ở Chương 15), tuy nhiên mẫu thư lạ thường 1 Thêxalônica cần phải được để ý. Phaolô đề cập đến các bạn đồng tác giả (co-senders) Xinvanô và Timôthê[18] trong Lời mở đầu nhưng không coi mình (hoặc họ) là tông đồ hay tôi tớ của Đức Kitô, như ngài thường làm trong các thư sau này (x. 2,6). Lời Tạ Ơn bắt đầu trong 1,2 – và lời cảm tạ trong 1Tx 2,13 thuộc phần Nội dung thư có tạo thành Lời Tạ Ơn thứ hai sau 1,2 không? Hay Lời Tạ Ơn kéo dài đến hết chương 3?[19] Vấn đề này có phần liên quan đến câu hỏi tiếp theo dưới đây.

(2) Is 2,13-16 có phải là một nguồn gốc mà Phaolô đưa vào để viết 1 Thêxalônica không, hay đã được biên tập viên thêm vào sau này?[20] Nó ám chỉ đến “những người Do Thái giết Đức Giêsu” và khái quát hóa nó trong các hạn từ thù địch. Nếu nó được Phaolô viết lúc ngài chắc chắn đang ở Giêrusalem vào thập niên 30, thì nó tạo thành một sự biện bác rất sớm và chính yếu đối với thuyết Xét lại rằng người Rôma hầu như là những người duy nhất chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Giêsu. Các luận cứ chống lại quyền tác giả của Phaolô trong 1Tx 2,13-16 bao gồm, (a) Nó hình thành Lời Tạ Ơn thứ hai trong thư; (b) Tuyên bố rằng người Do Thái[21] “là kẻ thù của toàn thể loài người” giống với cuộc bút chiến chung chung của tà giáo, ít khi mang đặc điểm của Phaolô; (c) Tuyên bố rằng người Do Thái “tràn ngập tội lỗi của mình” và “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa cuối cùng đã bao phủ lấy họ” trái với thư Rm 11,25-26 rằng “tất cả dân Ítraen sẽ được cứu độ.” Các luận cứ về quyền tác giả của Phaolô trong 1Tx 2,13-16, (a) Tất cả mọi bản thảo đều có nó; (b) theo cách nói thù địch, Phaolô coi “những người Do Thái” là những kẻ bắt bớ Đức Giêsu trong 2 Cr 11,24, và ngài không có khả năng dùng phép ngoa dụ bút chiến; (c) trong Rm (2,5; 3,5-6; 4,15; 11,25), Phaolô nói về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chống lại người Do Thái làm cho niềm hy vọng cứu độ cánh chung của họ không ngăn cản bức chân dung giận ghét của Thiên Chúa. Trong tư tưởng của Phaolô, những người Do Thái ghen tị ở Thêxalônica tấn công cả ngài lẫn những người tin vào Đức Giêsu, đại diện cho điều mà Rm 11,25 gọi là một phần dân Ítraen đã ra “cứng lòng” (= “cơn thịnh nộ” của Thêxalônica) đã đến. Nếu trước khi Phaolô đến, những người Do Thái buộc tuân giữ Lề Luật đã lôi kéo một số Dân ngoại có lòng kính sợ Thiên Chúa và những phụ nữ nổi bật (Cv 17,4), thì có thể hiểu họ đã rất tức giận khi những người mới theo đạo của họ chạy theo lời rao giảng Đấng Mêsia của Phaolô, trong đó ngài không buộc họ phải tuân giữ Lề Luật.

(3) Sự mô tả ngày quang lâm trong 1Tx 4,16-17 liên quan đến tiếng của tổng lãnh thiên thần, tiếng kèn trên trời vang lên, và được đem đi trên những đám mây để nghênh đón Chúa trên không trung. Trong 5,1-2 có sự mơ hồ về thời gian và các mùa. Một số điều ở đây lặp lại cả hai loại ngôn ngữ khải huyền của người Do Thái (xem trang 776 dưới đây) và loại ngôn ngữ được gán cho Đức Giêsu trong các bài giảng cánh chung của các Phúc Âm (xem trang 144 ở trên của Mc 13). Phaolô muốn nói về bất kỳ hoặc tất cả điều này như là một mô tả theo nghĩa đen không? Dù ngài có nói như thế hay không, thì các độc giả hiện đại (bao gồm cả những người tin vào sự linh ứng của Kinh Thánh) có nên mong đợi những điều này được ứng nghiệm theo nghĩa đen không? Nếu không theo nghĩa đen, ở mức độ nào thì ngày quang lâm là một kiểu nói biểu tượng: để mang Nước Trời đến thì Thiên Chúa phải làm một điều gì đó không phải qua loài người mà chỉ ngang qua Đức Giêsu Kitô? Sự mong đợi ngày quang lâm quan trọng như thế nào đối với các Kitô hữu sau hai ngàn năm chờ đợi Đức Giêsu trở lại?[22] Ngày Đức Giêsu sẽ đến lại (trong vinh quang) để phán xét kẻ sống và kẻ chết nằm một phần trong cả Kinh Tin Kính Các Tông đồ và Kinh Tin Kính Nicea (Hãy xem Vấn đề 2 trong Chương 10 ở trên).

(4) Nếu 4,13 muốn nói rằng: một số Kitô hữu Thêxalônica đang đau buồn vì những ai đang an giấc ngàn thu dường như không còn hy vọng gì, thì đó có phải là vì họ đang mong đợi một cuộc gặp gỡ Đức Giêsu trong ngày quang lâm ngay lúc nhận được hồng ân sự sống từ Thiên Chúa không? Trong 4,14, Phaolô nói về Đức Giêsu, Đấng “đã chết và đã sống lại”; do đó, cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô là thời điểm ban sự sống cho tất cả những ai ở “trong Người” (kể cả những người chết: 4,17). “Được đem đi trên đám mây… để nghênh đón Chúa trên không trung” nói thêm điều gì? Một số Kitô hữu hiện đại coi đây là một “sự xuất thần” và cho rằng nó cực kỳ quan trọng; những người khác hiếm khi nghe nói về điều đó. (Xem G. Wainwright trong The Westminster Dictionary of Christian Theology (Pladelphia, Westminster, 1983), 485; R. Jewett, Jesus Against the Rapture (Pladelphia, Westminster, 1979).

(5) Hầu như Phaolô chỉ ở Thêxalônica vài tháng trước khi phải ra đi. Tuy nhiên, ngay sau đó khi viết thư 1 Thêxalônica, ngài kêu gọi các tín hữu Thêxalônica quan tâm đến những người có quyền trên họ nhân danh Chúa với nhiệm vụ khuyên bảo họ (5,12). Làm cách nào những gương mặt đó có thể kiếm được một vị trí quyền bính hay chức vụ trong cộng đoàn? Phaolô có chỉ định những vị lãnh đạo trước khi ngài rời khỏi cộng đoàn ngài đã thành lập, như Cv 14,23 chỉ ra không (ngay cả khi sách Công vụ được xét theo phương pháp lịch đại khi xác nhận những lãnh đạo đó với các kỳ mục sau này)? Làm sao các gương mặt đó ở Thêxalônica có liên quan đến các giám thị hay giám quản và trợ tá gần như cùng một nơi tại Philiphê (Pl 1,1) và với những người mà Thiên Chúa sẽ chỉ định tại Côrintô làm ngôn sứ, thầy dạy và quản trị viên (1 Cr 12,28-30)?[23]

(6) 1Tx là bản văn Kitô giáo cũ nhất còn được lưu giữ; chắc chắn Phaolô không ý thức rằng ngài đang sáng tác một tác phẩm sẽ có sự phân biệt đó. Tuy nhiên, tình trạng của 1Tx cung cấp cho ta những bài suy niệm thú vị. Đây có phải là tác phẩm Kitô giáo duy nhất còn tồn tại từ thế kỷ thứ nhất, và nó sẽ cho chúng ta biết điều gì về cách Phaolô đã làm việc, về sự tự hiểu biết của ngài, về Kitô học của ngài, về quan niệm của ngài về hội thánh hoặc cộng đoàn Kitô giáo không? Vì hầu hết các Kitô hữu tuyên bố tuân theo đức tin của các Tông đồ, thật là thú vị khi tưởng tượng việc đưa nó trở về năm 51 và khi bước vào phòng họp ở Thêxalônica, nơi thư này được đọc lên lần đầu tiên. Trong mười câu mở đầu, người ta sẽ nghe thấy những ám chỉ Thiên Chúa là Cha, Đức Đức Giêsu Kitô, và Chúa Thánh Thần, cũng như đức tin, cậy, mến. Đó là một bằng chứng nổi bật về việc làm thế nào các ý tưởng nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn trong Kitô giáo và đã có chỗ trong cộng đoàn rồi.

[1] Và “chúng tôi” (bạn đồng hành) ở Cv 16,10tt. Dường như không có ai trong họ thuộc nhóm “chúng tôi” này; x. tr. 325-327 ở trên.

[2] Xem Chương 24 bên dưới để biết ngày thành lập cộng đoàn Kitô giáo tại Rôma. Sự phân biệt rõ ràng giữa Axia và châu Âu không được chứng thực trong văn chương thời kỳ này; Tuy nhiên, Cv 16,9-10 đã kịch tính hóa tầm quan trọng của việc đi đến Maxêđônia hơn là ở lại Axia.

* Về hai năm biên soạn, xin xem Bảng 6 trong Chương 16 ở trên.

[3] Xem Bối cảnh của Chương 20 dưới đây để biết trình thuật về các hoạt động của Phaolô ở Philiphê, liên quan xđến việc bị lột áo, đánh đập và bỏ tù.

[4] Được thành lập vào năm 316 TCN bởi Cassiander (một vị tướng của Alexander Đại đế) và được đặt tên theo tên vợ ông ta, Thessalonike, thành phố thương mại quan trọng này thuộc quyền kiểm soát của Rôma từ năm 168 TCN. Người dân địa phương bị trục xuất, và vào năm 146 trước Công nguyên, Thêxalônica trở thành thủ phủ của tỉnh Maxêđônia, thuộc địa Rôma.

[5] Cv 17,2 không khẳng định rằng toàn bộ thời gian lưu trú của Phaolô tại Thêxalônica kéo dài ba tuần, mặc dù một số người làm gia tăng sự mâu thuẫn giữa các thư Phaolô và sách Công vụ khi đọc nó theo cách đó. Việc tác giả sách Công vụ biết rằng các thẩm phán ở Thêxalônica là những nhà chức trách thành phố (17,6.8), một chức vụ được xác nhận bởi các bia khắc chữ được phát hiện ở đó, nên khiến người ta phải thận trọng về việc bác bỏ hàng loạt trình thuật của Công vụ về việc Phaolô lưu lại ở Thêxalônica là hoàn toàn không chính xác.

[6] Xem H. L. Hendrix, Thessalonicans Honor Romans (Luận án Tiến sĩ Thần học; Cambridge, MA, Harvard, 1984). Nữ thần Rôma và các vị ân nhân trong hệ thống chính trị của Rôma có liên quan với nhau trong việc thờ phượng. Một ngôi đền của Xêda đã được xây dựng, và đã có các đồng xu của Thêxalônica xuất hiện khoảng năm 27 coi Julius như một vị thần.

[7] Nhiều người bác bỏ thông tin về một số người mới theo đạo là người Do Thái như sách Công vụ nói. Tuy nhiên, thật khó để xác định ít nhất có một số người không phải là người Do Thái, và do đó, thật chính xác khi lập luận như 1 Thêxalônica rằng: tất cả các Kitô hữu phải là Dân ngoại. Người ta bị kẹt giữa khuynh hướng của Công vụ khi nó thiết lập một khuôn mẫu cố định về công việc mục vụ của Phaolô trong hội đường và sự lạm dụng hoài nghi đối với luận cứ lấy từ sự im lặng của Phaolô khi không đề cập đến người Do Thái. Về việc áp dụng 1Tx 1,9-10 vào hoàn cảnh địa phương tại Thêxalônica, xin xem J. Munck, NTS 9 (1962-63), 95-110.

[8] Hành trình này của Timôthê (từ Athêna đến Thêxalônica) khác với hình ảnh bị dồn ép trong Cv 17,14-15, nơi Xila và Timôthê ở lại Bêroia trong khi Phaolô đi đến Athêna. Cuối cùng theo Cv 18,1.5, Phaolô đi từ Athêna đến Côrintô, và Xila và Timôthê cùng đi với ngài ở đó. Theo 1Thêxalônica 1,1, Xinvanô và Timôthê đã ở với Phaolô (tại Côrintô) khi ngài viết thư đó.

[9] Theo Cv 17,5-9, Giaxon, người đã tiếp đón Phaolô, đã bị lôi ra trước nhà chức trách thành phố và buộc phải nộp tiền để bảo đảm hoặc tại ngoại. Có vẻ như ngài là một người Do Thái giàu có – cái tên được đặt một thầy thượng tế Do Thái đặt, như trong 2Mc 4,7. Nếu ngài là nhân vật được đề cập trong Rm 16,21, thì cuối cùng ngài phải đi đến Côrintô (là nơi viết thư Rôma), có lẽ vì bị quấy rối liên tục sau khi Phaolô ra đi. Xem F. Morgan-Gillman, “Jason of Thessalonica,” TIC 39-49.

[10] Trong Bản Tóm tắt ở trên, tôi cung cấp hai phần. Phần đầu là cách phân chia chính thức theo kiểu định dạng thư tiêu chuẩn được giải thích trong Chương 15, nhưng trong Vấn đề I sau đó, tôi cho thấy việc áp dụng kiểu định dạng đó cho 1Thêxalônica khó biết bao. Phần thứ hai là sự phân chia theo nội dung, và điều đó cho thấy sự phức tạp trong luồng tư tưởng của Phaolô.

[11] Những lời khuyên trong 5,12-15.19-22 dường như thực sự sửa lại những thái độ hiện có tại Thêxalônica; những điều trong 4,3 – 5,11-12 về trinh khiết, hôn nhân và việc làm có thể là những chỉ dẫn chung cho mọi lúc, nhưng hãy xem quan điểm của Donfried trong đoạn tiếp theo của bản văn ở trên.

[12] Ý tưởng nói về việc ghi nhớ được tìm thấy trong 1,3; 2,9; cụm từ “anh em biết” được tìm thấy 9 lần (1,5; 2,1.2.5.11; 3,3.4; 4,2; 5,2).

[13] Người ta có thể lập luận một cách thông minh rằng: một số đặc điểm trong thư sẽ là điểm chung của bất cứ lời khích lệ tổng quát nào. Ví dụ, ngài tự xưng mình là một người cha (2,11), điều này phù hợp với quan điểm chung trong việc đạo đức (như cha mẹ thường làm với con cái). Một đòi hỏi theo gương ngài (l, 6) cũng là điểm điển hình trong việc giáo dục.

[14] Có phải 1Tx 4, 4 nói về việc đạt được hay kiểm soát skeuos (“ngày kinh nguyệt”) của một người để sống thánh thiện, ám chỉ cơ quan sinh dục của người đàn ông hay vợ của ông ta không? Donfried xác nhận đó là việc kiểm soát cơ quan sinh dục của người đàn ông bởi vì dương vật được nhấn mạnh trong các giáo phái cuồng tín.

[15] Xem trang 88 ở trên nói về những người thuộc nhóm Hoài nghi; cũng xem A. J. Malherbe, NovT 12 (1970), 203-217; và Paul 18-28. Điều mà hầu hết các Kitô hữu Thêxalônica không có thái độ này đối với Phaolô cho chúng ta thấy rõ ràng trong bản tường thuật của Timôthê (1Tx 3,6) nói rằng Phaolô được các con cái mình giữ kỷ niệm tốt lành và ao ước gặp lại. Một số phần trong thông điệp của Phaolô có thể giống với giáo huấn đáng tôn trọng của nhóm Khoái lạc Epicure, chẳng hạn ngài nói: “Hãy gắng giữ hoà khí, ai lo việc nấy và lao động bằng chính bàn tay của mình, như chính tôi đã truyền cho anh em” (4,11).

[16] 1Tx 2,12 chứa một số ít những tham chiếu của Phaolô về Nước Thiên Chúa, mang tính lạc quan: Thiên Chúa “kêu gọi anh em vào Nước của Người và chia sẻ vinh quang với Người.”

[17] Thuật ngữ “parousia” xuất hiện 4 lần trong 1Tx và 3 lần trong 2Tx – một nửa tổng số lần được sử dụng trong các thư Phaolô. Không có bằng chứng nào cho thấy nó có nguồn gốc từ phong trào khải huyền của người Do Thái trước thời Kitô giáo. Nó được viết bằng tiếng Hylạp, nói về sự ngự đến một cách long trọng của một vị vua hoặc một hoàng đế tại một địa điểm nào đó; Phaolô tưởng tượng một sự ngự đến long trọng của Đức Giêsu tối cao từ chốn trời cao để gặp gỡ cộng đoàn Kitô hữu. Các hạn từ khác của Phaolô tương tự như biến cố này là “mặc khải” (apokalypsis, 1Cr 1,7; 2Tx 1,7), “xuất hiện” (epiphaneia, 2Tx 2,8; các thư Mục vụ), và “Ngày của Chúa” (1Tx 5,2; 2Tx 2,2; passim).

[18] Họ ở cùng với Phaolô và được người Thêxalônica biết đến nhưng không có bất kỳ vai trò nào trong thư. Về quá khứ trước đây của họ với Phaolô ở Thêxalônica, Cv 17,1 (xem 16,29) đề cập đến Phaolô và Xila (= Xinvanô) đi đến Thêxalônica; và 16, 1-4 gợi ý rằng Timôthê đã đi cùng họ.

[19] Xem các tài liệu tham khảo được J. Lambrecht cung cấp: “Thanksgiving in 1 Thêxalônica 1-3,” TIC, 183- 205, cũng như Thư mục trong Chương 15.

[20] Xem BDM 1.378-81 nói về các bài viết ủng hộ và chống lại. Tiếp đến là: C. J. Schlueter, Filling Up the Measure (JSNTSup 98, Sheffield, JSOT, 1994), và R. A. Wortham, BTB 25 (1995), 37-44, đã tham gia nhóm có lập trường ủng hộ quyền tác giả Phaolô.

[21] Nói một cách chính xác, những người Do Thái “đã giết Đức Giêsu … và đã bách hại chúng ta”, tức là một nhóm nhỏ. Xem F Gilliard, NTS 35 (1989), 481-502.

[22] Các vấn đề về cuộc chiến thắng cuối cùng của Đức Kitô đã được nổi lên vào các thế kỷ 1 và 2, như chúng ta thấy trong Cv 1,6-7 và 2 Pr 3,3-10.

[23] Mặc dù Philiphê và 1 Côrintô được viết muộn hơn 1 Thêxalônica, nhưng Phaolô đã lập các cộng đoàn Kitô hữu tại Philiphê, Thêxalônica và Côrintô khoảng giữa năm 50-51 SCN; và các thư gửi cho cộng đoàn đó gợi nhớ đến tình hình của một Hội thánh lùi về với ngày đó.

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục