Trích dịch từ tác phẩm: An Introduction to the New Testament
Tác giả: Raymond E. Brown
Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist
Tác giả nhắc các độc giả nhớ rằng không có thông tin gì trong thư này nói có biết các thư Mục vụ khác, các thư đã được viết cho Timôthê hoặc Titô. Do đó, chúng ta không tìm ra dấu hiệu trực tiếp nói cho biết thư 2 Tm được viết sau thư Titô hoặc 1 Tm. Mặc dù về văn phong, nó rất giống với các thư đó, nhưng nó không liên quan đến tổ chức Hội thánh, điều mà hai thư kia là vấn đề trọng tâm.[1]
Sau khi bàn xong phần Những khả năng về các thư Mục vụ và Phân tích Tổng quát, tôi sẽ dành các tiểu mục để bàn về, Linh hứng của Kinh Thánh như được mô tả trong 3,15-16, Các vấn đề cần suy gẫm và Thư mục.
MỤC LỤC
ToggleTimôthê và những điều có thể có trong các thư Mục vụ
Như chúng ta biết, hoàn cảnh đời sống của Phaolô được minh họa trong các thư Titô và 1 Tm không phù hợp với “sự nghiệp thứ nhất” của ngài; sự nghiệp đó được lấy từ sách Công vụ và các thư chính lục của Phaolô. Do đó, trong mỗi trường hợp, các học giả đặt ra một “sự nghiệp thứ hai” (có thực hoặc hư cấu) cho Phaolô sau khi ngài được ra tù ở Rôma năm 61-63. Sự nghiệp đó bao gồm một chương trình mục vụ cùng với Titô ở Crêtô, một cuộc trở về Êphêxô (nơi ngài giao cho Timôthê phụ trách), và sau đó là một cuộc khởi hành đi đến Makêđônia. Hầu hết mọi người đều cho rằng những điều thư 2 Tm kể cho chúng ta về Phaolô và Timôthê cũng không thể phù hợp với “sự nghiệp thứ nhất”; và vì vậy họ coi nó như một phần kết thúc “sự nghiệp thứ hai”, trong đó (có thực hoặc hư cấu) vào khoảng năm 65, Phaolô một lần nữa bị cầm tù ở Rôma (2 Tm 1,16-17; 2,9)[2] và đã viết thư 2 Tm ngay trước khi ngài qua đời năm 66-67.
Tuy nhiên, một nhóm thiểu số nghiêm khắc lý luận rằng 2 Tm có thể phù hợp với sự nghiệp của Phaolô được mô tả trong sách Công vụ. Cụ thể, 2 Tm dường như có thể dung hòa với giả thiết rằng sau hai năm bị giam giữ tương đối dễ dãi tại Rôma (có đề cập lần cuối trong Cv 28,30-31), Phaolô đã phải chịu tù tội khắc nghiệt hơn, điều đó đã dẫn đến cái chết của ngài ở đó vào khoảng năm 64 hoặc một thời gian ngắn sau đó. Thư 2 Tm có lẽ đã được viết trong vào thời gian trước cái chết của ngài mà không có “sự nghiệp thứ hai” nào dẫn đến cảnh tù đày thứ hai khoảng năm 65. Làm thế nào để dữ liệu của 2 Tm phù hợp với giả thuyết của thiểu số đó? Chúng ta không biết Timôthê đang ở đâu lúc đó; nhưng khi đến với Phaolô, ông được tháp tùng với Máccô và mang theo áo choàng và sách vở mà vị tông đồ để lại tại thành Trôa (4,11.13). Do đó, từ những bằng chứng bề mặt, người ta có thể cho rằng Timôthê đang ở thành Trôa;[3] và điều đó trở nên không hợp lý khi dựa trên những bằng chứng Tân ước khác. Cv 20,5-13 tường thuật rằng, vào năm 58 trên đường đến Giêrusalem và cuối cùng bị cầm tù ở Xêdarê và Rôma, Phaolô đã gặp Timôthê tại thành Trôa và ở đó bảy ngày.[4] Nếu thư 2 Tm được viết ở Rôma khoảng năm 64 khi ngài còn bị cầm tù, thì sự nghiệp của Phaolô đã không thể đưa ngài trở lại thành Trôa sau năm 58 để lấy lại những thứ mà ngài có lẽ đã bỏ quên ở đó (có lẽ vì ngài đã hy vọng lấy lại chúng khi đi từ Giêrusalem qua Rôma đến Tây Ban Nha, Rm 15,24 -25). Thành Trôa là nơi mà theo lịch sử, Phaolô muốn truyền giáo ở đó. Khi rời Êphêxô vào mùa hè năm 57, ngài đã bắt đầu rao giảng Tin Mừng tại thành Trôa một cách thành công, nhưng do ngài quá lo lắng cho Côrintô nên buộc phải nhanh chóng đi đến Makêđônia (2 Cr 2,12-13). Timôthê có lẽ đã nhận nhiệm vụ, khi Phaolô gửi thư cho ông ở đó. Trong 2 Tm 4,16, Phaolô nói với Timôthê rằng trong lần kháng cáo đầu tiên (tại Rôma?): không ai ủng hộ ngài và tất cả đều bỏ ngài mà đi. Có lẽ ngài bị cầm tù một và chỉ một lần duy nhất tại Rôma mà giờ đã trở nên khắc nghiệt hơn (có lẽ vì sự kháng cáo đó không thành công) và điều quan trọng là Phaolô đã nói cho Timôthê biết những điều đã xảy ra tại Rôma[5] để triệu tập người thân cận nhất của mình đến buổi họp cuối cùng trước khi Phaolô tiến gần đến cái chết (4,6-8). Những điềm báo về Phaolô đã được xác minh tại Rôma vào năm 64 (hoặc thậm chí muộn hơn) khi Nêrô bắt đầu hành quyết các Kitô hữu.
TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN
| NGÀY BIÊN SOẠN: Thư này được viết đầu hoặc cuối các thư Mục vụ. Nếu Phaolô viết, có lẽ thông qua một thư ký, vào khoảng năm 64 hoặc ngay sau đó (nếu được viết đầu tiên) hoặc năm 66-67 (nếu được viết cuối cùng). Nếu là thư mượn danh (có 80-90 % các học giả cho là như vậy), hoặc vào cuối thập niên 60 ngay sau khi Phaolô qua đời (nếu được viết đầu tiên) hoặc nhiều thập kỷ sau đó, rất có thể vào cuối thế kỷ thứ nhất (nếu được viết sau cùng).
NGƯỜI NHẬN: Timôthê (ở thành Trôa? Hay ở Êphêxô?) Từ một người tên là Phaolô được miêu tả là bị cầm tù và bị giết ở Rôma. TÍNH XÁC THỰC: Có thể được một môn đệ của Phaolô viết hoặc một nhà bình luận thiện cảm với di sản của Phaolô (ngay sau khi Phaolô qua đời với những ký ức lịch sử, hoặc nhiều thập kỷ sau với nội dung tiểu sử phần lớn là hư cấu). Tuy nhiên, nó có cơ hội tốt để đưa vào nội dung đích thực của Phaolô hơn là các thư Mục vụ khác. TÍNH DUY NHẤT VÀ TÍNH TOÀN VẸN: Không có nhiều tranh luận. PHÂN CHIA THEO HÌNH THỨC: A. Công thức Mở đầu: 1,1-2 B. Lời tạ ơn: 1,3-5 C. Nội dung: 1,6-4,18 D. Công thức Kết thúc: 4,19-22 BỐ CỤC THEO NỘI DUNG: 1,1-5: Địa chỉ hay lời chào Timôthê; hồi tưởng về nền tảng gia đình của ông. 1,6-18: Khuyến khích Timôthê khi Phaolô còn trong tù, cảm thấy mình bị bỏ rơi. 2,1-13: Hướng dẫn việc rao giảng Tin Mừng cách trung thành, kết thúc bằng một câu thơ. 2,14-3,9: Những mẫu gương giáo huấn chân chính so với các giáo huấn sai lạc. 3,10-4,8: Lời động viên cuối cùng dành cho Timôthê dựa trên gương sống của Phaolô sắp chịu chết. 4,9-18: Trách nhiệm thực tế và lời cảnh giác; tình hình của Phaolô 4,19-22: Lời chào cuối thư và phép lành. |
Theo đánh giá tổng thể, không có sự phản biện nào thuyết phục đối với đề nghị của nhóm thiểu số này, và vì vậy chúng ta phải đọc 2 Tm mà không có bất kỳ giả định nào về việc nó có liên quan thế nào với các thư Mục vụ khác.[6] Thực sự, có 4 khả năng nghiêm túc có thể xảy ra:
(1) Cả ba thư Mục vụ này đều do chính Phaolô biên soạn, viết theo thứ tự thư Titô, 1 và 2 Tm trong thời kỳ “sự nghiệp thứ hai” khoảng năm 65-67, đỉnh điểm là khi bị bắt lần thứ hai ở Rôma.
(2) Thư 2 Tm là do chính Phaolô viết khoảng năm 64 hoặc một thời gian ngắn sau khi kết thúc một lần tù tội kéo dài ở Rôma dẫn đến cái chết của ngài. Thư Titô và 1 Tm là thư mượn danh, được viết muộn hơn, rất có thể là vào cuối thế kỷ thư nhất, phần nào đó theo mẫu 2 Tm. Một “sự nghiệp thứ hai” đã được khởi tạo.
(3) Cả ba thư Mục vụ đều là thư mượn danh, được viết không lâu sau cái chết của Phaolô như là một lời trăng trối do một người chứng kiến những ngày cuối đời của Phaolô, do đó, các chi tiết về tiểu sử trong đó chủ yếu mang tính lịch sử, dù chúng không bi kịch bao nhiêu. Thư Titô và 1 Tm được viết theo lối văn mượn danh trể hơn, rất có thể vào cuối thế kỷ thứ nhất, phần nào bắt chước thư 2 Tm. Một “sự nghiệp thứ hai” được khởi tạo.
(4) Cả ba thư Mục vụ đều là thư mượn danh, theo thứ tự thư Titô, 1 và 2 Tm, rất có thể vào cuối thế kỷ thứ nhất. Với lần bị bắt giam thứ hai tại Rôma, “sự nghiệp thứ hai” của Phaolô được lên kế hoạch (có lẽ là hư cấu) để cho phép ngài nói lời cuối cùng về các vấn đề hiện đang gây phiền toái cho nhiều nơi mà vị tông đồ này từng rao giảng Tin mừng tại đó.
Mặc dù đa số các học giả ủng hộ mục thứ (4), nhưng theo nhận định của tôi mục số (3) đáp ứng tốt nhất một số vấn đề được liệt kê trong Chương 30 trên đây khi thảo luận về quyền tác giả của thư Titô và 1 Tm, và những ám chỉ của phép mượn danh.
Có lẽ sự thận trọng sẽ hữu ích cho chúng ta trước khi bắt đầu bước vào phần Phân tích tổng quát. Sức mạnh của lá thư này, khi đọc một cách đơn giản, không nên bị lu mờ bởi những tranh cãi phức tạp xung quanh vấn đề tác giả, trình tự và niên đại. Đây là lời kêu gọi khẩn thiết của vị tông đồ vĩ đại nói rằng công việc của ngài cần phải được tiếp tục sau cái chết của ngài nhờ các thế hệ môn đệ. Phaolô đã phó thác đời mình cho Thiên Chúa trong Đức Kitô, và trong nỗi đau khổ của mình, ngài biết rằng Thiên Chúa sẽ bảo vệ những gì đã được giao phó cho ngài (2 Tm 1,12). Ngài có thể bị xiềng xích, nhưng Tin Mừng mà ngài đã rao truyền, là lời của Thiên Chúa, không thể bị xiềng xích (2,9). Một số học giả than phiền rằng Phaolô trong 2 Tm đã trở thành một kẻ khoác lác; đúng hơn, ngài được miêu tả như là người đưa ra một luận cứ duy nhất khiến ngài phải vào tù và đứng trước nguy cơ phải chịu chết – minh họa về một cuộc sống được hướng dẫn theo cách có thể truyền cảm hứng cho những người nhận thư. Nếu Phaolô đã có đóng góp một phần đáng kể vào việc làm cho tình yêu của Đức Kitô (theo cả hai nghĩa) thực sự đến được với các Kitô hữu, thì thư 2 Tm cũng đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc làm cho Phaolô được yêu mến.
Phân tích Tổng quát Thông Điệp
Công Thức Mở Đầu (l,l-2) tương tự như Công thức của 1 Tm nhưng chỉ định Phaolô làm tông đồ do “ý muốn” của Thiên Chúa, hơn là do “mệnh lệnh” của Thiên Chúa. Trong đó thư 2 Tm gần giống hơn với mẫu thư thông thường của các thư chính lục (1 Cr 1,1; 2 Cr l,1). Tương tự, nó gần đúng với thói quen thực hành của Phaolô hơn là trình bày một Lời Tạ Ơn (l,3-5), một đặc điểm còn thiếu trong thư 1 Tm. Sự tập trung của nó vào ông Timôthê minh họa tính cách rất riêng khiến 2 Tm khác biệt với các thư Mục vụ khác. Thông tin về mẹ và bà nội của Timôthê là người Do Thái, điều khiến chúng ta không có lý do gì để nghi ngờ, được thông báo chắc chắn mà không chút bóng gió rằng, tin vào Đức Kitô đã tạo nên xung đột với Do Thái giáo. (Thật vậy, trong 3,14-15, Timôthê được thúc giục tiếp tục bước theo những điều ông đã học hỏi được từ thời thơ ấu, đặc biệt là Kinh Thánh Do Thái.) Thái độ tán thưởng này gợi nhớ đến bầu khí của thư Rm 9,1-5 và có thể cho biết thêm về bối cảnh Rôma được công bố trong 2 Tm 1,17.[7]
Nội dung (1,6-4,18) của thư 2 Tm ngắn hơn 1 Tm khoảng 20%, và nội dung ít bị phân tán hơn. Thư này đề cập đến tính cách và hoàn cảnh của Timôthê và suy niệm về sự cô đơn và đau khổ của Phaolô trong tù khi cái chết đến gần. Do vậy, một cách nào đó, thư 2 Tm viết nên di chúc thứ ba trong số các di chúc cuối cùng của Phaolô trong Tân ước, di chúc đầu tiên là thư gửi tín hữu Rôma (có lẽ là thư chính lục cuối cùng của Phaolô được truyền lại) được gửi từ Côrintô vào mùa đông năm 57-58 với ý thức rằng ngài sẽ phải đối mặt với những khó khăn tại Giêrusalem nhưng với hy vọng rằng ngài sẽ có thể đến Rôma và tiếp tục đến Tây Ban Nha; và di chúc thứ hai là bài giảng ở Milêtô gửi cho các kỳ mục hay giám mục ở Êphêxô (Cv 20,17-36) khi Phaolô đến Giêrusalem vào mùa hè năm 58 với ý thức rằng ngài sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa. Tuy nhiên, không có di chúc nào trong đó hình dung về cái chết cụ thể như trong 2 Tm 4,7-8, bằng những từ ngữ mà ngay cả nếu Phaolô không viết ra, cũng xứng đáng với tài hùng biện của ngài: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.“
Có nhiều minh họa khác nhau về thể loại văn chương trong các bài giảng cuối cùng hoặc các diễn từ ly biệt trong Kinh Thánh.[8] Tôi xin liệt kê các đặc điểm của thể loại văn chương này, đồng thời chỉ ra các đoạn được tìm thấy trong thư 2 Tm. Ngài thông báo với giọng đau buồn về cái chết sắp xảy ra (4,6-8); ngài thốt ra những lời trấn an (những) người thân yêu còn ở lại không nên sợ hãi hay bất an (2,1-2.14-15; 4,1-2).[9] Thông thường, ngài gợi nhớ những hoàn cảnh và cuộc sống quá khứ của chính mình (1,11-13.15-18; 3,10-17), thúc giục những người ở lại sống hợp nhất (2,14.23-25), tiên báo những nguy hiểm xuất phát từ kẻ thù (2,16-17; 3,1-9.12-13; 4,3-4), và khuyến khích sống trung thành, hứa ban phần thưởng cho họ (2,11-13; 3,14; 4,8). Ngài bày tỏ tâm tình yêu thương dành cho (con cái) những người còn ở lại (1,4-5; 2,l “người con của tôi”). Trong bầu khí ly biệt của thư 2 Tm, một Đấng Mêsia chịu đóng đinh trên thánh giá như một tội phạm, tương tự như sứ giả của Người là Phaolô, người đang trong cảnh tù đày như một tội phạm. Tuy nhiên, lời của Phaolô đã biến sự nhục nhã đó thành tiếng kêu thách thức chiến thắng và là nguồn cảm hứng cho Timôthê và mọi người đang chịu đựng gian khổ vì Tin Mừng. Hai đoạn văn thể hiện được âm điệu của thông điệp: “Phần anh, anh đã theo sát đạo lý, cách sống, dự định của tôi; anh đã thấy lòng tin, sự nhẫn nại, lòng yêu mến, sự kiên trì của tôi; anh đã biết những cơn bắt bớ, những sự đau khổ tôi đã gặp… Nhưng Chúa đã giải thoát tôi khỏi tất cả” (3,10-11). “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (4,2).
Vấn đề nói về giáo huấn sai lạc, mà thư 2 Tm giống với thư Titô và 1 Tm, là một phần của mối nguy hiểm đã biết trước trong diễn từ ly biệt. Ở một trường hợp nào đó, giáo huấn sai lạc được mô tả trong thư 2 Tm khá cụ thể: Hymênê và Philêtô[10] dạy rằng sự phục sinh đã xảy ra rồi (2,17-18). Điều đó có lẽ gần giống với những gì được Phaolô đề cập trong 1 Cr 15,12[11] (khoảng năm 56-57). Nói cách khác, sự mô tả trong 2 Tm về sự sai lạc vẫn còn mơ hồ, vì nhiều điều lạm dụng của những kẻ sẽ đi đến hồi kết (2 Tm 3,1-9) có thể đúng với hầu hết mọi người. Những điều tệ hại trong 3,2-5 khá tiêu biểu[12] (nhưng giống với một điều tệ hại trong Rm l,29-31 hơn so với điều đó trong 1 Tm 1,9-10), và sự ô danh của những phụ nữ trong 3,6-7 tương tự được khái quát hóa. Đây có thể đang dùng loại ngôn ngữ cổ xưa để nói về mối nguy hiểm của thời cuối.[13] Nếu thư Titô và 1 Tm được viết muộn hơn, tác giả các thư đó có lẽ đã lấy gợi ý phần này ở 2 Tm, làm cho sự mô tả cụ thể hơn dưới góc độ của những mối nguy hiểm thực sự sau đó được gặp lại.[14] Sự lưu truyền có sáng tạo truyền thống từ thế hệ tông đồ sang thế hệ kế tiếp của các thầy dạy được hình dung trong 1,13-14; 2,1-2; và điều đó cũng đã khuyến khích thế hệ thứ ba và thứ tư của các môn đệ Phaolô tiếp tục theo truyền thống của thầy mình: “Những gì anh đã nghe tôi … thì hãy trao lại cho những người tin cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác.“
Các lời chào trong phần Công thức Kết Thúc theo sau phần Kết thúc Nội dung trong 4,9-18, bao gồm các chỉ dẫn dành cho Timôthê và mô tả tình cảnh khó khăn của Phaolô. Không thể chắc chắn có bao nhiêu nhân vật và sự kiện được đề cập trong chuỗi này là những kỷ niệm thực về chuyện Phaolô bị giam (lần thứ nhất hoặc thứ hai) ở Rôma, hay được tô vẽ theo trí tưởng tượng của tác giả mượn danh tổng hợp lại từ những kỷ niệm được tìm thấy trong các thư khác của Phaolô và sách Công vụ.[15] Nhận định thứ hai có một ám chỉ về ngày biên soạn, vì chúng ta có thể thắc mắc liệu những tác phẩm đó có dễ dàng được cung cấp cho tác giả mượn danh trước năm 100 AD hay không.
Kinh Thánh được Linh hứng (3,15-16)
Đoạn Kinh Thánh này chứa những lời nói nổi tiếng: “Mọi sự hay tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.” Về mặt ngữ pháp, tính từ bất định “mọi” là bản dịch có lẽ đúng hơn, nghĩa là “mọi đoạn Kinh Thánh” với một tham chiếu ngược trở về “các bản văn thánh” mà Timôthê đã biết từ lúc còn nhỏ (3,15). Không thể phủ nhận rằng, “Kinh thánh” ám chỉ tất cả hoặc phần lớn các sách mà chúng ta gọi là Cựu ước; nó chỉ có thể được áp dụng cho Tân Ước thông qua các giáo huấn của Giáo hội sau này, vì toàn bộ văn bản (như hiện nay được công nhận trong Kitô giáo Phương Tây) phải mất hơn hai trăm năm nữa mới được chấp nhận rộng rãi. Không có động từ “là” xuất hiện trong tiếng Hy Lạp; và do đó, đây có thể là một tuyên bố có chất lượng, nghĩa là: “Mọi sự hay tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho…” Dù người dịch câu đó như thế nào, thì điểm nhấn chính được nhắm đến linh hứng hơn là trên ngữ cảnh của tất cả các đoạn Kinh Thánh, dựa trên tính hữu ích của Kinh Thánh được linh hứng để tiếp tục những điều Timôthê đã học được từ thời con nhỏ để giáo huấn và sửa dạy, đồng thời chống lại những kẻ mạo danh xấu xa. Mục đích là để một người lãnh đạo trong cộng đoàn “Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” (3,17). Ám chỉ rằng, đây là một dấu hiệu cho thấy tác giả Phaolô đặt ra mối liên hệ chặt chẽ giữa Kinh Thánh của Ítraen và cái nhìn của ông về Đức Giêsu Kitô.
Từ ngữ “được ling hứng” liên quan đến câu Kinh Thánh trong 3,16 theo nghĩa đen là “được Thiên Chúa thổi hơi vào”, một thuật ngữ không thấy trong bản Kinh Thánh Hy Lạp, nhưng có trong văn chương dân ngoại tiền Kitô giáo và Sibylline Oracles. Một mô tả hơi giống nhau được tìm thấy trong 2 Pr 1,20-21 liên quan đến các lời ngôn sứ trong Kinh Thánh: “Lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa.“[16] Văn chương của nhóm Qumran đề cập đến điều mà “các ngôn sứ đã mặc khải nhờ thánh thần của Thiên Chúa” (1QS 8.16). Các tác giả Do Thái cùng thời với Tân ước là Giôxếpphớt và Philô cũng nói về một hoạt động của Thiên Chúa trong việc sản sinh ra “Kinh Thánh”.[17] Các bản văn trong 2 Tm và 2 Pr rất quan trọng trong việc phát triển niềm tin của Kitô giáo vào sự linh hứng của Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước); tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng nó không nói điều gì cụ thể về hoạt động của Thiên Chúa đã diễn ra như thế nào, và nó vượt ra ngoài mô tả tượng trưng của sự “được thổi hơi vào”.
Các vấn đề cần suy gẫm
(1) Các Kitô hữu có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn linh hứng, nhắm thẳng vào con người của tác giả hoặc sản phẩm được viết ra, hoặc cả hai (Chương 2 trên đây, mục B). Chẳng hạn, theo diễn tả của Giáo hội Công giáo Rôma cổ xưa trong Thông điệp Providentissimus Deus của Đức Giáo hoàng Lêô XIII (1893) là: bằng quyền năng siêu nhiên, Thiên Chúa đã lay động và thúc đẩy các tác giả con người viết ra. Trong khi họ viết, Thiên Chúa giúp họ hiểu đúng, muốn trung thành viết ra, và cuối cùng diễn đạt qua những từ ngữ phù hợp với chân lý vô ngộ tất cả những gì Người truyền cho họ viết và chỉ những điều đó thôi. Một quan điểm khác tập trung vào chân lý và tính không sai lầm của Kinh Thánh hơn là vào tiến trình viết. Dựa trên 2 Tm 3,15-16, người ta có thể suy gẫm về mức độ mà các phương pháp tiếp cận khác nhau đã vượt ra ngoài thông tin Kinh Thánh và lý do của nó.
(2) Một nỗi lo sợ về ngày tận thế nổi tiếng được nêu ra trong 2 Tm 4,3-4: “Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” Hầu hết tất cả các thế hệ Kitô hữu, đặc biệt là trong các Hội thánh có truyền thống hơn, đã viện dẫn sự mô tả này như là điều được ứng nghiệm vào thời của nó. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi đó quá thường xuyên khiến các tổ chức giáo hội liên tục phòng vệ chống lại các tư tưởng mới. Trong bầu khí như vậy, sẽ có lúc không có tư tưởng nào tạo thành mối nguy hiểm lớn hơn các tư tưởng mới, và sẽ có lúc người không muốn nghe sẽ phổ biến hơn người nóng lòng muốn nghe.
[1] Trong tất cả những điều diễn ra sau bài viết của Murphy-O’Connor, “2 Timothy,” thì rất quan trọng.
[2] Sự đề cập rõ ràng đầu tiên về lần ở tù thứ hai ở Rôma xảy ra vào đầu thế kỷ thứ 4 trong Eusebius, EH 2.22.2.
[3] Vì 1 Tm cho biết Timôthê ở lại tại Êphêxô, nên hầu hết mọi người tin rằng ông đã ở đó. Tuy nhiên, có thể 2 Tm được viết trước 1 Tm, nên nó đã ghi thời gian Phaolô tạo lập sự nghiệp (hư cấu) lùi về tại đó. Hơn nữa, trong 2 Tm 4,12, Phaolô nói: “Anh Ty-khi-cô thì tôi đã sai đi Ê-phê-xô.” – một cụm từ kỳ quặc vì nếu Timôthê, người nhận bức thư, được cho là đang ở Êphêxô, thì lẽ ra ngài không cần phải thông báo cho ông ấy điều này làm gì.
[4] Việc 2 Tm nhìn lại cuộc hành trình của Phaolô tới Giêrusalem vào năm 58 nhận được sự hỗ trợ từ những tham chiếu nói về việc Êráttô ở lại Côrintô và Trôphimô ở Milêtô (4,20), vì cuộc hành trình này bắt đầu từ Côrintô ở Hy Lạp qua Trôa đến Milêtô (một tham chiếu duy nhất khác trong Tân ước liên quan đến địa điểm này: Cv 20,2-3,6.15). Tuy nhiên, làm thế nào thông tin đó có thể dung hòa được với Cv 21,29 nơi Trôphimô đã cùng với Phaolô đến Giêrusalem trong cuộc hành trình này? Phaolô có sai ông trở lại Milêtô không? Hay là người viết đã nhầm?
[5] Trong giả thuyết về “sự nghiệp thứ hai” Phaolô đã cùng ở với Timôthê một thời gian tại Êphêxô vào năm 64-65 (tức là trước khi 2 Tm được viết ra); có lẽ ngài ấy sẽ không bao giờ đích thân nói với Timôthê về việc ngài đã bị bỏ rơi ở Rôma như thế nào? Nếu 2 Tm là thư Mục vụ đầu tiên được viết ra và nó được viết ngay trước cái chết của Phaolô, thì toàn bộ “sự nghiệp thứ hai” vào giữa thập niên 60 mà thư Titô và 1 Tm cần có không mang tính lịch sử.
[6] Johnson, trong Writings 382, cho rằng nếu 2 Tm được đọc chung với các ngục thư khác (Plm, Cl, Ep) thay vì đọc với Titô và 1 Tm thì sự kỳ lạ của nó sẽ giảm đi rất nhiều. Sự khác biệt về từ ngữ và thần học của 2 Tm so với các thư chính lục khác của Phaolô thì ít hơn nhiều so với sự khác biệt của thư Titô và 1 Tm. Mặc dù việc áp dụng tước hiệu “Đấng Cứu Độ” cho Đức Kitô (2 Tm 1,10, cũng được tìm thấy trong Tt 2,13; 3,16; Ep 5,23) mang đậm chất Hy Lạp, nhưng đó cũng là cách sử dụng đích thực của Phaolô (Pl 3,20). Thần học của thư 2 Tm 1,9 cũng là thần học của Phaolô: Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng mà Thiên Chúa ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu.
[7] Ngôn ngữ phụng vụ của người Do Thái xuất hiện trong phần tự mô tả của Phaolô ở 2 Tm 4,6: “Tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế (như rảy rượu lên bàn thờ),” giống như thuật ngữ tương tự có nguồn gốc trong Rm 3,25 (Đức Kitô là của lễ xá tội); 12,1 (dâng thân mình làm của lễ sống động); và 15,16 (Phaolô phục vụ trong chức tư tế là rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa để của lễ dân ngoại có thể được chấp nhận).
[8] BGJ 2.598-601; Chương 11 ở trên, ghi chú 46. Tuy nhiên, các bài giảng này không phải là những bức thư; và trích dẫn những điểm tương đồng giữa Hy Lạp và Rôma, Johnson (Writings 391-392) đã lý luận rằng thư 2 Tm gần giống với lối văn cảnh báo cá nhân được viết để khuyên bảo một người theo đuổi điều này và tránh xa điều nọ, thường đưa ra những gương sống để noi theo và tranh luận chống lại kẻ thù. Có lẽ có một số yếu tố giống văn chương khác nhau được tìm thấy trong thư 2 Tm.
[9] Chúng ta phải cảnh giác với việc lịch sử hóa một số cảm nghĩ có thể đại diện cho sự tự thể hiện thông thường của thể loại này. Chẳng hạn, chúng ta không thể kết luận rằng Timôthê rất bấp bênh. Hơn nữa, hướng dẫn dành cho Timôthê trong 4,5 để làm công việc của một người loan báo Tin mừng không nên được hiểu là bằng chứng cho thấy ông giữ chức vụ “người loan báo Tin mừng” trong Hội Thánh (Cv 21,8; Ep 4,2).
[10] Chúng tôi không biết gì về Philêtô; nhưng Hymênê là người bị Phaolô chỉ trích ở đây, vì ông đã làm đảo lộn đức tin, là người mà (có vẻ nghiêm trọng hơn) trong 1 Tm 1,20, Phaolô đã trao nộp họ cho Satan để ông được dạy cho biết đừng nói phạm thượng nữa – một chuỗi ủng hộ cho quyền ưu tiên của 2 Tm.
[11] Xem R. A. Horsley, NovT 20 (1978), 203-231, để biết cách giải thích lỗi lầm của người Côrintô này. Hơn nữa, 2 Tm nhắc đến “Những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt nhiều nhân chứng” (2,2), giống như điều nhấn mạnh trong 1 Cr 15,2, nơi mà sau khi kể tên những nhân chứng khác, Phaolô viết: “Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.” Việc ám chỉ đến vòng hoa dành cho người công chính đã được đội lên cho Phaolô (2 Tm 4,8) tương tự như hình ảnh chạy đua để đoạt giải trong các cuộc thi đấu thể thao (1 Cr 9,24-27).
[12] Xem N.J. McEleney, “The Vice Lists of the Pastoral Epistles,’ CBQ 36 (1974), 203-219.
[13] Chẳng hạn, sự phản kháng của các pháp sư Ai Cập là Giannê và Giamrê đối với Môsê được trích dẫn trong 3,8, trong khi cuộc nổi loạn của Côrắc chống lại Môsê được trích dẫn trong Gđ 2.
[14] Một ví dụ khác có thể có về đặc điểm kỹ thuật, 2 Tm 2,22 gợi ý rằng Timôthê còn trẻ; tuổi trẻ của ông được nêu rõ trong 1 Tm 4,12.
[15] Đêma, người đã bỏ ra đi và đến Thêxalônica, trước kia ông đã từng sống với Phaolô khi ngài viết Plm 24 (ở Êphêxô khoảng 55?) và Cl 4,14 (Từ đâu đến? Có thật là Phaolô không?). Crêtxen, người đã đến Galát hoặc Gôn, vẫn chưa được biết đến; nhưng nếu đúng là Gôn thì sứ mệnh của Phaolô đã lan sang Tây Âu! Titô đã đến Đanmatia, nhưng đến trước hay sau thời ở Crêta được ám chỉ trong Tt 1,5? Alêxanđê, thợ đồng, đã làm hại Phaolô rất nhiều. Một người Do Thái có tên đó đã bị lôi kéo vào cuộc bạo loạn ở Êphêxô khoảng năm 56 (Cv 19,33), rất có thể là nhằm tách cộng đoàn Do Thái ra khỏi kẻ gây rối Phaolô. Alêxanđê bị cấm trong 1 Tm 1,20 để giao cho Satan. Nếu chúng ta nghĩ về ông, lời nhận xét xúc phạm trong 2 Tm 4,14-15 có đề cập đến một tình huống trước đó đã được hình dung ra trong 1 Tm không? Khi Rôma (16,3) được viết vào năm 58, Prisca (Priscilla) và Aquila đang ở Rôma; bây giờ họ đã trở lại Tiểu Á ở gần hoặc với Timôthê. Chúng ta không nghe thấy gì về Puđê, Linô và Clauđia trong các bức thư hoặc sách Công vụ khác của Phaolô, dù Irênê (AH 3.3.3.) liệt kê Linô vào số giám quản (tức là vị kỳ mục nổi tiếng) của Hội Thánh ở Rôma sau cái chết của Phêrô. Vào thời sơ khai, một Kitô hữu ở Rôma tên là Puđê đã cho một mảnh đất sau đó được liên ết với một Hội Thánh có tước hiệu. Về vai trò của một số nhân vật trong 2 Tm ở tác phẩm The Acts of Paul and Thecla, xem Chương 30 ở trên, ghi chú 33.
[16] Trong Mc 12,36, Đức Giêsu nói rằng Đavít đã nói lên một câu thánh vịnh “trong Chúa Thánh Thần” (cũng được Phêrô xác nhận trong Cv 1,16), trong khi Cv 28,25 có Chúa Thánh Thần phán qua ngôn sứ Isaia.
[17] Với sự tinh vi của Philô, trong De vita Mosis 2.35.188-191, phân biệt ba tài năng: (a) Ngôn sứ giải thích những lời nói của Thiên Chúa phán với ông cách riêng tư; (b) Lời nói này diễn ra trong cuộc đối thoại hỏi đáp giữa ngôn sứ và Thiên Chúa; (3) Người nói tiên tri nói như một lời sấm ngôn của Thiên Chúa, một phát ngôn viên do Chúa chiếm hữu. Mặc dù Philô cho rằng tài năng cuối cùng là lời tiên tri đặc biệt nhất, nhưng nhiều người ngày nay lại thích tài năng đầu tiên hơn vì nó mô tả lời tiên tri tốt hơn. Nhưng văn chương ngôn sứ chỉ là một phần của Kinh thánh.
