danvienxitochauthuy

Dẫn Vào Tin Mừng Luca (Raymond E. Brown)

Chuyển ngữ: Bênađô Trần Nghiêm
Trích dịch từ cuốn sách: An Introduction to the New Testament
Tác giả: Raymond E. Brown

TIN MỪNG THEO LU-CA

 

Đây là Tin mừng dài nhất trong bốn Tin mừng. Tuy nhiên, nó chỉ là một nửa lớn tác phẩm của Luca, vì ban đầu nó được gộp chung với Công vụ Tông đồ như một phần của tác phẩm hai tập có độ dài chiếm hơn một phần tư Tân ước – một trình thuật tuyệt vời pha trộn giữa câu chuyện về Đức Giêsu và của hội thánh sơ khai.[1]  Luca khác Máccô nhiều hơn Mátthêu và có thể nói là ở giữa Máccô hoặc Mátthêu và Gioan về mặt thần học. Thật vậy, mặc dù tất cả các thánh sử đều là thần học gia, nhưng số lượng các bài viết về thần học của Luca nhiều đáng kinh ngạc. Khi nghiên cứu một Tin mừng, tôi làm cho việc tường thuật câu chuyện trong phần Phân tích tổng quát thành cơ hội để chỉ ra những đặc điểm và lối suy nghĩ của tác giả Tin mừng. Thay vì dành một tiểu mục đặc biệt cho thần học Luca, tôi sẽ đưa những nhận xét thích hợp vào phần Phân tích; bởi vì có lẽ quan trọng hơn bất kỳ Tin mừng nào, câu chuyện mới là thực chất bên trong của thần học. Phần thần học là cách mà câu chuyện Tin mừng Đức Giêsu chuẩn bị cho những gì xảy ra trong Công vụ Tông đồ, đặc biệt là với Phêrô, Stêphanô và Phaolô. Sự chuẩn bị đó sẽ được nhấn mạnh trong phần Phân tích. Sau đó, các tiểu mục sẽ được dành cho các vấn đề đặc biệt này: nguồn và các đặc điểm biên soạn, Quyền tác giả, Nơi chốn hoặc Cộng đoàn liên quan, Mục đích, Ngày biên soạn, Các vấn đề cần suy tư và Thư mục.[2]

TÓM TẮT THÔNG TIN CƠ BẢN

NGÀY BIÊN SOẠN: năm 85, kéo dài 5-10 năm.

TÁC GIẢ theo truyền thống (tk 2): Luca là một thầy thuốc, bạn đồng nghiệp và đồng hành của Phaolô. Ít được chứng thực hơn, một người Xyri từ Antiôkia.

TÁC GIẢ theo nội dung: Một người nói tiếng Hy Lạp có học thức và là một nhà văn giỏi, biết Kinh Thánh Do Thái tiếng Hy Lạp và không phải là nhân chứng trong sứ vụ Đức Giêsu. Ông đã dựa trên Tin mừng Máccô và bộ sưu tập những câu nói của Chúa (Q), cũng như một số truyền thống có sẵn khác, bằng truyền khẩu hoặc bằng văn bản. Có lẽ không phải là một người Do Thái từ nhỏ, nhưng có lẽ là một người trở lại đạo Do Thái trước khi trở thành Kitô hữu. Không phải người Paléttin.

NƠI BIÊN SOẠN liên quan: Với các hội thánh chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua những người khác) bởi sứ vụ truyền giáo của Phaolô. Các đề nghị nghiêm túc tập trung vào các khu vực ở Hy Lạp hoặc Xyri.

TÍNH THỐNG NHẤT và TOÀN VẸN: Các thủ bản Hy Lạp Tây Phương thiếu những đoạn quan trọng được tìm thấy trong các thủ bản khác. (Phần Không Thêm Vào bên Tây Phương, Vấn đề I dưới đây).

BỐ CỤC,

1-4:         Lời mở đầu

1,5-2,52: Dẫn nhập: Thời thơ ấu và niên thiếu của Đức Giêsu.

1. Truyền tin về việc thụ thai Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu
(1,5-45;1,56)

2. Kinh Magnificat và các thánh ca khác (1,46-55)

3. Những trình thuật về sự ra đời, sự cắt bì, và việc đặt tên cho Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu (1,57-2,40)

4. Cậu bé Giêsu trong Đền Thờ (2,41-52)

3,1-4,13: Chuẩn bị cho sứ vụ công khai

Rao giảng của Gioan Tẩy Giả, phép rửa của Đức Giêsu, gia phả của Người, những cám dỗ

4,14-9,50: Sứ vụ tại Galilê

1.Bị khước từ tại Nadarét; các hoạt động tại Caphácnaum và trên Biển Hồ (4,14-5,16)

2. Những phản ứng với Đức Giêsu: tranh cãi với nhóm Pharisêu; chọn Nhóm Mười Hai và rao giảng cho đám đông trên đồng bằng (5,17-6,49)

3. Các phép lạ và dụ ngôn minh họa quyền năng của Đức Giêsu và mặc khải căn tính của Người; sứ mạng của Nhóm Mười Hai (7,1-9,6)

4. Những câu hỏi về căn tính của Đức Giêsu: Hêrôđê, cho 5000 người ăn, lời tuyên xưng của Phêrô, tiên báo cuộc thương khó lần thứ nhất và lần thứ hai, cuộc biến hình (9,7-50)

9,51-19,27: Hành trình lên Giêrusalem

1. Đề cập Giêrusalem lần thứ nhất đến thứ hai (9,51-13,21)

2. Đề cập Giêrusalem lần thứ hai đến thứ ba (13,22-17,10)

3. Chặng cuối của cuộc hành trình cho đến khi tới Giêrusalem ( 17,11-19,27)

19,28-21,38: Sứ vụ tại Giêrusalem

1. Vào thành Giêrusalem và các hoạt động trong vùng Đền thờ ( 19,28-21,4)

2. Diễn từ cánh chung (21,5-38)

22,1-23,56: Bữa Tiệc Ly, Cuộc Thương khó, Cái chết và Mai táng

1. Âm mưu chống lại Đức Giêsu, Bữa Tiệc Ly (22,1-38)

2. Cầu nguyện và bị bắt trên Núi Ôliu, phiên tòa Do Thái và Rôma (22,39-23,25)

3. Con đường thập giá, đóng đinh, mai táng (23,26-56)

24,1-53: Phục Sinh và Hiện ra tại Giêrusalem

1. Ngôi Mộ trống (24,1-12)

2. Hiện ra trên đường đi Emmau (24,13-35)

3. Hiện ra tại Giêrusalem và lên trời (24,36-53).

*Mặc dù người ta có thể phân chia nội dung của Tin mừng Luca theo địa danh Galilê và đường lên Giêrusalem, nhưng các tiểu mục thêm vào thì khó và không tránh khỏi việc theo ý riêng, bởi vì đoạn này lồng vào đoạn kia. Việc tiện lợi cho nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong các tiểu mục được đưa ra ở trên.

PHÂN TÍCH CHUNG VỀ THÔNG ĐIỆP

Trong bốn thánh sử, chỉ có Luca và Gioan viết một vài câu giải thích suy nghĩ của họ về những gì họ nghĩ: Gioan ở phần cuối (20,30-31), Luca ở phần đầu.

LỜI MỞ ĐẦU (1,1-4)

Đây là một câu dài theo văn phong trang trọng hơn so với những câu khác trong Tin mừng,[3] được viết để hướng dẫn độc giả. Các nhà bình luận đã chỉ ra những điểm tương đồng trong các lời tựa cổ điển của các sử gia Hy Lạp (Herodotus, Thucydides) và của các chuyên luận hoặc sách hướng dẫn về y học và khoa học thời Hy Lạp.[4] Đã có nhiều tác giả viết theo như thế, và bây giờ tác giả Tin mừng cũng viết. Như thế, nguồn cho tất cả các văn bản này xuất phát từ thế hệ trước: “những chứng nhân ​​​​ban đầu và những thừa tác viên Lời Chúa.” Một số người, đặc biệt là những người đưa ra tuyên bố mang tính lịch sử rằng các nhân chứng bao gồm cả Mẹ Maria trong các trình thuật về thời thơ ấu, giải thích rằng Luca đang đề cập đến hai nhóm: nhân chứng và các thừa tác viên. Tuy nhiên, hầu hết mọi người ủng hộ hai cách mô tả trong một nhóm: họ là những nhân chứng trong sứ vụ của Người và trở thành những thừa tác viên Lời Chúa, tức là các môn đệ hay Tông đồ. Một lần nữa, với sở thích thiên về lịch sử, một số người sẽ hiểu “sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài” trong câu 3 có nghĩa là tác giả Tin mừng là môn đệ của các Tông đồ, những người đã viết lịch sử theo nghĩa đen. Có lẽ tác giả không có ý gì khác ngoài việc ông cẩn thận viết ra mọi thứ và sắp xếp lại chúng một cách lôgíc. Mục tiêu thần học được nêu ra cho “ngài Thêôphilô,”[5] cụ thể là, sự đảm bảo về sự chỉ dẫn Kitô giáo đã được ban cho ông. “Sự đảm bảo” là về giá trị cứu độ của những gì được tường thuật, chứ không phải chủ yếu về tính lịch sử hoặc tường thuật khách quan của nó – dù tường thuật đó có nguồn gốc từ truyền thống bắt nguồn từ những nhân chứng ban đầu và những thừa tác viên Lời Chúa. Luca-Công vụ là một bản tường thuật (1,1: diēgēsis) do một tín hữu viết ra để khích lệ niềm tin.

Thần học Luca được kịch tính hóa theo lịch sử và địa dư. Dựa trên nguồn cảm hứng của Conzelmann (Thần học), các nhà bình luận đã vạch ra ba giai đoạn lịch sử cứu độ của Luca với nhiều biến thể.[6] Một đề xuất khả thi đưa ra cách phân tích thế này: Ítraen (= một câu chuyện được tường thuật theo Lề Luật và các Ngôn sứ hay Cựu ước[7]), Đức Giêsu (= một câu chuyện được thuật lại trong Tin mừng, bắt đầu từ Lc 3,1), Giáo hội (= một câu chuyện được thuật lại trong Công vụ Tông đồ, bắt đầu từ 2,1, và tiếp tục cho đến tận cùng trái đất khi Con Người đến). Đức Giêsu là trung tâm liên kết Ítraen và Giáo hội lại với nhau; và thời của Người có thể được tính từ lúc chịu phép rửa đến khi thăng thiên (Cv 1,22). Giai đoạn chuyển tiếp từ Cựu ước đến Đức Giêsu và từ Đức Giêsu đến Giáo hội tương ứng hai cây cầu được tác giả xây nên. Trong Lc 1-2, các nhân vật Cựu ước đại diện cho Ítraen (Dacaria, Êlisabét, các mục đồng, Simêon, Anna) băng qua cầu để gặp các nhân vật Tin mừng (Maria, Đức Giêsu); trong Cv 1, Đức Giêsu của Tin mừng băng qua cầu để hướng dẫn Nhóm Mười Hai và chuẩn bị cho họ đón nhận Thần khí sắp đến, Đấng sẽ thiết lập hội thánh thông qua lời rao giảng và các phép lạ của họ. Do đó, có một sự liên tục từ đầu đến cuối trong kế hoạch của Thiên Chúa. Ghi nhớ kế hoạch đó, chúng ta hãy bước vào cây cầu đầu tiên.

DẪN NHẬP: THỜI THƠ ẤU VÀ NIÊN THIẾU CỦA ĐỨC GIÊSU (1,5-2,52)

Có thể nhận ra bảy đoạn, hai lần truyền tin sự thụ thai (Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu), chuyến viếng thăm Êlisabét của Đức Maria, hai câu chuyện về sự ra đời, việc dâng Đức Giêsu vào Đền thờ, cậu bé Đức Giêsu trong Đền thờ lúc mười hai tuổi. Có những khác biệt nhỏ giữa các học giả về sự sắp xếp và phần phụ trong các đoạn,[8] nhưng sự khá tương đồng trong sáu phần đầu thường được công nhận. Bảng 3 đi kèm gần như là một lời bình luận về lời đề nghị rất phổ biến mà Luca dự định viết hai bức tranh ghép. Truyền thống Tin mừng phổ quát mà Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong cảnh trước Đức Giêsu đã được áp dụng cho việc thụ thai và sinh hạ, và giờ đây họ được coi như những người họ hàng với nhau. Tuy nhiên, không còn nghi ngờ gì về việc Đức Giêsu lớn hơn Gioan Tẩy Giả.

BẢNG 3: CẤU TRÚC TRÌNH THUẬT THỜI
THƠ ẤU CỦA LUCA
TRUYỀN TIN KÉP
(Giai đoạn biên soạn đầu tiên của Luca)
1,5-25 1, 26-45.56
Truyền tin của Gioan Tẩy Giả
Dẫn nhập vào chuyện bi đát: Dacaria và Êlisabét, thuộc gia đình tư tế, son sẻ (5-7).Truyền tin: sự thụ thai Gioan Tẩy Giả bởi thiên thần của Thiên Chúa (Gáprien) loan báo cho Dacaria trong Đền thờ (8-23)Bối cảnh (8-10): phong tục tư tế: đến lượt Dacaria vào dâng hương.Cốt truyện (11-20):1. Thiên thần hiện ra với ông Dacaria2. Dacaria hoảng hốt3. Sứ điệp:a. Dacaria 

c. Đừng sợ

 

e. Êlisabét sẽ cưu mang một con

f. Người sẽ đặt tên con trẻ là Gioan

g. Người sẽ nên cao trọng trước mặt Đức Chúa…(15-17)

4. Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy?

Thiên thần trả lời (19).

5. Dấu chỉ: này đây ngươi sẽ bị câm.

Kết luận (21-23): Dacaria rời khỏi Đền thờ, bị câm. Ông trở về nhà.

Lời bạt: bà Êlisabét thụ thai; bà ẩn dật suy niệm trong khi ca ngợi Thiên Chúa (24-25).

Truyền tin của Đức Giêsu

Dẫn nhập: Thiên thần Gáprien được sai đến với Đức Maria, một trinh nữa đã đính hôn với ông Giuse, thuộc nhà Đavít (26-38).

Truyền tin về sự mang thai Đức Giêsu bởi Thiên thần Gáprien loan báo cho Đức Maria tại Nadarét.

1. Thiên thần Gáprien đến với Đức Maria.

2. Đức Maria hoảng hốt.

3. Sứ điệp:

a. Kính chào …. Maria.

b. Đấng đầy ân sủng.

c. Đừng sợ

d. Bà sẽ cưu mang.

e. và sinh một con.

 

f. Bà sẽ đặt tên cho con là Giêsu.

g. Người sẽ nên cao trọng… (32-33).

 

4. Việc ấy sẽ xảy ra cách nào?
Thiên thần trả lời (35).

5. Dấu chỉ: kìa, người chị họ của bà cũng đang cưu mang. Đức Maria đồng ý và Thiên thần cáo biệt.

Lời bạt: Đức Maria đến nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét, bà được đầy tràn Thánh Thần và lên tiếng ca ngợi Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria trở về nhà (38-45.56).

1,57-66,80 2,1-12.15-27.34.-40
Sinh/đặt tên/nên cao trọng của Gioan Tẩy Giả

Lưu ý về ngày sinh: hàng xóm đến chúc mừng (57-58)

Cảnh cắt bì/đặt tên (59-66)

Hai cha mẹ liên quan trong những điều kỳ diệu xung quanh việc đặt tên, chỉ ra sự cao trọng trong tương lai của con trẻ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tất cả mọi người ngạc nhiên; Dacaria mở miệng ca ngợi Thiên Chúa; tất cả những ai nghe biết đều ghi nhớ những biến cố này và suy niệm trong lòng.

 

 

 

 

 

 

Kết luận (80):

Kìm hãm sự phát triển con trẻ.

Người ẩn mình trong sa mạc.

Sinh/đặt tên/nên cao trọng của Đức Giêsu

Cảnh sinh hạ (1-20)

Bối cảnh (1-7): kiểm tra dân số liên hệ đến cha mẹ; sinh hạ ở Bêlem.

Truyền tin (8-12):

1. Thiên thần Thiên Chúa hiện ra với các mục đồng gần đó.

2. Các mục đồng rất sợ hãi.

3. Sứ điệp:

c. Đừng sợ; Mừng vui lên

e. Hôm nay có một Đấng sinh ra trong thành Đavít.

f. Một Đấng cứu độ là Mêsia và là Chúa.

5. Một trẻ thơ được bọc trong tã và được đặt trong máng cỏ.

Các phản ứng (15-20): Các mục đồng đến Bêlem, thấy dấu chỉ và báo cho mọi người biết.

Thính giả kinh ngạc;

Đức Maria ghi nhớ những biến cố này và suy niệm trong lòng.

 

 

 

Các mục đồng trở về, tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa.

Lưu ý về cắt bì/đặt tên (21)

Cảnh dâng con trẻ vào Đền thờ (22-27.34-38):

Bối cảnh (22-24): Thanh tẩy cha mẹ; thánh hiến con đầu lòng theo Lề Luật.

Lời chào của Simêon (25-27.34-35): được Thánh Thần thúc đẩy, Simêon chúc phúc cho cha mẹ con trẻ, và nói tiên tri về tương lai của con trẻ.

Lời chào của Anna (36-38).

Kết luận (39-40): Trở về Galilê và Nadarét. Kìm hãm sự phát triển con trẻ.

 

  1. Truyền tin sự thụ thai Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu (1,5-45,56).

Chúng ta thấy Mátthêu bắt đầu câu chuyện thời thơ ấu với sự lặp lại sách Sáng thế, Ápraham sinh ra Ixaác. Luca cũng dựa trên cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, không phải bằng cách đặt tên cho Ápraham và Xara mà bằng cách gợi nhớ họ trong chân dung của Dacaria và Êlisabét[9] – một kỹ thuật tương tự như một bức ảnh được phơi sáng hai lần để một bộ hình ảnh được nhìn xuyên qua một bộ hình khác. Thiên thần Gáprien truyền tin chỉ được nêu tên ở Cựu ước trong sách Đanien, nằm cuối Kinh Thánh Do Thái quy điển (giữa các Sách – vì vậy, theo phương pháp của mình, Luca muốn tóm gọn toàn bộ Kinh Thánh). Trong sách Đanien, cũng như trong Luca, Gáprien hiện ra lúc cử hành phụng vụ cầu nguyện; và người thị kiến bị làm cho câm (Đn 9,21; 10,8-12.15). Quan trọng hơn, Gáprien giải thích bảy mươi tuần, một mô tả toàn cảnh về kế hoạch cuối cùng của Thiên Chúa trong phần cuối cùng trong đó “sự công chính vĩnh cửu, để thị kiến và lời ngôn sứ được ứng nghiệm, và để xức dầu Nơi Cực Thánh.” (Đn 9,24). Khoảng thời gian này hiện đang bắt đầu với sự mang thai Gioan Tẩy Giả[10], người sẽ đóng vai Êlia (Lc 1,17), người mà sách ngôn sứ cuối cùng (Ml 3,23-24 [hoặc 4,5-6]) loan báo sẽ được sai đi trước Ngày quang lâm đang đến của Đức Chúa.

Nếu việc truyền tin về sự thụ thai Gioan Tẩy Giả gợi lên những gì đã xảy ra trước đó ở Ítraen, thì việc truyền tin về sự sinh hạ của Đức Giêsu được thấy ở cấp độ lớn hơn của sự mới mẻ mà Thiên Chúa bắt đầu mang lại. Giờ đây, thiên thần Gáprien đến không phải với những bậc cha mẹ già nua đang khao khát có con mà đến với một trinh nữ hoàn toàn kinh ngạc trước ý tưởng mang thai. Và việc mang thai sẽ không phải do con người mà do Thần khí sáng tạo của Thiên Chúa bao phủ,[11] Thần Khí đã làm cho vũ trụ được hiện hữu (St 1,2; Tv 104,30). Con trẻ được sinh ra là chủ trong lời công bố kép của thiên thần. Thứ nhất, lòng mong đợi của Ítraen sẽ được ứng nghiệm; vì con trẻ sẽ là Đấng Mêsia thuộc dòng dõi vua Đavít. Gáprien công bố điều này trong 1,32-33 bằng cách lặp lại lời hứa ngôn sứ với vua Đavít, vốn là nền tảng của sự mong đợi đó (2 Sm 7,9.13.14.16). Thứ hai, con trẻ sẽ vượt xa hơn lòng mong đợi đó; vì Người sẽ là Con độc nhất của Thiên Chúa nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Gáprien công bố điều này trong 1,35 bằng việc báo trước bằng ngôn ngữ Kitô học của kerygma (Rm 1,3-4). Lời đáp trả của Đức Maria: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38), đáp ứng tiêu chuẩn Tin mừng để thuộc về gia đình môn đệ (8,21). Do đó, thiên thần báo trước Tin mừng về căn tính hai mặt của Đức Giêsu, con của Đavít và Con Thiên Chúa, cũng như Maria trở thành môn đệ đầu tiên.

Mặc dù một số người sẽ phân loại cuộc viếng thăm (1,39-45) như một cảnh riêng biệt tập hợp các nhân vật kịch tính của hai lần truyền tin, nhưng nó có thể được coi là phần kết của cuộc truyền tin cho Đức Maria; vì Mẹ đang vội vã hoàn tất nghĩa vụ đầu tiên của người môn đệ bằng cách chia sẻ Tin mừng cho tha nhân. Gioan Tẩy Giả lúc còn trong lòng mẹ đã bắt đầu đóng vai trò báo trước cho mọi người về Đấng Mêsia sắp đến (xem 3,15-16), và phản ứng của bà Êlisabét khi chúc phúc cho Đức Maria là người mẹ sinh ra Đấng Mêsia và là Đấng đã tin vào lời Chúa, điều đó báo trước các quyền ưu tiên của Đức Giêsu trong 11,27-28.

  1. Kinh Magnificat (1,46-55) và các Thánh Ca khác

Trong Bảng I về hai cuộc truyền tin, tôi đã đề cập đến “Giai đoạn biên soạn đầu tiên của Luca” có mục đích để cho luận đề chung mà ở giai đoạn hai (không nhất thiết phải đúng lúc) nơi Luca đã thêm vào phác họa cơ bản của mình cho các thánh ca lấy từ tuyển tập các thánh ca đầu tiên trong tiếng Hy Lạp: Magnificat, Benedictus (1,67-78), Gloria in excelsis (2,13-14), và Nunc dimittis (2,28-32).[12] Tất cả những thánh ca này có thể dễ dàng bị loại khỏi bối cảnh hiện tại của chúng và thực sự, ngoại trừ một câu hoặc cụm từ ngẫu nhiên có thể được chèn vào (ví dụ, 1,48.76), không cụ thể trong các tham chiếu của chúng về hành động được mô tả trong bối cảnh. Các thánh ca phản ánh văn phong thánh ca Do Thái đương đại như đã thấy trong 1 Macabê (được lưu trữ trong tiếng Hy Lạp) và Thánh vịnh tạ ơn ở Qumran (Hodayot, tiếng Do Thái), vì mỗi dòng đều lặp lại Cựu ước nên toàn bộ như là một bức tranh khảm các chủ đề Kinh Thánh được sử dụng lại theo cách diễn tả lời ngợi khen mới. Do đó, các bài ca bổ sung thêm cho mô-típ lời hứa hay lời ứng nghiệm của các trình thuật thời thơ ấu.[13] (Ngoài ra, bài Magnificat rõ ràng được mô phỏng theo bài thánh ca của Anna, mẹ của Samuen, trong 1 Sm 2,1-10.) Tính Kitô học được coi là gián tiếp, công bố Thiên Chúa đã làm một điều mang tính quyết định nhưng không bao giờ nói rõ điều này liên quan đến công việc của Đức Giêsu[14] – từ đó gợi ý rằng những điều này có thể bắt nguồn rất sớm từ các Kitô hữu. Theo một nghĩa nào đó, Luca vẫn trung thành với nguồn gốc của các bài thánh ca bằng cách đặt chúng vào miệng của những người đầu tiên nghe nói về Đức Giêsu. Kinh Magnificat của Đức Maria, người môn đệ đầu tiên, đặc biệt có ý nghĩa vì khi nghe biết con mình sẽ là con cháu vua Đavít và là Con Thiên Chúa, bà đã biến điều này thành Tin mừng cho những người thấp hèn, đói khát và khốn cho những kẻ quyền thế và giàu có. Trong Luca, con bà cũng làm như vậy. Tiếng từ trời phán: “Con là Con của Cha ; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.” (3,22); và Đức Giêsu biến điều đó thành các mối phúc cho những kẻ nghèo khó, đói khát, khóc lóc và khốn cho những kẻ giàu có, kẻ no nê, và vui cười  (6,20-26). Theo đó, Kinh Magnificat đã nổi bật trong thần học giải phóng (BBM 650-52).

  1. Những câu chuyện về sự sinh hạ, sự cắt bì và đặt tên cho Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu (1,57-2,40).

Trong bức tranh kép này, những điểm tương đồng giữa hai bài không giống nhau như trong bức tranh truyền tin kép vì phẩm giá cao trọng vượt trội của Đức Giêsu được chú ý rộng rãi hơn. Các biến cố diễn ra xung quanh Gioan Tẩy Giả lặp lại cảnh truyền tin: bà Êlisabét bất ngờ đặt tên cho con trẻ là Gioan, và ông Dacaria đã nói lại được. Kinh Benedictus tán dương sự ứng nghiệm mọi điều đã được hứa với dân Ítraen. Mô tả về sự lớn lên và tinh thần trở nên vững mạnh của Gioan Tẩy Giả (1,80) lặp lại sự lớn lên của Samson (Tl 13,24-25) và của Samuen (1 Sm 2,21).

Bối cảnh sự ra đời của Đức Giêsu được biết nhờ  sắc lệnh của Xêda Augúttô trong cuộc điều tra dân số trên toàn miền, đây là lần đăng ký đầu tiên khi Quirinô là thống đốc miền Xyri. Về mặt lịch sử, mô tả này có nhiều vấn đề: chưa bao giờ có một cuộc điều tra dân số toàn Đế quốc dưới thời Augúttô (ngoại trừ một số cuộc điều tra dân số địa phương), và cuộc điều tra dân số Giuđêa (không phải Galilê) dưới thời Quirinô, thống đốc của Xyri, diễn ra vào năm 6-7 AD, có lẽ đã diễn ra quá trể, ít nhất mười năm so với ngày ra đời của Đức Giêsu. Cách giải thích tốt nhất là, mặc dù Luca thích đặt kịch bản Kitô giáo vào trong bối cảnh những biến cố nổi tiếng thời cổ đại, nhưng đôi khi ông không chính xác mấy.[15] Về mặt thần học, bằng cách liên kết biến cố giáng sinh của Đức Giêsu với sắc lệnh của Augúttô, Luca đang giới thiệu một kế hoạch của Thiên Chúa đạt đến đỉnh điểm khi Phaolô công bố Tin mừng tại Rôma (Cv 28). Những biến cố mà Luca mô tả thực sự diễn ra tại một thị trấn nhỏ ở Paléttin, nhưng bằng cách gọi Bêlem là thành phố của Đavít và ghép chúng vào cuộc điều tra dân số của người Rôma, Luca biểu tượng hóa tầm quan trọng của những biến cố đó với di sản hoàng tộc của Ítraen và cuối cùng là với thế giới Đế quốc. Lời loan báo của các thiên thần: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (2,11) là bắt chước một lời công bố của đế quốc. Nếu Augúttô được phác họa trong các tấm bia khắc chữ như là một Đấng cứu độ và là vị ân nhân vĩ đại, thì Luca phác họa Đức Giêsu như là một Đấng thậm chí còn vĩ đại hơn.[16] Đây là một biến cố phổ quát toàn cầu, khi vô số thiên thần xác quyết vinh quang của Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế (xem Vấn đề II dưới đây).[17] Các mục đồng cũng được chia sẻ mặc khải về Đức Giêsu và họ đáp lại với lời khen ngợi như là những đối trọng của Luca với các đạo sĩ của Mátthêu. Cuối cùng, cả các mục đồng và đạo sĩ đều rời khỏi đó và không bao giờ xuất hiện trở lại, vì vậy cả Luca và Mátthêu đều tránh mâu thuẫn với truyền thống rộng lớn hơn khi không có sự công nhận của công chúng về tính Kitô học của Đức Giêsu vào lúc Người chịu phép rửa. Đức Maria là người trưởng thành duy nhất còn sót lại từ trình thuật thời thơ ấu đến sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Lc 2,19.51 dùng các công thức tự chất vấn, trích từ những mô tả thị kiến của người Do Thái (St 37,11; Đn 4,28 LXX), để chỉ ra rằng Đức Maria vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những gì đã xảy ra. Điều đó duy trì vai trò môn đệ của Mẹ ngay cả sau khi mọi sự mặc khải đã được ban; Mẹ vẫn cần phải học biết căn tính của Con Mẹ như được mặc khải qua đau khổ và thập giá. Theo đó, trong Lc 2,35, Mẹ biết được: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn .”

Cũng như việc thăm viếng và việc dâng Đức Giêsu vào Đền thánh (2,22-40), có thể phân thành một cảnh riêng biệt; Tuy nhiên, có sự song song giữa 1,80 và 2,39-40 và do đó có cơ sở để giữ lại cảnh này theo mẫu hai cuộc truyền tin (xem Bảng 3). Chúng ta nên lưu ý rằng có hai chủ đề quan trọng phù hợp: cách cha mẹ Đức Giêsu trung thành với Lề Luật,[18] và cách ông Simêon và bà Anna, những đại diện cho người Do Thái sùng đạo đang mong chờ lời hứa của Thiên Chúa với dân Ítraen được ứng nghiệm, đón nhận Đức Giêsu. Đây là một phần nhỏ trong các luận đề của Luca mà cả Đức Giêsu và lời rao giảng của Người đều không mâu thuẫn với đạo Do Thái; chẳng hạn, ở phần đầu của sách Công vụ Tông đồ, ông cho thấy hàng ngàn người Do Thái sẵn sàng đón nhận lời rao giảng của các Tông đồ. Tuy nhiên, đó là ánh sáng soi đường cho Dân ngoại và là vinh quang của Ítraen lại được coi như cớ vấp ngã cũng như sự trỗi dậy cho nhiều người trong Ítraen (2,32,34).

  1. Con trẻ Giêsu trong Đền Thờ (2,41-52)

Từ quan điểm đối với các nguồn tài liệu, nguồn này dường như đến với Luca một cách độc lập so với nguồn tài liệu về thời thơ ấu khác; trong 2,48-50 không có dấu chỉ mặc khải nào trước đó nói về căn tính của Đức Giêsu như là Con Thiên Chúa hoặc về sự thụ thai phi thường của Người. Có một thể loại văn chương kể lại các câu chuyện thời thơ ấu hoặc “cuộc sống ẩn dật” của Đức Giêsu, được chứng thực rõ ràng trong Tin mừng thời thơ ấu của Tôma, câu chuyện thuật lại “những hành động quyền năng trong thời thơ ấu của Đức Giêsu Kitô” ở độ tuổi từ 5 đến 12. Sự hợp lý ngầm ám chỉ câu trả lời cho câu hỏi có lẽ đã hiện lên: Nếu trong sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ và có thể nói nhân danh Thiên Chúa, thì Người có được những quyền năng như vậy từ khi nào? Khi chịu phép rửa chăng? Những câu chuyện thời niên thiếu được dựng lên để cho thấy rằng Người đã có những quyền năng này ngay từ khi còn nhỏ (xem BINTC 126-29).

Bất kể nguồn gốc của câu chuyện về Đức Giêsu lúc Người lên mười hai tuổi là gì, Luca đã xây dựng nên một chuỗi có tính Kitô học hết sức thuyết phục bằng cách đặt vào giữa câu chuyện đó các trình thuật về thời thơ ấu và sứ vụ công khai. Trong trình thuật truyền tin, một thiên thần tuyên bố Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (1,35); lúc mười hai tuổi, khi lên tiếng lần đầu, Đức Giêsu đã nói rõ rằng Thiên Chúa là Cha của Người (2,49); ở tuổi ba mươi, khi bắt đầu sứ vụ công khai của Người, một tiếng của chính Chúa Cha từ trời phán: “Con là Con của Cha” (3,22-23). Tuy nhiên, một lần nữa, vì theo lịch sử, việc tự mặc khải như vậy khi còn nhỏ có thể mâu thuẫn với sự thiếu hiểu biết sau này của người đồng hương tại Nadarét về căn tính độc nhất của Người (4,16-30), chúng ta được đảm bảo rằng Đức Giêsu đã vâng lời cha mẹ khi Người trở về Nadarét (2,51), có lẽ là nhờ không khơi dậy thêm bất kỳ biến cố mặc khải nào như thế trong Đền thờ.

CHUẨN BỊ CHO SỨ VỤ CÔNG KHAI, RAO GIẢNG CỦA GIOAN TẨY GIẢ, PHÉP RỬA CỦA ĐỨC GIÊSU, GIA PHẢ CỦA NGÀI, VÀ CÁC CƠN CÁM DỖ (3,1-4,13)[19]

Chúng ta thấy cảm nhận của Luca về lịch sử và thế giới thần học của ông trong phần mở đầu (3,1-2) mà ông dùng để nhấn mạnh sự khởi đầu kỷ nguyên Đức Giêsu và chính Tin mừng. Có sự đồng đại sáu lần xác định năm biên soạn của nó (có lẽ khoảng năm 29 AD): do các sự cai trị của đế quốc, thống đốc, và các thượng tế. Sứ vụ rao giảng của Gioan Tẩy Giả (3,1-20), khai mạc triều đại Đức Giêsu (Cv 1,22), hoàn thành lời tiên báo của thiên thần Gáprien cho Dacaria trong Lc 1,1 5b-16. Luca pha trộn dữ liệu lấy từ Máccô, từ nguồn Q ( 3,7b-9),[20] và dữ liệu của chính ông (3,10-15). Bằng cách diễn tả “có Lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a” (3,2), Luca đồng hóa ơn gọi của Gioan Tẩy Giả với ơn gọi của ngôn sứ trong Cựu ước (Is 38,4; Gr 1,2; v.v.). Lời ngôn sứ Isaia được liên kết với Gioan Tẩy Giả trong cả bốn Tin mừng được mở rộng (Is 40, 3-5) để bao gồm “mọi người phàm sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” như một phần mối quan tâm thần học của Luca dành cho Dân ngoại. Lời nguyền rủa mà Mt 3,7 nhắm vào người Pharisêu và Xađốc, còn Lc 3,7 nhắm đến đám đông phản ánh xu hướng của Luca muốn loại bỏ một số sắc tộc địa phương người Paléttin và khái quát hóa thông điệp. Đặc biệt lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả của riêng Luca trong 3,10-14 nhấn mạnh vào việc chia sẻ của cải, công bằng cho người nghèo và nhạy cảm tử tế với họ. Tất cả điều này tương tự như những gì Đức Giêsu trong Luca nhấn mạnh, một điểm tương đồng để giải thích 3,18, nơi Gioan Tẩy Giả được cho là đã rao giảng Tin mừng. Trong các Tin mừng Nhất Lãm, chỉ có Luca (3,15) đặt ra vấn đề liệu Gioan Tẩy Giả có phải là Đấng Mêsia hay không[21], một câu hỏi được sử dụng để giới thiệu lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả về Đấng sẽ đến (3,16-18). Sau đó thể hiện sự yêu thích của mình để tra cứu cẩn thận (1,3), Luca trong 3,19-20 dự đoán phản ứng của Hêrôđê đối với Gioan Tẩy Giả lấy từ Mc 6,17-18 để kết thúc câu chuyện về sứ vụ của Gioan Tẩy Giả trước khi bắt đầu câu chuyện về sứ vụ của Đức Giêsu . Do đó, Luca tránh bất kỳ sự phụ thuộc nào của Đức Giêsu đối với Gioan Tẩy Giả, thậm chí ông không được nhắc đến trong cảnh chịu phép rửa sau đó.

Câu chuyện về phép rửa của Đức Giêsu (3,21-22) trong Luca chỉ ra rằng Đức Giêsu đang cầu nguyện (một chủ đề sẽ kết thúc sứ vụ ở 22,46[22]) và tương ứng, Thánh Thần ngự xuống dưới dạng có thân thể (hình dạng trong Luca nhằm nhấn mạnh đến thực tại; x. 24,39-43). Cũng chính Thánh Thần này đến trên Đức Giêsu ở đầu Tin mừng sẽ ngự xuống trên Nhóm Mười Hai trong ngày Lễ Ngũ Tuần khi bắt đầu Công vụ (2, 1-4). Luca dừng lại ở đây để tường thuật gia phả của Đức Giêsu (3,23-38).[23] Trong khi gia phả theo Mátthêu tính từ Ápraham đến Đức Giêsu, thì gia phả theo Luca tính từ Ađam (để dọn đường cho toàn nhân loại, vượt ra khỏi dòng dõi họ máu của dân Ítraen) và thậm chí lên đến Thiên Chúa (3,38). Địa phương hóa gia phả trước khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ là bắt chước Xh 6,14-26, nơi gia phả của Môsê được soạn ra sau thời tiền sử của ông và trước khi ông bắt đầu cố gắng dẫn dân Ítraen ra khỏi Ai Cập. Những cơn thử thách hay cám dỗ Đức Giêsu (4,1-13) được giới thiệu qua dấu chỉ cho thấy Đức Giêsu “đầy Thánh Thần,” một sự nhấn mạnh của Luca để chuẩn bị đón vai trò nổi bật của Thánh Thần trong Công vụ (ví dụ, 6,5; 7,55). Bắt nguồn từ Q, những cơn cám dỗ theo Luca, cũng giống như Mátthêu, sửa lại sự hiểu sai sứ mệnh của Đức Giêsu.[24] Đặc biệt đáng chú ý, không giống như Máccô và Mátthêu, Luca không có thiên thần nào đến phục vụ Đức Giêsu và xác nhận ma quỷ đã rời bỏ Người để chờ một thời điểm thích hợp hơn. Khi bắt đầu cuộc thương khó, chỉ một mình Luca trong Nhất lãm nói cụ thể về sự hiện diện của Satan, quyền lực của bóng tối (22,3,31,53); và trên Núi Ôliu khi Đức Giêsu chịu thử thách lần thứ hai, một thiên sứ đến tăng sức cho Người (22,43-44).

SỨ VỤ TẠI GALILÊ (4,14-9,50)

Với cảm thức về địa lý thần học của mình, Luca lưu ý đến việc Đức Giêsu trở về Galilê (4,14)[25] và từ đó hướng về Giêrusalem (9,51). Ở phần giữa, Luca đặt vào phần lớn trình thuật sứ vụ công khai mà ông lấy từ Máccô, trên đó ông áp đặt mệnh lệnh của riêng mình.

  1. Bị khước từ tại Nadarét; Các hoạt động tại Caphácnaum và trên Biển Hồ (4,14-5,16).

Để giải thích lý do tại sao Đức Giêsu người Nadarét dành phần lớn sứ vụ của mình tại Caphácnaum, Luca bắt đầu câu chuyện việc Đức Giêsu bị khước từ tại Nadarét (4,14-30), điều này diễn ra khá muộn trong Mc 6,1-6 và Mt 13,54-58. Ngoài ra, cảnh Nadarét [trong Luca] được thêm nhiều chi tiết hơn so với cảnh của Máccô: “một ngày sa-bát khác, Đức Giê-su cũng vào hội đường và giảng dạy;” vì Luca cung cấp giáo huấn đó khi Đức Giêsu bình luận về sách ngôn sứ Isaia (đây là bằng chứng Tin mừng duy nhất cho thấy Đức Giêsu có thể đã đọc Kinh Thánh). Đoạn văn (Is 61,1-2), phản ánh Năm hồng ân cho người bị áp bức,[26] được sử dụng để miêu tả Đức Giêsu như một ngôn sứ được xức dầu và nằm trong chương trình nói về những gì mà sứ vụ của Đức Giêsu sẽ mang lại. (Có lẽ nó dựa nhiều vào những người thuộc tầng lớp thấp kém mà Luca tiếp xúc). Việc khước từ Đức Giêsu, vị ngôn sứ, do những người đồng hương của Người lặp lại của Máccô; tuy nhiên, không có gợi ý nào trong Luca nói rằng những ai khước từ Người bao gồm gia đình hoặc người thân của Người (x. Mc 6,4). Việc Đức Giêsu quay sang những người ngoài được biện minh nhờ các đoạn song song của ngôn sứ. Sự giận dữ của dân chống lại Đức Giêsu đến mức cố gắng giết Người, điều đó vượt xa lời tường thuật của Máccô và diễn ra ngay từ đầu để chuẩn bị cho độc giả đón nhận kết cục thân phận của Người.

Luca kể lại bốn hoạt động liên quan đến Caphácnaum (4,31-44), nơi giờ đây trở thành trung tâm hoạt động sứ vụ của Đức Giêsu tại Galilê. Phép lạ đầu tiên trong 21 phép lạ của Luca (hành động quyền năng: Chương 7 trên đây, ghi chú 16) là phép trừ quỷ – mặc dù ma quỷ đã bỏ đi chờ đến một thời điểm thích hợp hơn, nhưng Đức Giêsu sẽ chiến đấu với nhiều ma quỷ. Việc chữa lành mẹ vợ ông Simôn (4,38-39) không có sự hiện diện của bốn môn đệ đánh cá trong trình thuật của Máccô, vì trong Luca, Đức Giêsu chưa kêu gọi họ. Trong phần tóm tắt những hoạt động của Đức Giêsu tại Caphácnaum (4,40-41), Luca tránh cường điệu hóa như trong Mc 1,33 rằng cả thành tập trung trước cửa – có lẽ đây là một minh họa cho ý thức trật tự tốt hơn của Luca. Điều gì xảy ra khi Đức Giêsu đến một nơi thanh vắng (Lc 4,42-44) thể hiện sự phổ cập điển hình của Luca, vì dân chúng chứ không phải ông Simôn và các bạn đồng hành đến tìm Đức Giêsu. So với Mc 1,39, trong đó Đức Giêsu đi qua các hội đường của cả miền Galilê, thì Lc 4,44 địa phương hóa các hội đường ở miền Giuđê. Điều đó có thể minh họa về ý tưởng mơ hồ của Luca với địa danh tại Paléttin, vì trong câu tiếp theo (5,1) Đức Giêsu vẫn còn ở tại Galilê và tại Biển Hồ. Hoặc xứ Giuđê trong Luca chỉ muốn nói đến “xứ sở của người Do Thái”?

Phép lạ bắt được nhiều cá và việc kêu gọi các môn đệ (Lc 5,1-11) minh họa cho sự (tái) sắp đặt tài tình của Luca. Việc kêu gọi các môn đệ được Máccô đặt trước bốn cảnh ở Caphácnaum đã được Luca chuyển ra sau chúng và thực sự là sau cả phép lạ bắt được nhiều cá, điều mà chỉ có Luca trong Tin mừng Nhất Lãm ghi lại. Việc Đức Giêsu chữa lành bệnh mẹ vợ ông Simôn và việc đánh bắt được một mẻ cá lớn[27] làm cho chúng ta dễ hiểu lý do tại sao Simôn và những người khác lại sẵn sàng theo Đức Giêsu làm môn đệ. Ơn gọi Simôn, người thú nhận mình là một tội nhân bất xứng, là một sự trình bày đầy kịch tính về ơn gọi và chuẩn bị cho ơn gọi Phaolô, người cũng bất xứng vì đã bách hại các Kitô hữu (Cv 9,1-2; Gl 1,13-15). Chủ đề “từ bỏ mọi sự” mà theo Đức Giêsu (Lc 5,11) minh họa cho sự nhấn mạnh của Luca về việc từ bỏ của cải. Tiếp theo, Luca tường thuật việc chữa lành một người phong cùi (5,12-16).

  1. Những phản ứng với Đức Giêsu: Tranh luận với người Pharisêu; Tuyển Chọn Nhóm Mười Hai và Rao Giảng Cho Đám Đông Trên Đồng Bằng (5,17-6,49). Dựa trên Mc 2,1-3,6, Luca trình bày một loạt năm cuộc tranh luận (5,17-6,11) mà tất cả đều có vai trò của người Pharisêu.[28] Các cuộc tranh luận liên quan đến một người bại liệt, kêu gọi ông Lêvi, ăn chay, bứt lúa và chữa bệnh trong ngày Sabát. Trong đó, những người Pharisêu chỉ trích nhiều khía cạnh trong hành vi của Đức Giêsu: tuyên bố có thể tha tội, các cộng sự viên của Người, việc Người không cấm các môn đệ ăn chay, việc họ bứt bông lúa và việc Người chữa bệnh trong ngày Sabát. Luca gây chú ý khi nhấn mạnh đến lời cầu nguyện của Đức Giêsu (5,16). Việc chữa lành cho người bại liệt trở nên long trọng hơn khi Luca hướng khán giả đến những người Pharisêu và các luật sĩ từ mọi nơi ở Galilê, Giuđê và Giêrusalem, và chúng ta được biết quyền năng của Chúa ở cùng Người trong việc chữa bệnh (5,17). Để làm cho bối cảnh trở nên dễ hiểu hơn đối với khán giả người Hy Lạp (ở Hy Lạp?), Lc 5,19 mô tả một mái nhà bằng ngói chứ không phải là mái nhà lợp bằng cây sậy và bùn khô của Paléttin mà qua đó người ta đục một cái lỗ (Mc 2,4). Trong ơn gọi của Lêvi, vì Luca tôn trọng Đức Giêsu, nên bấy giờ ông hướng cơn thịnh nộ của người Pharisêu và các kinh sư trong nhóm họ chống lại hành vi của các môn đệ của Người (Lc 5,30) hơn là chống lại Người (như trong Mc 2,16). Trong câu chất vấn về việc ăn chay và câu trả lời về cái mới và cái cũ, Lc 5,39 đặc biệt nhấn mạnh tính ưu việt của cái cũ. Đây có phải là cử chỉ tôn trọng của Luca dành cho những người gốc Do Thái giữa các khán giả của ông, những người cảm thấy khó để vứt bỏ lại những lưu luyến trước đây của họ không? Những cuộc tranh luận này khiến kẻ thù của Đức Giêsu âm mưu chống lại Người (Lc 6,11). Tuy nhiên, những người theo phe Hêrôđê trong Mc 3,6 đã lược bỏ bức tranh đó vì không có ý nghĩa gì đối với khán giả của Luca (cũng xem Lc 20,20 đến Mc 12,13).

Luca chuyển sang khía cạnh ưa chuộng trong việc phản ứng lại Đức Giêsu bằng cách thuật lại việc tuyển chọn Nhóm Mười Hai, việc chữa lành và rao giảng cho đám đông trên đồng bằng (6,12-49) – một sự tương đồng với Bài giảng trên núi của Mátthêu, điều hướng đến Nhóm Mười Hai (Mt 5,1-2).[29] Theo ý thức trật tự của mình, Luca đã hoán chuyển hai cảnh trong Mt 3,7-12 và 3,13-19, việc chữa lành cho đám đông và kêu gọi Nhóm Mười Hai,[30] để Nhóm Mười Hai ở với Đức Giêsu khi Người chữa lành cho “tất cả” đám đông lớn trên đồng bằng (Lc 6,17-19). Điều đó có nghĩa là Bài Giảng trên Đồng bằng của Luca bắt đầu từ 6,20 hướng đến tất cả các môn đệ, không chỉ riêng Nhóm Mười Hai. Bốn phúc lành của Luca mở đầu bài giảng, lặp lại kế hoạch cho sứ vụ được đọc to lên trong hội đường Nadarét. Những mối phúc này hướng đến những người thực sự nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị oán ghét “bây giờ”. Những điều “khốn” đi kèm, có lẽ do Luca sáng tạo ra và giống với sự tương phản trong kinh Magnificat, gợi ý về sự đối kháng do những người giàu gây ra giữa cộng đoàn. Lời kết án có thể so sánh được trong Gc 2,5-7; 5,1-6 có lẽ gợi ý cho rằng lý do của sự ghen ghét dữ dội là do người giàu đối xử bất công. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy trong các chương sau, đôi khi nhưng không luôn luôn, Luca dường như coi việc sở hữu của cải (trừ khi được phân phát cho người nghèo) là phá hủy mối tương quan của một người với Thiên Chúa. Lý tưởng của Luca là Cộng đoàn Giêrusalem gồm các tín hữu dâng tài sản của họ cho quỹ chung như ông mô tả trong Cv 2,44-45; 4,32-37.

Không có câu “Anh em đã nghe Luật dạy rằng… còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” đặc trưng như trong Mt 5,17-48, Lc 6,27-36 nói lên các giá trị của Đức Giêsu. Mặc dù đôi khi những điều này được gọi là “đạo đức của Nước trời,” cách gọi đó thích hợp hơn nhiều đối với Mátthêu, nơi mà “Nước trời” xuất hiện tám lần trong Bài giảng trên núi, hơn là đối với Luca, người chỉ đề cập đến “Nước trời” một lần trong toàn bộ bài giảng (6,20). Do đó, có ít kiểu nói cánh chung hơn so với những đòi hỏi gây sửng sốt của Đức Giêsu trong Luca dành cho các môn đệ của mình để yêu những kẻ ghét và lợi dụng mình. Đoạn nói về việc đừng xét đoán (6,37-42 mở rộng hơn Mt 7,1-5) là một phần mở rộng nói về tình yêu thương. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, những đòi hỏi dành cho tất cả những ai muốn nghe (6,27,47), và những đòi hỏi không được đáp ứng bởi những người không sinh quả tốt mà chỉ nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” (6,43-49).

  1. Các Phép Lạ và Dụ Ngôn Minh Họa Quyền Năng của Đức Giêsu và Giúp Mặc khải Căn Tính của Người; Sứ mạng của Nhóm Mười Hai (7,1-9,6). Mô thức chữa bệnh cho đầy tớ của viên đại đội trưởng theo Luca trong 7,1-10 (một phép lạ trong nguồn Q), trong đó hai người đại diện được cử đến gặp Đức Giêsu thay vì để viên quan đích thân đến, và khi một đầy tớ (doulos) được chữa lành thay vì một cậu bé hay con (x. Mt 8,5-13; Ga 4,46-54), có thể là chuyện thứ yếu. Câu chuyện đó tương phản với niềm tin Dân ngoại – đáp lại Đức Giêsu bằng việc các nhà cầm quyền Do Thái loại trừ Người. Đây là một Dân ngoại yêu nước Do Thái và đã xây dựng hội đường và do đó báo trước Conêliô, Dân ngoại đầu tiên trở lại đạo trong Công vụ (10,1-2). Phép lạ tiếp theo, làm cho con bà góa thành Nain sống lại (7,11-17), là phép lạ duy nhất của Luca. Sự thể hiện quyền năng đáng kinh ngạc này làm cho Đức Giêsu được mọi người nhận ra là Đức Kitô (7,16 lặp lại kiểu viếng thăm của ngôn sứ và Thiên Chúa trong 1,76-78), nhưng cũng cho thấy sự quan tâm đầy trắc ẩn của Người đối với người mẹ bị mất đứa con duy nhất của mình. (Đối với việc phục sinh kẻ chết, xin xem Chương 11 dưới đây, ghi chú 41.)

Trở lại với tài liệu Q (= Mt 11,2-19), Luca cho chúng ta thấy cảnh liên quan đến Gioan Tẩy Giả (7,18-35), cảnh đó làm rõ mối quan hệ của ông với Đức Giêsu.[31] Câu trả lời của Đức Giêsu cho các môn đệ của Gioan Tẩy Giả về ngôn sứ Isaia phù hợp với việc Người đã đọc ngôn sứ Isaia tại Nadarét. Chỉ một mình Luca (7,29-30) đề cập đến việc Đức Giêsu khen ngợi Gioan Tẩy Giả phù hợp với tất cả dân chúng và những người thu thuế, những người đã được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa và nhận ra vai trò của ông trong kế hoạch của Thiên Chúa (3,10-13), nhưng không phải người Pharisêu và các luật sĩ, những người chưa được rửa tội và khước từ kế hoạch đó. Phản ứng đó giúp giải thích sự so sánh Q với những đứa trẻ giận dỗi không hài lòng (7,31-34). Kiểu câu cuối cùng của Luca (7,35): Đức khôn ngoan được “tất cả con cái mình” biện minh cho, tức là, Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu và các môn đệ của mình. Có lẽ tiếp tục phản ứng chống lại Con Người ăn uống (7,34), Luca thuật lại một cách tinh tế, trong bối cảnh ăn uống tại bàn của ông Simôn, người Pharisêu, một câu chuyện hay liên quan đến một người đàn bà tội lỗi biết ăn năn, khóc lóc và xức dầu lên chân Đức Giêsu (7,36-50).[32] Điều đó có thể là phức tạp vì liên quan đến việc so sánh hai con nợ. Câu chuyện của Luca có tương tự như câu chuyện một người phụ nữ xức dầu lên đầu Đức Giêsu tại nhà của người bệnh phung tên là Simôn trong Mc 14,3-9 và Mt 26,6-13, và việc xức dầu lên chân Đức Giêsu bởi Maria, em gái Mátta và em Ladarô, trong Ga 12,1-8 không?[33] Cũng có một cuộc tranh luận về việc liệu người phụ nữ tội lỗi trong Luca được tha thứ vì bà đã yêu nhiều hay vì bà đã được tha thứ nên bà đã yêu nhiều. Một trong hai nghĩa hoặc cả hai đều phù hợp với sự nhấn mạnh của Luca về sự tha thứ của Thiên Chúa trong Đức Kitô và một lời đáp trả yêu thương. Sau câu chuyện về người đàn bà này, phần cuối là “Phần Nhỏ Thêm Vào” của Luca vào trong bố cục của Máccô mô tả những phụ nữ Galilê đi theo Đức Giêsu (8,1-3), những người đã được trừ quỷ và bệnh tật. Ba người trong họ được gọi là: Maria Magđala, Gioanna, vợ của Khuda, người quản lý của vua Hêrôđê và Susanna; hai người đầu tiên sẽ xuất hiện một lần nữa ở ngôi mộ trống (24,10). Điều thú vị là các Tin mừng khác chỉ nêu tên những người phụ nữ Galilê liên quan đến sự đóng đinh và phục sinh, vì vậy chỉ có Luca kể cho chúng ta về quá khứ của họ và rằng họ phục vụ (diakonein) nhu cầu của Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai bằng của cải của họ – một bức tranh về những nữ môn đệ tận tụy hy sinh.[34] Phần hỗ trợ này tiên báo về bức tranh phụ nữ trong Công vụ Tông đồ, ví dụ, bà Lyđia tại Philíphê (16,15).

Nhập vào lại dàn ý của Máccô ở chương nói về các dụ ngôn (4,1-20), Luca tiếp tục thuật lại dụ ngôn người gieo giống và hạt giống cùng lời giải thích đã bị gián đoạn do mục đích của các dụ ngôn (8,4-15). Thật thú vị là ông đơn giản hóa hạt giống rơi vào đất tốt. Ông chỉ đề cập đến kết quả gấp trăm (không phải ba mươi hay sáu mươi), và hạt giống này được hiểu là những người nghe lời Chúa, gìn giữ nó với tấm lòng lương thiện và quảng đại, sinh hoa kết quả nhờ lòng kiên nhẫn (8,15). Tóm tắt lại những câu dụ ngôn, lấy ngọn đèn làm trung tâm (8,16-18). Nó cũng kết thúc ở chủ đề lắng nghe và chú ý, rồi dẫn đến sự xuất hiện của mẹ và các anh em của Đức Giêsu (8,19-21). Mặc dù dựa trên Mc 3,31-35, nhưng nội dung của nó hoàn toàn thay đổi. Không còn có sự tương phản bất lợi giữa gia đình tự nhiên và gia đình môn đệ; đúng ra chỉ có lời khen ngợi mẹ và anh em vì đã nghe và thực hành lời Chúa – họ nêu gương sáng như hạt giống tốt và phù hợp với tiêu chuẩn của người môn đệ.

Bấy giờ Luca đưa ra một chuỗi bốn câu chuyện phép lạ (8,22-56): dẹp yên biển động, chữa người bị quỷ ám ở Ghêraxa,[35] cho con gái Giaia sống lại, và chữa người đàn bà bị băng huyết. Các phép lạ trong chương này rất phức tạp, chúng có thể được xem là đang so sánh với việc trừ quỷ trong Lc 8,26-39 với trong 4,33-37; và sự cao cả của Đức Giêsu được thể hiện trọn vẹn khi Người thi hành quyền phép trên biển cả, ma quỷ, bệnh nan y và chính cái chết. Tiếp theo,[36] Luca tường thuật việc sai Nhóm Mười Hai ra đi rao giảng (Lc 9,1-6). Sau khi biểu lộ quyền năng của mình, giờ đây Đức Giêsu chia sẻ quyền năng đó với Nhóm Mười Hai bằng cách ban cho họ quyền trên ma quỷ[37] và sai họ đi rao giảng Nước trời hay Tin mừng và chữa lành bệnh tật (9,2,6).

  1. Các câu hỏi về căn tính của Đức Giêsu, Hêrôđê, Cho 5000 người ăn, Phêrô tuyên xưng đức tin, Tiên báo về Cuộc Thương Khó lần Thứ Nhất và Thứ Hai, Cuộc Biến Hình (9,7-50). Trong khi Nhóm Mười Hai được sai đi, chúng ta biết Hêrôđê đã chém đầu Gioan Tẩy Giả (Lc 9,7-9). Luca bỏ qua toàn bộ câu chuyện của Máccô về bữa tiệc của Hêrôđê và con gái Hêrôđia khiêu vũ, có lẽ phản ánh sự không ưa chuộng chuyện giật gân của ông. Điểm quan trọng đối với Luca là sự tò mò của “bạo vương” (3,1) về Đức Giêsu (chuẩn bị cho 13,31 và 23,8). Chủ đề về căn tính của Đức Giêsu được tiếp nối trong các cảnh tiếp theo. Chúng bắt đầu với sự trở về của Mười hai Tông đồ và việc cho 5000 người ăn (9,10-17), một hình thức phỏng theo Mc 6,30-44. Luca sau đó bỏ qua Mc 6,45-8,26 (“Sự Bỏ Qua Lớn”), bỏ qua mọi thứ từ sau khi cho 5000 người ăn đến cho 4000 người ăn;[38] Có lẽ Luca thấy các sự kiện này bị trùng lặp nên quyết định chỉ tường thuật một sự kiện; tuy nhiên, sự khác biệt so với bản tường thuật của Máccô về việc cho 5000 người ăn và sự có mặt của một biến thể khác trong Ga 6,1-15 có thể muốn nói rằng, ông đã kết hợp hai câu chuyện thành một câu chuyện hóa bánh ra nhiều. (Về các khía cạnh bí tích Thánh Thể, x. tr. 136, 345.)

Lấy lại dàn ý của Mc ở 8,27 trong Tin mừng đó, Luca đưa ra ba đề xuất tiếp theo về Đức Giêsu là ai và lời tuyên xưng của Phêrô (9,18-20), để khiến độc giả chú ý đến việc Đức Giêsu đang cầu nguyện, một lưu ý tiêu hiểu của Luca. Theo thứ tự, lời tuyên xưng của Phêrô: “Đức Kitô của Thiên Chúa” là cách Luca trả lời cho câu hỏi của Hêrôđê: “Người nầy là ai?” trong mười câu trước đó.[39] Lời tuyên xưng này tiếp theo lời tiên báo về cuộc thương khó thứ nhất của Đức Giêsu (9,21-22), nhưng ở Luca (không giống như Máccô/Mátthêu) không có sự hiểu lầm nào của Phêrô và không có sự trừng phạt nào dành cho ông. Thay vào đó, Đức Giêsu tiếp tục dạy họ về con đường thập giá và sự phán xét (9,23-27). Nếu Con Người phải chịu đau khổ, thì những người theo Người cũng phải chịu đau khổ nếu họ hy vọng được chia sẻ vinh quang của Người. Các đặc điểm thú vị của Luca trong chuỗi câu nói này được liên kết không chặt chẽ với vai trò môn đệ bao gồm đòi hỏi phải vác thập giá “hằng ngày” và chỉ rõ rằng Con Người đạt được vinh quang của mình cùng với vinh quang của Chúa Cha (9,26). Cuộc biến hình (9,28-36), được đặt trong bối cảnh Đức Giêsu đang cầu nguyện, mô tả vinh quang đó đã hiện diện trong sứ vụ trên trần gian của Đức Giêsu (9,32).[40] Tuy nhiên, nó cũng khẳng định khía cạnh đau khổ của Con Người, vì Đức Giêsu chuyện vãn với Môsê và Êlia về cuộc “xuất hành” của Người, tức là Người trở về với Thiên Chúa qua cái chết ở Giêrusalem. Cả vinh quang và đau khổ đều được xác nhận qua tiếng nói của Thiên Chúa: Người là Chúa Con và Người là Đấng được Tuyển Chọn (Người Tôi Tớ Đau Khổ). Câu chuyện về cậu bé bị quỷ ám (9,37-43a) không quá rõ ràng về chứng động kinh như Mt 17,15 và tóm tắt lời tường thuật của Máccô rõ ràng hơn cả Mátthêu. Đặc biệt, Luca loại bỏ hầu hết sự nhấn mạnh của Máccô về việc các môn đệ không thể chữa lành cho cậu bé này, và quan tâm nhiều hơn đến phép lạ thể hiện “quyền năng cao cả của Thiên Chúa.” Tương tự như vậy, trong lời tiên báo thứ hai về cuộc thương khó và cuộc tranh luận về ai lớn nhất (9,43b-50) Luca một lần nữa làm dịu bức tranh của Máccô bằng cách giải thích rằng, các môn đệ không hiểu vì lời nói của Đức Giêsu bị che khuất lòng họ và bằng cách điều chỉnh cuộc đối diện với việc xem ai là người lớn nhất. Không những người bé nhất trong họ là người lớn nhất, mà ngay cả người ngoài nhân danh Đức Giêsu cũng có một vị trí.

HÀNH TRÌNH LÊN GIÊRUSALEM (9,51-19,27)

Ở điểm này, Luca viết một lời tựa nhỏ khác (hơi giống với 3,1-2) để đánh dấu sự thay đổi lớn. Đã đến lúc Đức Giêsu được cất lên (lên trời), và vì thế Người quyết định đối mặt với Giêrusalem, nơi Người sẽ chịu chết. Luca đang miêu tả một Đức Giêsu biết rõ thân phận của mình và chấp nhận nó theo ý Thiên Chúa. Chuyến hành trình dài[41] là khung cảnh (tự tạo) cho “Phần Thêm Vào Lớn” (9,51-18,14), khi Luca bỏ qua bố cục của Máccô (gần như toàn bộ nửa sau của Tin mừng) và chèn thêm vào phần lớn tài liệu lấy từ Q và nguồn của riêng mình (L). Phần Tin mừng này mang nét tiêu biểu nhất của Luca. Tài liệu có thể được chia thành ba tiểu mục theo các điểm chính trong 13,22 và 17,11, nơi Luca nhắc nhở chúng ta về khung cảnh cuộc hành trình.[42]

  1. Lần thứ nhất và lần thứ hai đề cập đến Giêrusalem (9,51-13,21). Chúng ta đã thấy một số điểm tương đồng giữa Tin mừng Luca và Gioan, nhưng bây giờ chúng ta nhận thấy rằng chúng khác xa nhau. Trong các Tin mừng, chỉ có Luca có cuộc chạm trán thù địch với dân làng Samaria (9,51-56), điều này hoàn toàn trái ngược với sự tiếp đón nồng hậu của dân người Samaria đối với Đức Giêsu trong Ga 4,39-42. Việc Giacôbê và Gioan đề nghị Đức Giêsu chống lại dân Samaria là đặc điểm đặc thù của Luca. Cuộc đối thoại với ba người xin làm môn đệ (9,57-62) nhấn mạnh đòi hỏi tuyệt đối của Nước trời. Chúng ta đã thấy Mười Hai Tông đồ được sai đi trong Mc 6,7-13, Mt 10,5-42 (được lồng vào Bài giảng Truyền Giáo), và trong Lc 9,1-10, nhưng chỉ trong Luca, Đức Giêsu sai đi lần khác: sai 72 môn đệ (10,1-12). Thực sự, dường như Luca đã tạo ra nó từ cùng một dữ liệu Q, nó được sử dụng để Nhóm Mười Hai được sai đi. Hai lần sai đi có lẽ được lập ra để chuẩn bị viết Công vụ Tông đồ, trong đó Nhóm mười hai hoạt động nổi bật khi bắt đầu sứ mệnh, nhưng sau đó bước khởi đầu được trao lại cho những người khác, như Phaolô, Banaba và Xila. Nhu cầu sai đi lần thứ hai trong Tin mừng (10,2) được giải thích là do lúa chín đầy đồng. Đối với Luca, con số “bảy mươi hai” lặp lại con số các quốc gia trong bản LXX của St 10,2-31 và do đó tiên báo mức độ lớn nhất của mùa gặt không?[43] Lời tuyên bố ”Nước Thiên Chúa đã đến gần” có yếu tốt phán xét trong đó, vì sau nó là hình phạt dành cho những thành phố không tin (10,13-16).

Niềm vui vì khuất phục được ma quỷ đánh dấu sự trở về của 72 môn đệ trong Luca (10,17-20) – so với sự trở về lạnh lùng của Nhóm Mười Hai trong 9,10. Đức Giêsu tóm tắt sứ mệnh của họ (và có lẽ là sứ mệnh của hội thánh như Luca chứng kiến) về sự thất bại của Satan. Quyền năng được ban cho họ để đạp lên rắn rít và bọ cạp trong 10,19 tương tự như ban quyền năng trong sứ mệnh sau phục sinh ở phần cuối Tin mừng Máccô (16,17-18). Lý do tại sao các môn đệ nên vui mừng vì tên của họ đã được ghi trên trời (Lc 10,20) được giải thích bằng những điều sau đây. Đức Giêsu cảm tạ Chúa Cha vì đã mặc khải (10,21-22), một đoạn văn có những đoạn song song với Gioan (trang 184 ở trên). Việc các môn đệ được Chúa Con tuyển chọn để đón nhận mặc khải được thể hiện trong lời chúc phúc cho các môn đệ (10,23-24), một phúc lành nhận được qua những gì họ đã chứng kiến. Đoạn tiếp theo trong Luca liên quan đến câu hỏi của luật sĩ về sự sống vĩnh cửu và câu trả lời của Đức Giêsu về việc yêu mến Thiên Chúa và yêu người thân cận (10,25-28).[44] Dù các luật sĩ muốn thử thách, nhưng Đức Giêsu thích câu trả lời của họ; và điều đó dẫn đến việc luật sĩ hỏi thêm và dụ ngôn của Luca[45] về người Samaria nhân hậu (10,29-37) tiếp tục giải đáp. Vì giới luật tình yêu dẫn đến sự sống (vĩnh cửu), luậy sĩ cố tìm lý lẽ ngụy biện để hỏi cho biết điều răn ấy áp dụng cho ai; nhưng Người nhận biết rằng người ta chỉ có thể xác định được chủ thể của tình yêu chứ không phải chủ thể của đối tượng. Người Samaria được chọn để minh họa một chủ thể có phạm vi vô hạn, có lẽ là sự chuẩn bị để viết Cv 8, với bức tranh tích cực về phản ứng của những người Samaria đối với Tin mừng.

Câu chuyện của Matta và Maria (10,38-42) là một trường hợp khác, trong đó dữ liệu đặc biệt của Luca có những điểm tương đồng với Gioan (Ga 11,1-44; 12,1-8). Tuy nhiên, cũng có những khác biệt lớn, Ladarô vắng mặt trong Luca, và gia đình ở Bêtania trong Gioan cách Giêrusalem hai dặm, không phải là một ngôi làng trên đường từ Galilê và Samaria đến Giêrusalem. Ý nghĩa câu chuyện trong Luca: lắng nghe lời Đức Giêsu là điều quan trọng duy nhất – một bài học hài hòa với câu trả lời trước đó dạy: yêu mến Thiên Chúa và người thân cận là giới răn cơ bản cần thiết cho cuộc sống vĩnh cửu. Nó chứng tỏ rằng những đòi hỏi đó là không phức tạp. Tương tự như vậy, hướng dẫn dành cho những môn đệ muốn học cầu nguyện với Kinh Lạy Cha (11,1-4) là không phức tạp – một cách diễn đạt ngắn hơn và cách nào đó, nó cũ hơn so với cách diễn đạt trong Mátthêu và nó cũng ít mang tính cánh chung hơn.[46] Việc khuyến khích cầu nguyện được tiếp tục trong dụ ngôn độc nhất vô nhị của Luca về người bạn quấy rầy (11,5-8), một câu chuyện mang đậm màu sắc địa phương Paléttin, vì nó gợi lên hình ảnh cả gia đình chen chúc trong một căn nhà chỉ có một phòng. Tài liệu Q về sự nài nỉ xin (11,9-13) được thêm vào để làm rõ vấn đề. Khác biệt quan trọng nhất trong ​​Mt 7,7-11 là lời hứa trong Lc 11,13 dành cho những người xin: trong Mátthêu, Cha trên trời ban những của tốt lành; trong Luca, Thánh Thần được ban, như đã được xác minh trong Công vụ Tông đồ.

Cắt ngang chuỗi câu chuyện thân thiện khi Đức Giêsu đang giảng dạy cho các môn đệ, Luca hình thành một đoạn văn gây tranh cãi và những câu nói về ma quỷ (11,14-26). Việc đề cập đến cuộc chiến giữa một người mạnh (Bêendêbun) và một người mạnh hơn (Đức Giêsu) chuẩn bị trước cho độc giả hiểu về cuộc chiến diễn ra tại Giêrusalem trong cuộc thương khó. Điều đặc biệt của Luca là lời chúc phúc của người phụ nữ giữa đám đông (11,27-28). Hai mẫu phúc lành ưu tiên cho việc vâng phục lời Thiên Chúa đã được tiên báo trong 1,42-45. Trong các dấu lạ cảnh báo cho thế hệ này, những câu nói dụ ngôn về chiếc đèn, và những điều khốn dành cho người Pharisêu (11,29-12,1), có những đặc điểm đáng chú ý trong Luca. Không giống như Mt 12,40 giải thích dấu lạ của Giôna ba ngày trong bụng cá (chuẩn bị cho việc mai táng và phục sinh của Đức Giêsu), Lc 11,32 giải thích nó như lời rao giảng cho dân thành Ninivê, giống như Mt 12,41. Lc 11,41 rất tiêu biểu khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bố thí, thực sự là bố thí những gì thực sự quan trọng nhất. Trong khi ở Mt 23,34, Đức Giêsu thốt ra một câu nhân danh chính mình (chỉ duy “tôi”), Lc 11,49 quy câu nói tương tự cho “Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa;” điều này nẩy sinh vấn đề ở đây liệu ông có đồng hóa Đức Giêsu như là Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa hay không. Trong khi Mt 23,13 buộc tội các kinh sư và Pharisêu khóa cửa Nước Trời, thì Lc 11,52 lại cho rằng các luật sĩ cất giấu chìa khóa tri thức. Cuối cùng Luca kết thúc đoạn này với lời cảnh cáo đám đông hãy coi chừng “men Pharisêu, tức là thói đạo đức giả.” Đây là kiểu nói của Luca giống với Mátthêu nhất khi thường xuyên gán cho Pharisêu là những kẻ đạo đức giả (x. Chương 5 ở trên, ghi chú 19).

Lời khuyến khích tuyên xưng đức tin mà không sợ hãi (12,2-12) hứa ban phần thưởng cho những ai rao giảng chân lý và cảnh cáo sẽ xét xử những ai không làm thế. Ngay cả một Tin mừng nhấn mạnh đến sự tha thứ như Luca vẫn bảo vệ truyền thống về tội phỉ báng Thánh Thần thì không thể tha thứ được (12,10). Bảo đảm “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” khi đối mặt với các nhà cầm quyền hội đường thù địch và thế gian (Lc 12,11-12). Sự đảm bảo này có ý nghĩa quan trọng hơn trong các câu chuyện minh họa những thử thách mà các Kitô hữu trong Công vụ Tông đồ phải chịu. Đoạn (pericope) nói về tính tham lam và dụ ngôn nhà phú hộ xây kho lẫm (12,13-21) rõ ràng là thuộc Luca. Hy vọng chia tài sản thừa kế một cách công bằng hoặc mở rộng công việc kinh doanh đang phát triển, tự chúng có thể hiểu được, nhưng chống lại lập luận cho rằng mối quan tâm quá nhiều đến sở hữu của cải vật chất thì không thể dung hòa được với mối quan tâm đến Thiên Chúa. Các Kitô hữu lý tưởng được yêu cầu sống theo câu châm ngôn: “Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (12,15; xem Cv 2,44; 4,34). Số phận của nhà phú hộ xây kho lẫm phản ánh sự mong chờ một cuộc phán xét riêng diễn ra trước cuộc phán xét chung vào ngày tận thế. Một đoạn văn chỉ trích sự quan tâm đến những điều trần tục (12,22-34) minh họa điều người ta có thể sung túc như thế nào nếu không quan tâm đến những điều như vậy. Hướng dẫn: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí” (12,33) là quan điểm đặc của Luca.

Bây giờ Luca thay đổi chủ đề bằng một đoạn nói về sự cần thiết của sự trung thành tỉnh thức (12,35-48). Trong tài liệu Q (điều mà Mt 24,43-51 đã đưa vào Bài giảng cánh chung), Lc 12,41 là một đoạn chèn vào: một câu hỏi của Phêrô về việc liệu giáo huấn này “cho chúng con hay cho tất cả mọi người“, điều này không bao giờ được giải đáp cụ thể. Tuy nhiên, vì câu nói tiếp theo liên quan đến một quản gia chu toàn việc nhà, nên người ta có thể đánh giá rằng các Tông đồ và các nhà lãnh đạo Kitô hữu có trách nhiệm lớn hơn. Tài liệu Q, kết thúc ở 12,46 với lời đe dọa trừng phạt người đầy tớ nào không tỉnh thức, được đánh giá ngang qua phần phụ lục ở 12,47-48 của Luca, phân biệt giữa hình phạt dành cho những ai biết và những ai không biết. (Khi thuật lại sự đối xử thù địch với Đức Giêsu trong cuộc thương khó, trong tất cả các Tin mừng Luca chú ý nhiều nhất đến việc phân biệt giữa dân chúng và các nhà lãnh đạo của họ). Sự phân biệt đó dẫn đến việc mô tả đáng sợ về nhiều kết quả trong sứ vụ của Người (12,49-53). Bằng ngôn ngữ cánh chung, Đức Giêsu nói về ngọn lửa mà Người sẽ mang đến thế gian và phép rửa thử thách là một phần trong thân phận của Người. Chia rẽ, không có hòa bình, sẽ là kết quả; lời tiên báo trong Lc 2,34 rằng Đức Giêsu được chuẩn bị để làm duyên cớ cho nhiều người ngã xuống và đứng dậy ở Ítraen giờ đây được ứng nghiệm chính xác về việc làm sao mà các gia đình sẽ chia rẽ. Bởi vì những khẳng định khác yêu chuộng hòa bình (2,14; 19,38) và các gia đình hợp nhất (vai trò của Gioan Tẩy Giả trong 1,17), nên kết quả sứ vụ của Đức Giêsu trở nên mâu thuẫn, với sự thúc đẩy theo cả hai hướng. Rõ ràng phần nhiều kết quả này sớm xảy ra, vì Đức Giêsu tỏ ra sự giận dữ khi người ta không thể đọc được các dấu chỉ của thời hiện tại (12,54-56). Với tài liệu Q liên quan đến việc dàn xếp trước khi ra tòa (12,57-59), Luca thêm vào những ví dụ của mình về sự hủy diệt để nhấn mạnh đến lòng thống hối (13,1-5). Chúng ta không biết gì về những ngườ1 Galilê bị Philatô giết khi đang dâng của lễ (tại Giêrusalem), hoặc về sự sụp đổ của một tòa tháp ở Silôam (hồ chứa nước ở Giêrusalem), mặc dù một số người đã nghĩ rằng biến cố trước đây giải thích cho thù địch giữa Hêrôđê (bạo vương xứ Galilê) và Philatô, điều Luca thuật lại trong 23,12. Dụ ngôn về cây vả (13,6-9) cho thêm một cơ hội nữa để cây sinh trái trước khi bị đốn hạ. Nhiều người tự hỏi liệu đó có phải là một hình thức rộng lượng của Luca khi nguyền rủa cây vả như trong Mc 11,12-14.20-23 và Mt 21,18-21, và do đó, một phép lạ đã trở thành một ngụ ngôn. Tiếp theo, Luca mô tả Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường vào ngày Sabát và thương xót chữa lành một người phụ nữ còng lưng (13,10-17), một hành động khiến người cai quản hội đường phẫn nộ. Mặc dù sự chữa lành khiến dân chúng vui mừng, nhưng nó lại làm chính quyền hổ thẹn và trong chuỗi sự kiện hiện tại có thể thấy một số người sẽ không thống hối và lắng nghe. Tuy nhiên, hai dụ ngôn về hạt cải và nắm men (13,18-21) đưa ra sự đảm bảo rằng Nước Chúa cuối cùng cũng sẽ lan rộng và trở nên vĩ đại, dù khởi đầu nhỏ bé.

  1. Lần thứ hai đến lần thứ ba đề cập đến Giêrusalem (13,22-17,10). Dừng lại để nhắc nhở chúng ta rằng, Đức Giêsu đang trên đường đến Giêrusalem, Luca đưa ra một câu hỏi mở đầu là có bao nhiêu người sẽ được cứu. Phần này giới thiệu tài liệu về việc loại bỏ và nhận vào Nước Trời (13,22-30). Nhiều người có lẽ tuyên bố biết Đức Giêsu sẽ bị loại ra, trong khi những người ngoài khắp nơi trên thế giới sẽ được nhận vào. Việc người Pharisêu tường thuật lại việc giết người của vua Hêrôđê (13,31-33) cung cấp cho chúng ta lời giải thích việc Đức Giêsu tiếp tục lên Giêrusalem. Độc giả có lẽ vừa nghĩ rằng người Pharisêu đang trình bày sự thật vừa không tin vào động cơ của họ; vì họ có thể đã cố gắng đuổi Đức Giêsu ra khỏi đó bằng cách thúc giục Người cứu lấy mạng mình bằng cách rời khỏi Galilê. Nghịch lý thay, Đức Giêsu biết rằng việc lên Giêrusalem sẽ dẫn đến cái chết. (Hêrôđê sẽ tái xuất hiện trong phiên tòa của người Rôma khi Philatô giao Đức Giêsu cho ông xét xử.) Suy nghĩ của Đức Giêsu về thân phận của mình dẫn đến sự than trách thành Giêrusalem (13,34-35): là một ngôn sứ, Đức Giêsu sẽ chết ở đó, nhưng thành phố sẽ bị trừng phạt vì những gì nó làm với các ngôn sứ.[47]

Ba đoạn tiếp theo đặt vào bối cảnh tại nhà của một người Pharisêu nổi tiếng: ngày Sabát chữa bệnh cho một người mắc chứng phù thũng, hai bài học về cách xử trong bữa tiệc và dụ ngôn về bữa tiệc lớn (14,1-24). Việc chữa lành cho một người đàn ông gần như tạo thành một cặp song song với việc chữa lành cho một người phụ nữ trong ngày Sabát trong 13,10-17 và có nhiều thông điệp giống nhau. (Thật ra ở Qumran có lệnh cấm kéo một con vật mới sinh ra khỏi hố vào ngày Sabát, CD 11,13-14.) Bài học đầu tiên là: không chiếm chỗ nhất trong bữa tiệc, gần với cách cử xử khôn ngoan tốt lành, đặc biệt nếu mục đích được đánh giá là được vinh dự hơn trên bàn ăn (Lc 14,10). Tuy nhiên, điều đó cảnh báo chống lại danh dự bản thân. Bài học thứ hai là: mời những khách có hoàn cảnh khó khăn hơn là những người quý tộc. Điều này phù hợp với giá trị đảo ngược của Nước Trời, trong đó người nghèo quan trọng hơn người giàu. Quan điểm cánh chung được thể hiện rõ ràng ở dòng cuối cùng (14,14), trong đó sự đền bù cho cách cư xử này là lời hứa khi người công chính sống lại. Dụ ngôn về bữa tiệc lớn[48] đưa ra kết án loại bỏ những người được mời trước vì họ có những chọn lựa ưu tiên hơn lời mời gọi của Nước Trời.

Sau đó, không đề cập đến việc Đức Giêsu rời khỏi nhà người Pharisêu, Luca cho thấy Đức Giêsu nói chuyện với đám đông đi theo Người về cái giá phải trả để trở thành môn đệ (14,25-35). Đặc biệt Luca tường thuật những dụ ngôn khôn ngoan trong việc cần phải tính toán kỹ trước khi xây một ngôi nhà hoặc bắt đầu một cuộc chiến (14,28-32) – những dụ ngôn xứng đáng như là một thầy dạy khôn ngoan trong Cựu Ước. Tuy nhiên, thông điệp này rất khác với lập trường mang tính ngôn sứ về việc không nên lo lắng về những nhu cầu của cuộc sống này, được ghi khắc trước đó trong 12,22-34.

Toàn bộ chương tiếp theo bao gồm ba dụ ngôn: Con chiên lạc, Đồng bạc bị mất, Đứa con hoang đàng (15,1-32). Mt 18,12-14 đưa dụ ngôn con chiên lạc vào Bài giảng về hội thánh để trình bày cho các môn đệ;[49] Luca tường thuật dụ ngôn đó (và hai dụ ngôn khác của chính mình) cho những người Pharisêu và các kinh sư, những người phản đối việc Đức Giêsu kết thân với những người tội lỗi. Việc đề cập đến niềm vui trên Nước Trời cho thấy rằng các dụ ngôn dạy một bài học về lòng thương xót đầy yêu thương của Thiên Chúa và kịch tính hóa giá trị của những người bị người khác coi là hư mất. Trong hai phần đầu, Luca chọn một người nam và một người nữ tương ứng với vai trò như là dramatis personae (người chăn chiên, người quản gia), và tương tự như sự kết hợp giữa nam và nữ trong dụ ngôn hạt cải và nắm men ở 13,18-21. Đứa con hoang đàng nhấn mạnh đến việc người anh cả không nên ghen tị với cách đối xử nhân từ của người cha với người em tội lỗi, và điều đó phù hợp với bối cảnh cần sửa đổi thái độ của người Pharisêu đối với tội nhân. Ngoài ra, quan điểm được đưa ra trong dụ ngôn ở 15,20 rất quan trọng để hiểu khái niệm về tình thương của người Kitô hữu. Hình ảnh người cha chạy đến hôn đứa con thứ trước khi nó có thể nói lời thống hối ăn năn đã chuẩn bị sẵn có thể là một minh họa cho Rm 5,8: “Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta,” và 1 Ga 4,10: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta” (trang 533 dưới đây).

Nhiều người cảm thấy khó hiểu với dụ ngôn độc đáo của Luca về người quản lý bất lương (16,1-15) vì nó dường như khuyến khích các môn đệ làm ăn mờ ám; nhưng điều được ca ngợi là sáng kiến ​​​​mạnh mẽ khôn ngoan của người quản lý, không phải sự thiếu trung thực của ông.[50] Nhiều câu nói khác nhau về sự giàu có đã được gắn liền với dụ ngôn, nhưng nó gây tranh luận trong câu nào đầu tiên: 8b, 9 hoặc 10. Nhìn chung, chúng phục vụ cho giáo lý thần học của Luca cho rằng giàu có sẽ làm hư hỏng và rằng con đường đúng đắn để sử dụng nó bố thí cho người nghèo và rồi kết bạn với những người mà sau này khi họ vào Nước Trời, họ có thể giúp đỡ lại chúng ta. Ở phần cuối, Lc 16,14-15 chuyển sang thách đố những người Pharisêu, những người “tham tiền” và biện minh hay tự tôn mình lên trước mặt những người khác. Có lẽ lòng sùng bái của người Pharisêu đối với Lề Luật cho ta biết mối liên hệ tinh thần với những câu nói lấy từ nguồn Q theo sau về Lề Luật và việc ly dị (16,16-18). Cách giải thích câu 16 tốt nhất chính là sự xuất hiện của Gioan Tẩy Giả đánh dấu cả sự kết thúc Lề Luật và các ngôn sứ và bắt đầu rao giảng Tin mừng Nước Trời (3,1-2,18). Không có sự gián đoạn nào giữa hai thời, vì trong giáo huấn của Đức Giêsu, không một chấm một phẩy nào trong Lề Luật bị bỏ sót (c. 17). Mối liên hệ giữa câu nói về việc ly dị (câu 18) với nguyên tắc trước đó về Lề Luật là gì? Rõ ràng việc Đức Giêsu cấm ly dị không khớp với việc cho phép người đàn ông ly dị trong Đnl 24,1-4. Mặc dù Luca không đề cập đến St 1,27; 2,24 cũng như Mc 10,6-12 và Mt 19,4-9, nhưng nhờ phần tham chiếu đó (là một phần của Lề Luật) trở thành một phần cố hữu trong cách giải thích của Kitô giáo, do đó việc cấm ly dị được coi là hợp Luật? Đó là nguyên tắc của người Qumran trung thành với Lề Luật (trang 141 ở trên). Chủ đề nói về hậu quả tai hại của sự giàu có trở lại với dụ ngôn độc đáo của Luca về người giàu có và Lazarô (16,19-31).[51] Số phận khác nhau sau cái chết không dựa trên người giàu sống cuộc sống trụy lạc và Lazarô sống rất đạo đức; chúng dựa trên việc người giàu có cuộc sống sung túc và thoải mái, trong khi Lazarô nghèo đói và đau khổ (16,25). Cuộc tấn công này nhắm vào sự tham tiền của người Pharisêu (cũng là lời cảnh báo cho người Kitô hữu, chẳng hạn Cv 5,1-11) được làm sâu sắc hơn nhờ điểm thứ hai, được đưa ra ở cuối dụ ngôn. Nếu họ không nghe Môsê và các ngôn sứ, họ cũng sẽ không nghe người từ cõi chết trở về. Với độc giả của Luca, điều này có vẻ mang tính ngôn sứ, vì Công vụ Tông đồ sẽ cho thấy rằng dân chúng đã không lắng nghe ngay cả sau khi Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.

Chủ đề thay đổi khi Đức Giêsu nói với các môn đệ bốn lời cảnh báo liên quan đến cách cư xử (17,1-10). Cẩn thận trước việc gây nên cớ vấp phạm cho những người khác: nhấn mạnh đến sự tha thứ cho các đồng bạn, sức mạnh của đức tin và sự khác biệt giữa thành tựu lớn đạt được và nhiệm vụ của mình. Lời cảnh báo cuối cùng, đây là điều đặc biệt của Luca, là một thách đố thú vị: các môn đệ đi theo Đức Giêsu có thể nghĩ rằng họ đã làm một điều gì đó vĩ đại, nhưng họ phải tự nhủ rằng họ là những đầy tớ vô dụng, chỉ làm tròn bổn phận của mình.

  1. Hành trình cuối cùng lên Giêrusalem (17,11-19,27). Bắt đầu với việc chữa lành 10 người kinh phong, người Samaria biết tạ ơn (17,11-19). Đây là trình thuật độc đáo của Luca. Đức Giêsu hướng về Giêrusalem từ 9,51, và ở 9,52, các sứ giả của Người đã vào một làng Samaria trước. Tại thời điểm này trong trình thuật, Người vẫn đang đi lại trong vùng Samaria và Galilê, điều đó cho chúng ta biết lịch trình này là do tác giả dựng lên (và cũng có thể Luca không biết chính xác địa hình của Paléttin). Tuy nhiên, khung cảnh đó giải thích tại sao có một người Samaria giữa những người kinh phong. Quả thực, chỉ có một người kinh phong biết tạ ơn và nhờ đó mới nhận được ơn cứu độ. Phản ứng này tiên báo người Samaria sẽ vui vẻ đón nhận Tin mừng của Đức Giêsu trong Cv 8,1-25. Vì cuộc hành trình của Đức Giêsu sẽ sớm kết thúc khi Người rời bỏ thế gian này, nên thật thích hợp khi giờ đây Đức Giêsu nói cho người Pharisêu và sau đó cho các môn đệ của Người giáo huấn về ngày cánh chung (17,20-37). Tư tưởng này được rút ra từ nguồn Q, L, và sáng kiến riêng của Luca, nó như một dự báo và gần như là một bản song ca Bài giảng cánh chung, điều sẽ được trình bày trong chương 21. Lời giáo huấn cảnh báo: đừng để bị lừa dối, một mặt, bởi những tuyên bố giả mạo rằng Nước Trời hay Ngày của Con Người đã đến cách rõ ràng, và mặt khác, bởi lối sống thiếu suy nghĩ như thể sẽ không bao giờ bị phán xét. Các đặc điểm thú vị hơn của Luca bao gồm: Nước Thiên Chúa không thể quan sát được và đang ở giữa chúng ta (xem Vấn đề IV dưới đây); và sự phán xét không thể đoán trước sự phân biệt đối xử: chọn người này và bỏ người kia (17,31).

Trước sự phán xét này, dụ ngôn độc đáo của Luca về quan tòa bất công (18,1-8) được đưa ra để khuyến khích các môn đệ với một nguyên tắc tiên quyết. Nếu tiếp tục cầu xin thuyết phục được một thẩm phán hoàn toàn vô đạo đức, thì lời cầu nguyện kiên trì, tin tưởng của họ sẽ được Thiên Chúa lắng nghe nhiều thế nào, vì Người là Đấng minh oan cho những kẻ được chọn. Chủ đề cầu nguyện dẫn vào dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế (18,9-14). Ngoài việc bày tỏ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân, câu chuyện đặt ra vấn đề không chấp nhận lời cầu nguyện của người Pharisêu, vì ông, không công chính. Người Pharisêu không phải là kẻ giả hình; vì dù có hơi khoe khoang, nhưng họ đã sống trung thành với các điều răn của Chúa khi họ thấu hiểu chúng. Có phải vấn đề là: mặc dù ông tạ ơn Thiên Chúa, nhưng ông đã không tỏ ra cần đến Thiên Chúa, ân sủng hay sự tha thứ? Hay Đức Giêsu trong Luca có tư tưởng gần với Phaolô khi nghĩ rằng tuân giữ mọi việc được truyền thì tự nó không được nên công chính? Chẳng hạn, lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với người thu thuế bị ruồng bỏ khiến Luca thuật lại câu chuyện về lòng nhân từ của Đức Giêsu đối với trẻ nhỏ (18,15-17),[52] những người đóng vai hình mẫu khi chỉ biết dựa vào Thiên Chúa để được vào Nước Trời.

Tiếp theo, điều này cũng dẫn đến câu hỏi của vị cầm quyền: phải làmđể được sống đời đờisự giàu có có cản trở không (18,18-30). Dù bấy giờ Luca đang cẩn thận theo sát Máccô (với một ngoại lệ đáng chú ý là Luca không nói rằng Đức Giêsu “đưa mắt nhìn ông và đem lòng yêu mến”). Chủ đề này tương thích với việc Luca khăng khăng đòi bán hết của cải và phân phát cho người nghèo. Ngay cả những người tuân giữ các điều răn cũng phải được thử thách để tiến xa hơn, không chỉ đơn giản là để trở nên hoàn hảo và khoan dung hơn như trong Mt 19,21, nhưng là để được vào Nước Trời. Lc 18,29 đã thêm “vợ” vào danh sách những người sẽ bị bỏ lại (x. Mc 10,29) vì Nước Trời – có phải Luca đang nghĩ đến Phaolô trong Công vụ Tông đồ, người chưa lập gia đình không? Lc 18,30 hứa những ai từ bỏ sẽ được nhận lại “gấp bội” trong cuộc sống này – một sự đảm bảo cẩn trọng hơn so với Mc 10,30 khi nói họ sẽ được gấp trăm nhà cửa, anh chị em, v.v.. Điều mà chính Đức Giêsu sẽ từ bỏ, được nói rõ trong lời tiên báo lần thứ ba về cuộc thương khó (18,31-34). Nó gần giống với Mc 10,32-34 thậm chí đến mức tiên đoán rằng Dân ngoại sẽ khạc nhổ và đánh đòn Con Người: điều không bao giờ xảy ra trong trình thuật thương khó của Luca![53]

Chữa lành người mù khi Đức Giêsu đến gần Giêricô (18,35-43) là một biến thể của việc chữa lành người mù Báctimê khi Đức Giêsu rời Giêricô (Mc 10,46) và việc chữa lành hai người mù khi Đức Giêsu rời Giêricô (Mt 20) ,29). Có lẽ Luca đã chuyển cảnh địa lý sang việc Đức Giêsu vào thành vì tiếp theo, ông muốn giới thiệu một cảnh tượng đầy màu sắc của chính Người liên quan đến Dakêu (19,1-10) ở Giêricô. Ngoài lòng nhân từ của Đức Giêsu đối với người thu thuế bị coi là tội lỗi, câu chuyện còn minh họa thái độ của Luca đối với sự giàu có: Dakêu là một người giàu có, nhưng ơn cứu độ có thể đến với gia đình ông vì ông đã chia một nửa tài sản của mình cho người nghèo.[54] Chủ đề về việc sử dụng của cải đúng cách tiếp tục trong dụ ngôn về những nén bạc (19,11-27). Câu chuyện về nhà quý tộc đi vắng và đưa cho mỗi người đầy tớ một yến bạc, một trong các đầy tớ làm lợi được 10 yến khác, người khác làm lợi được thành năm yến, và người thứ ba chỉ giữ nguyên.[55] Giống như câu chuyện trong Mátthêu (25,14-30): nhà quý tộc trao cho ba người đầy tớ các yến bạc, lần lượt là năm, hai và một, những yến bạc này được làm lợi thành năm, hai yến khác và một yến bị giữ nguyên. Trong mỗi trường hợp, người đầy tớ cuối cùng bị trừng phạt. Trọng tâm của dụ ngôn là thách đố các môn đệ sinh lợi tất cả những gì Đức Giêsu đã mạc khải cho họ về Nước Trời. Ngoài một số điểm khác biệt so với Mátthêu có lẽ tượng trưng cho việc chỉnh sửa câu chuyện theo nguồn Q chung, Luca dường như đã đan xen một câu chuyện khác nói về một nhà quý tộc đến một đất nước xa xôi để nhận vương quyền, các công dân ghét ông và sai một sứ giả đến để cố gắng ngăn cản ông lên ngôi, nhưng ngay khi ông lên ngôi trở về và ông thảm sát bọn họ.[56] Điều này chuẩn bị cho câu chuyện Đức Giêsu bị khước từ ở Giêrusalem, chuyện Người bị đóng đinh như là Vua Do Thái, chuyện Người trở về sau phục sinh và sự hủy diệt Giêrusalem lần cuối cùng.

SỨ VỤ TẠI GIÊRUSALEM (19,28-21,38)

Vào cuối cuộc hành trình dài bắt đầu từ 9,51, Đức Giêsu đến Giêrusalem nơi Người “xuất hành;’ hoặc khởi hành trở về với Thiên Chúa sẽ diễn ra.[57] Người đã trọ qua đêm tại Bếtphaghê và Bêtania ở các vùng lân cận Giêrusalem, nhưng phần lớn hoạt động của Người ở đó sẽ tập trung vào khu vực Đền thờ, và cuối cùng, Người thực hiện diễn từ cánh chung.

  1. Tiến vào Giêrusalem và các hoạt động trong khu vực đền thờ (19,28-21,4). Chuyện Đức Giêsu vào thành Giêrusalem (19,28-38) gần giống với trình thuật của Máccô (11,1-10) nhưng chuyển đổi chủ đề từ sự cổ vũ cuồng nhiệt của những người ngoài cuộc cho triều đại mới đang đến thành việc các môn đệ ca ngợi Đức Giêsu là vua (x. Ga 12,13). Trong Lc 7,18-19, các môn đệ Gioan Tẩy Giả hỏi Đức Giêsu câu hỏi của thầy mình, “Thầy có thật là Đấng phải đến không?’‘ Bấy giờ các môn đệ Đức Giêsu xác nhận chính Người là Đấng phải đến. Luca trình bày một điệp khúc nói về sự bình an và vinh quang giống như Kinh Vinh Danh (2,14). Khi người Pharisêu muốn quở trách các môn đệ, Đức Giêsu miễn cưỡng tiên báo sự phá hủy Giêrusalem (19,39-44). Đây là một sự tiếp nối các lời cảnh báo của Luca trong 11,49-52 và 13,34-35, nhưng bây giờ khả năng sửa đổi dường như đã trở thành dĩ vãng. (Các học giả tranh luận liệu sự mô tả trong 19,43 có chính xác đến mức Luca đã viết [hoặc ít nhất là lặp lại] câu đó sau khi bị quân Rôma phá hủy thành không?) Việc Đức Giêsu khóc khi thốt ra lời tiên tri này chỉ cho độc giả Luca thấy rằng, các Kitô hữu không nên vui mừng trước sự phá hủy đó. Không như Mc 11,11-19 đặt ngày thanh tẩy Đền thờ sau khi Đức Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng như Mt 21,10-13, Luca đặt cảnh (ít bạo lực hơn) thanh tẩy Đền thờ (19,45-46) cùng ngày với Đức Giêsu vào thành Giêrusalem.[58] Nếu không như thế thì Luca bắt đầu viết phần lớn tài liệu của ông được lấy từ Máccô với những thay đổi nhỏ.

Bấy giờ Đức Giêsu bắt đầu giảng dạy hàng ngày trong khu vực Đền thờ, khơi lên vấn đề quyền bính (19,47-20,8). Trong một bản tóm tắt điển hình, Luca mô tả cách các thượng tế và các kinh sư tìm cách giết Đức Giêsu vì lời giảng dạy này; và sau đó cho biết, họ đã thất vọng thế nào do sự nổi tiếng của Người giữa “toàn dân”, điều mà họ có thể làm nhiều nhất là thách đố quyền bính của Người – một thách đố đáp lại bằng cách thách đố ngược lại quyền bính của Gioan Tẩy Giả. (Luca không cần nói cho độc giả biết quyền bính của Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa; xem 4,43.) Dụ ngôn về các tá điền xấu xa (20,9-19) có vai trò phê phán các nhà cầm quyền này (như họ nhận ra trong câu 19), vì họ đã không nộp hoa lợi vườn nho. Thật vậy, câu 18 độc đáo của Luca khiến nó trở thành một mối đe dọa, vì viên đá mà họ loại ra không chỉ trở thành viên đá góc tường của một tòa nhà mới mà còn làm bể và đè nát con người. Các nhà cầm quyền phản ứng bằng cách dò xét Đức Giêsu và tìm cách gài bẫy Người bằng một câu hỏi liên quan đến việc nộp thuế cho Xêda (20,20-26), nhưng Người khéo léo tránh né. Sau đó, người Xađốc đưa ra một chất vấn về sự sống lại (20,27-40), một nỗ lực khác nhằm làm giảm thẩm quyền giảng dạy của Đức Giêsu, nhưng câu trả lời hay của Người đã thuyết phục họ tán thành, ngay cả các kinh sư (c. 39-40). Bỏ qua câu hỏi của kinh sư trong Mc 12,28-34 về điều răn trọng nhất, Luca tiếp tục với câu hỏi của chính Đức Giêsu về con của Đavít (20,41-44). Những cuộc đối đầu này kết thúc với việc Đức Giêsu lên án gay gắt các kinh sư (20,45-47). Lời buộc tội họ “nuốt hết tài sản của các bà góa” dẫn đến câu chuyện về lễ vật của bà góa (21,1-4), mặc dù được trích lại và tóm gọn của Máccô, nhưng Luca lại gây được tiếng vang đặc biệt, vì ông ưu ái người nghèo hơn người giàu phô trương và minh họa sự cho đi những gì mình có.[59]

  1. Diễn từ cánh chung (21,5-38). Như trong Máccô/Mátthêu, sự ngưỡng mộ các công trình kiến ​​trúc của Đền thờ khiến Đức Giêsu tiên báo về việc Đền thờ sẽ bị phá hủy (21,5-6); và điều đó dẫn đến bài giảng về những dấu hiệu tận thế – một bài giảng phức tạp do Đức Giêsu cảnh báo ngày cánh chung trong 12,35-48 và đưa ra giáo huấn cánh chung trong 17,20-37. Không giống như Máccô/Mátthêu, Luca đưa bài giảng vào Đền thờ như một sự tiếp tục việc giảng dạy hàng ngày của Người ở đó (19,47; 20,1; 21,38); Luca quan tâm hơn đến những gì xảy ra với Giêrusalem, nơi tách ra khỏi những gì sẽ xảy ra trên toàn thế giới. Trong phần nội dung của bài giảng (21,7-36), một số người sẽ cho rằng 21,8-24 đề cập đến số phận của Giêrusalem và 21,25-36 đề cập đến số phận của thế giới khi Con Người đến.[60] Các ý tưởng này mang nét đặc thù của Luca: 21,12 nói về sự bắt bớ vì “danh” Đức Giêsu (x. Cv 3,6,16; 4,10; v.v.); 21,13-15 hứa ban sự khôn ngoan không thể chống lại khi ra trước tòa làm chứng (x. 7,35; 11,49; Cv 6,3,10; 7,10); 21,18 ban thêm sự tự tin cho những người theo Đức Giêsu, vì một sợi tóc trên đầu của họ sẽ không bị hư mất (x. 12,7); thay cho cảnh hoang tàn kinh khủng trong Máccô, 21,20 nói Giêrusalem bị quân đội bao vây (có phải ông đã biết những gì đã xảy ra vào năm 70 AD không?); giữa sự sụp đổ của Giêrusalem và thời cùng tận, 21,24 dường như cho phép một khoảng thời gian dài: Giêrusalem sẽ bị giày xéo “cho đến khi mãn thời của Dân ngoại”; 21,28 nói về sự cứu chuộc trong tương lai; 21,33tt. bỏ qua sự chỉ định của Máccô (13,32) rằng không ai biết được ngày hay giờ, kể cả người Con, (chủ đề mà Luca giữ lại cho đến Cv 1,7 mới nói ra nhưng không giới hạn kiến ​​​​thức của người Con); 21,34-36 là lời khuyên dùng để kết thúc bài giảng khi Đức Giêsu cảnh báo về ngày phán xét sẽ đến trên toàn trái đất. Sau phần kết thúc này, Lc 21,37-38 cung cấp một bản tóm tắt mô tả hoạt động hàng ngày của Đức Giêsu để chuyển tiếp sang trình thuật thương khó.

TIỆC LY, THƯƠNG KHÓ, CHỊU CHẾT VÀ MAI TÁNG (22,1-23,56a)

Chúng ta đã thấy rằng, khi Luca theo sát Máccô, ông làm như thế với lòng trung thực; nhưng trình thuật thương khó là một ngoại lệ. Mặc dù nhiều học giả công nhận rằng có sự phụ thuộc vào trình thuật thương khó tiền Luca tách biệt khỏi Máccô, nhưng có thể đưa ra một ví dụ hợp lý hơn về sự phụ thuộc của Luca vào Máccô mà nó pha trộn với một số truyền thống đặc biệt. Ở đây Luca có lẽ chỉ sắp xếp lại cho có thứ tự hơn những chỗ khác, có lẽ với mong muốn làm cho câu chuyện quan trọng nhất này hiệu quả hơn. Đặc biệt, cả trong cuộc thương khó và sự phục sinh, Luca đều dựa trên những truyền thống cũng đã để lại dấu vết nơi Gioan.

  1. Âm mưu chống lại Đức Giêsu, Tiệc Ly (22,1-38). Sự sắp xếp lại thứ tự đầu tiên của Luca được minh họa bằng âm mưu chống lại Đức Giêsu (22,1-6), điều mà Máccô cắt ngang để xen vào câu chuyện về sự xức dầu cho Đức Giêsu,[61] nhưng được Luca liên kết với nhau thành một. Luca giải thích rằng Satan nhập vào Giuđa (cũng Ga 13,2,27). Sau các cơn cám dỗ trong sa mạc, ma quỷ đã bỏ Đức Giêsu ra đi để đợi một thời điểm thích hợp hơn (Lc 4,13); bây giờ nó đã tiếp tục tấn công trực tiếp vào Đức Giêsu. Chúng dàn trận cùng với các thượng tế bao gồm cả các thủ lĩnh hoặc các viên chức (của Đền thờ, 22,4,52; Cv 4,1; 5,24,26), chống lại Đức Giêsu.

Phêrô và Gioan là môn đệ được chỉ định đi trước chuẩn bị cho Tiệc Ly (22,7-38), trình thuật của Luca dài gấp đôi Máccô hoặc Mátthêu. Việc Đức Giêsu mong muốn tha thiết được ăn lễ Vượt Qua này với các tông đồ của Người đã làm nồng ấm mối tương quan, đặc biệt vì giờ này đã đến (22,14-15; x. Ga 13,1). Các mệnh đề về việc Đức Giêsu không ăn hoặc uống nữa “cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa ” hoặc “cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến” (Lc 22,16.18) nâng cao tính biểu tượng cánh chung của Bữa Tiệc Ly nhưng lại không rõ ràng trong mức độ tham khảo chính xác của chúng. (Trong Lc 24,30-31, sau khi sống lại, Đức Giêsu bẻ bánh với các môn đệ, điều này có thể được coi là một hình thức cho thấy Nước Trời sắp đến.) Một vấn đề thậm chí còn lớn hơn được trình bày bởi Luca cho rằng Đức Giêsu nói về chén hai lần. (22,17-18 và 20), trước và sau khi Người nói về bánh.[62] Có lẽ chén thứ nhất Luca mô tả về bữa ăn Vượt Qua thông thường (22,15-18), trong khi chén thứ hai trước khi bẻ bánh, Luca mô tả về Thánh Thể (22,19-20). Ý sau giống với phần mô tả Thánh Thể của Mc 14,22-24, Mátthêu 26,26-28, nhưng có sự khác biệt được in nghiêng sau đây: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” (giống với 1 Cr 11,24: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy“), và không phải “máu giao ước” nhưng là “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (phần đầu giống như 1 Cr 11,25). Vì vậy, có thể có hai truyền thống về Bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu, một truyền thống được lưu giữ trong Máccô/Mátthêu, truyền thống kia trong Phaolô và Luca. Lễ Vượt Qua có chủ đề tưởng nhớ (anamnēsis), “Để mọi ngày trong đời anh (em), anh (em) nhớ ngày ra khỏi đất Ai-cập” (Đnl 16,3), nhưng đối với các Kitô hữu, điều này được chuyển sang tưởng nhớ Đức Giêsu. Các mệnh đề của Luca nói rằng Mình và Máu hiến tế hoặc đổ ra “vì anh em”[63] nhấn mạnh đến cứu độ học về cái chết của Đức Giêsu và về Thánh Thể.

Máccô và Mátthêu trình bày ba lời tiên báo về số phận của các môn đệ: một (liên quan đến Giuđa) được đưa ra trong Bữa Tiệc Ly, hai (liên quan đến con người của các môn đệ và Phêrô) được đưa ra trên đường lên Núi Ôliu. Lời tường thuật “tuần tự” hơn của Luca đặt cả ba lời tiên báo vào Bữa Tiệc Ly (Gioan cũng vậy). Lời tiên báo về việc Giuđa nộp Đức Giêsu (22,21-23) về cơ bản là lặp lại Mc 14,18-21, ngoại trừ trong Máccô, nó được đặt trước trình thuật Thánh Thể.[64] Lời tiên báo về con người của các môn đệ hay Tông đồ (Lc 22,24-30) được biên soạn và thích ứng từ Máccô và nguồn Q; những tiên báo này mang đặc điểm rất Luca về lòng nhân từ. Để phản ứng lại cuộc tranh cãi của họ xem ai là người lớn nhất trong họ, Đức Giêsu khen ngợi họ vì lòng trung thành của họ đối với Người qua các thử thách của Người và hứa cho họ được đồng bàn với Người trong Nước Trời và ngồi trên ngai để xét xử 12 chi tộc. Điều này hầu như trái ngược với lời tiên báo trong Mc 14,27 rằng, mọi người sẽ vấp phạm và tan tác; và thực sự, không giống như Máccô, Luca không bao giờ mô tả chuyện chạy trốn của các môn đệ khi Đức Giêsu bị bắt. Tương tự, Lc 22,31-34 là phần dẫn nhập độc đáo chỉnh lại lời tiên báo về tội chối Thầy ba lần của Phêrô; vì giữa nỗ lực của Satan để sàng tất cả các Tông đồ như sàng gạo, Đức Giêsu hứa sẽ cầu nguyện cho Simôn (Phêrô) để đức tin của ông không bị lung lay. Khi trở lại, ông phải củng cố “anh em” của mình (các Tông đồ khác, tất cả các tín hữu, hay cả hai?). Riêng với Luca cũng vậy, cuộc đối thoại dẫn đến khẳng định rằng các Tông đồ có hai thanh gươm (22,35-38). Điều kiện thực hiện sứ mệnh truyền giáo không cần mang theo gì (như trong 10,4 – sứ mệnh của nhóm 72 môn đệ) nay đã thay đổi; mọi người cần chuẩn bị sẵn sàng, có ví, bao bị, hoặc gươm, vì Đức Giêsu sẽ bị kể vào số những kẻ phạm pháp. Các Tông đồ đã hiểu sai ngôn ngữ tượng trưng, ​​và Đức Giêsu trả lời “đủ rồi” khi họ báo cáo họ đã có hai thanh gươm.[65]

  1. Cầu nguyện và Bị bắt trên Núi Ôliu, Phiên tòa Do Thái và Rôma (22,39-23,25). Luca không tường thuật cuộc đối thoại trên đường đi từ Bữa Tiệc Ly đến một nơi theo thói “quen” (xem Ga 18,2) trên núi đối diện Giêrusalem, nơi Đức Giêsu cầu nguyện và bị bắt (22,39-53). Luca đơn giản hóa mô tả kịch tính của Máccô về sự xa lạ giữa Đức Giêsu với các môn đệ. Không có chuyện Đức Giêsu tách ra khỏi các môn đệ, rồi khỏi Phêrô, Giacôbê và Gioan trong từng giai đoạn, để đi một mình; cũng không có mô tả nào về cảm xúc của Đức Giêsu và việc Người ngã xuống đất. Với sự điềm tĩnh, Đức Giêsu trong Luca quỳ xuống cầu nguyện (một tư thế quen thuộc với các Kitô hữu, Cv 7,60; 9,40; 20,36; 21,5); Người chỉ cầu nguyện một lần (không phải ba lần) và thấy các môn đệ chỉ ngủ một lần (và sau đó hết “buồn phiền”). Nếu 22,43-44 (sự xuất hiện của một thiên sứ ở với Đức Giêsu) được viết bởi tác giả chứ không phải được thêm vào bởi một người sao chép sau này (xem BDM 1.179-86), thì Luca khác với Máccô/Mátthêu bởi lời cầu nguyện của Đức Giêsu đã được trả lời, một chút minh họa về sự gần gũi của Đức Giêsu với Chúa Cha trong Luca. Trong Máccô/Mátthêu, sau khi Đức Giêsu bị ma quỷ cám dỗ bốn mươi ngày trong sa mạc, các thiên sứ đã phục vụ Người. Luca đã bỏ qua điều đó; nhưng giờ đây, một thiên sứ đã thêm sức cho Đức Giêsu, khiến Người sẵn sàng bước vào cám dỗ hoặc thử thách lần thứ hai và lớn hơn.

Những lời của Đức Giêsu trong khi bị bắt cho thấy rằng Người biết ý định xấu đằng sau việc Giuđa hôn Người (Lc 22,48). Bắt đầu cuộc thảo luận về gươm giáo trong Bữa Tiệc Ly, chứng tỏ các môn đệ liên tục hiểu lầm Người khi hỏi về việc dùng gươm đánh trả. Câu hỏi này khiến Đức Giêsu bảo họ đủ rồi; lời khuyên mà Luca truyền lại cho các Kitô hữu đang phải đối mặt với sự bắt bớ vào thời của họ. Một mình giữa các Tin mừng, Luca tường thuật các thượng tế tự đến Núi Ôliu; và Đức Giêsu nhắc họ nhớ lại việc Người giảng dạy hàng ngày trong Đền thờ để chất vấn họ sao không dùng lực lượng vũ trang để bắt Người (x. việc Anna thẩm vấn Đức Giêsu trong Ga 18,20). Thần học của Luca về bối cảnh được diễn đạt trong 22,53: Giờ này thuộc quyền lực của bóng tối. Tuy nhiên, ngay cả trong giờ phút tuyệt vọng này, lòng thương xót của Đức Giêsu được thể hiện khi (chỉ có trong Luca) Người dừng lại để chữa lành tai phải của tên đầy tớ vị thượng tế đến bắt Người.

Trong Máccô/Mátthêu và trong Gioan, việc Phêrô chối Đức Giêsu được chèn vào (theo những cách khác nhau) với cảnh đêm tối khi Đức Giêsu đứng trước mặt nhà cầm quyền Do Thái; Sự cẩn trọng của Luca khiến ông đặt lời chối bỏ của Phêrô (22,54-62) lên hàng đầu, trước phiên tòa của người Do Thái, với kết quả là Đức Giêsu hiện diện trong sân trong khi Phêrô chối Người. Giây phút cảm động khi Chúa quay lại nhìn Phêrô để nhắc lại lời hứa trong Bữa Tiệc Ly rằng: Đức Giêsu sẽ cầu nguyện cho Simôn Phêrô để ông khỏi mất đức tin. Luca cũng đặt cảnh tối tăm trong sân khi người Do Thái nhạo báng Đức Giêsu (22,63-65) và tường thuật việc đó do những người giam giữ Người làm, trong khi Máccô/Mátthêu đưa việc này vào lúc kết thúc phiên tòa của người Do Thái và được các thành viên Thượng Hội Đồng thực hiện. Sự sắp xếp lại này cho thấy Luca đơn giản hóa việc trình bày phiên tòa Do Thái (22,66-71)[66] và đặt tất cả vào buổi sáng. Các thượng tế chất vấn Đức Giêsu xem Người có phải là Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa hay không; nhưng lời chất vấn này được chia thành hai phần và câu trả lời trực tiếp cho phần đầu tiên bị bỏ qua vì họ không tin – những đặc điểm được tìm thấy trong Ga 10,24-25,33,36.

Trình thuật của Luca về phiên tòa ở Rôma (23,1-25) khác hẳn với Máccô. Một loạt cáo buộc được đưa ra cho Philatô: Đức Giêsu đang sách động dân, ngăn cản việc nộp thuế cho Xêda và tự xưng là vua Mêsia. Luca biết khuôn khổ của các phiên tòa Rôma (x. những lời buộc tội được đưa ra trong phiên tòa xét xử Phaolô trong Cv 24,5-9), và ông đang làm cho truyền thống về Đức Giêsu phù hợp với khuôn khổ đó. Lc 23,4,14,22 kịch tính hóa sự vô tội của Đức Giêsu, vì ba lần Philatô nói rằng ông không thấy Người có tội gì – xem ba lần trong Ga 18,38; 19,4.6 nơi Philatô không tìm thấy lý do nào chống lại Đức Giêsu. Không chỉ Luca (23,6-12) nói rằng Philatô gửi Đức Giêsu đến cho Hêrôđê và ông ta đã chất vấn và chế nhạo Người – một sự liên tục trong tài liệu đặc biệt về Hêrôđê (9,7-9; tr. 267 dưới đây), mà còn có một đoạn ​​song song báo trước phiên tòa trong Cv 25-26, nơi quan tổng trấn Rôma là Phétô bối rối giao Phaolô cho vua Hêrôđê Ácríppa II để thẩm vấn. Trong cả hai trường hợp (Lc 23,15; Cv 26,32), bị cáo được trả lại cho quan tổng trấn mà không bị kết tội. Luca đặc biệt nhận xét rằng sự hiện diện của Đức Giêsu trước mặt Philatô và Hêrôđê đã hàn gắn mối hiềm khích đã tồn tại giữa họ. Đức Giêsu, Đấng đã chữa lành rất nhiều người trong sứ vụ công khai, tiếp tục chữa bệnh trong suốt cuộc thương khó. Sau khi Đức Giêsu trở lại, Philatô hai lần cố gắng thả Người, thậm chí còn đưa ra hình phạt nhẹ hơn là đánh đòn; nhưng cuối cùng ông trao nộp Đức Giêsu “theo ý họ muốn” (Lc 23,25). Điều đó được thực hiện mà không cần Luca ghi lại cảnh binh lính Rôma đánh đòn và nhạo báng Đức Giêsu trong ba Tin mừng khác.[67] Sự bỏ sót đó có phải do ông không thích lặp lại vì Đức Giêsu đã bị chế nhạo trước mặt Hêrôđê không?

  1. Chặng Đường Thánh Giá, Đóng Đinh, Mai Táng (23,26-56). Nâng cao Con đường thập giá (23,26-32) sau câu chuyển tiếp được thấy trong các Tin mừng khác, Luca xây dựng nên một kịch bản mang tính bản lề trong cấu trúc cái chết của Đức Giêsu. Ở đây, ngay trước khi Đức Giêsu chịu đóng đinh, Luca lập một nhóm có Simôn người Kyrênê, đám đông dân chúng và “chị em thành Giêrusalem”; trong 23,47-49, ngay sau khi Đức Giêsu chịu chết trên thánh giá, Luca lập một nhóm khác có viên đại đội trưởng Rôma, đám đông và những người phụ nữ từ Galilê – một bộ ba, với việc đóng đinh trên thập giá nằm ở trung tâm và nhóm ba đảng phái ủng hộ Đức Giêsu vây quanh hai bên. Luca cho rằng khi Đức Giêsu sinh ra, có nhiều người Do Thái đã tiếp đón Người một cách ưu ái; Luca khẳng định rằng, điều này cũng đúng như vậy khi Đức Giêsu chịu chết, ngay bây giờ một Dân ngoại cũng đã tham gia vào cảnh này. Tiếng vọng lại từ Cựu Ước, những lời cảnh báo của Đức Giêsu cho các thiếu nữ đang khóc ở Giêrusalem (23,28-32) tượng trưng cho chủ đề tiếp tục, theo đó, Đức Giêsu miễn cưỡng công bố số phận của thành Giêrusalem sẽ bị niêm phong (19,41-44) – bất chấp sự hiện diện của một số người có thiện cảm. Người chỉ định rõ “các ngươi và con cháu các ngươi” nhận lấy gánh nặng của thảm họa sắp tới được đặt lên vai một thế hệ khác.

Luca cũng định hình lại các biến cố mà đỉnh điểm là cái chết trên thập giá (23,33-46). Chỉ trong Luca, Đức Giêsu mới lên tiếng vào lúc chịu đóng đinh. Một số bản chép tay của Luca thiếu những lời Đức Giêsu trong 23,34a: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (BDM 2.971-81); nhưng thêm phần tha thứ vào phù hợp với cách nhìn của Luca cách đáng khâm phục. Máccô mô tả ba nhóm người nhạo báng Người trên thập giá trước khi Người chịu chết: những người qua đường, các thượng tế và hai người cùng bị đóng đinh. Sau khi tách nhóm người đến để xem, Luca lập nhóm bộ ba chế giễu bao gồm: các nhà cầm quyền, lính tráng và một trong những kẻ cùng bị đóng đinh. Cảnh độc đáo của người cùng chịu đóng đinh trong 23,40-43 là một kiệt tác của thần học Luca. Lòng quảng đại của Đức Giêsu vượt xa những gì tên trộm lành[68] yêu cầu, và ông ta trở thành người đầu tiên được lên Thiên đàng! Lời cuối cùng đầy tin tưởng và chắc chắn của Đức Giêsu trên thập giá: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (23,46) hoàn toàn khác với tiếng khóc thảm thiết của Đức Giêsu khi bị bỏ rơi trong Máccô. Tất cả các dấu hiệu tiêu cực đi kèm với việc đóng đinh, bao gồm cả việc bức màn trong Đền thờ bị xé ra làm đôi trước khi Đức Giêsu chịu chết. Do đó, kết quả tích cực và tính cứu độ của cái chết đã trở nên rõ ràng.

Để minh họa cho những kết quả đó, Luca thuật lại phản ứng của ba nhóm liên quan đến cái chết của Đức Giêsu, rồi đến việc Mai Táng (23,47-56). Viên  đại đội trưởng Rôma gia nhập nhóm làm chứng của Hêrôđê, Philatô, và một kẻ tội lỗi cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu, Đấng công chính và không làm điều gì sai trái. Đám đông tỏ ra buồn phiền. Các nữ tín hữu đứng xa xa chứng kiến; và họ sẽ là cầu nối với tương lai, vì họ cũng chứng kiến việc mai táng[69] và đi đến mồ. Điểm nhấn cuối cùng là cho chúng ta biết các phụ nữ cũng giữ Luật Sabát. Luca đã khẳng định chắc chắn rằng vào ngày Đức Giêsu sinh ra, mọi việc đều tuân theo Lề Luật; từ đầu đến cuối, Đức Giêsu đều sống trong khuôn khổ của đạo Do Thái.

SỐNG LẠI VÀ HIỆN RA TẠI GIÊRUSALEM (24,1-53)[70]

Luca đi chệch hướng chỉ định của Máccô, người nói rằng Đức Giêsu sống lại và sẽ hiện ra tại Galilê, và tập trung ba cảnh hiện ra của Người xung quanh Giêrusalem. Điều này làm cho trình tự cuộc thương khó chặt chẽ hơn. Vì vậy, quan trọng hơn, Luca có thể kết thúc Tin mừng ở nơi nó khởi đầu, đó là thành phố biểu tượng cho đạo Do Thái.

  1. Tại Ngôi Mộ Trống (24,1-12). Mặc dù Luca theo Mc 16,1-8, nhưng ông đã sửa đổi nó rất nhiều, thêm vào những lời giải thích rõ ràng (c. 3, khi các phụ nữ bước vào, họ không tìm thấy thi hài của Chúa), một câu hỏi gay cấn (c. 5, “Sao các tìm Người sống giữa kẻ chết?“), và những sự thích nghi (c. 6, không phải hiện ra tại Galilê mà là nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói ở đó; và câu 9: các bà không im lặng mà kể lại mọi điều này cho tất cả những người ở nhà). Luca có truyền thống riêng về sự hiện diện của Susanna (vợ của Khuda, 8,3). Thực sự câu chuyện mới lạ thường ở câu 12 thật đáng ngờ khi tường thuật rằng, dù không tin các bà, nhưng Phêrô đã chạy đến mồ, chỉ nhìn thấy những tấm vải liệm, và kinh ngạc trở về nhà. Nó rất giống với những gì được thuật lại trong Ga 20,3-10 (tuy nhiên không có môn đệ mà Đức Giêsu yêu mến). Sau lần viếng mộ này của các bà, Luca nhiều lần đề cập đến điều này trong 24,24 thật khó hiểu: “Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ.”
  2. Hiện ra trên đường đi Emmau (24,13-35). Trình thuật này xuất hiện rất dài và kịch tính hoàn toàn phù hợp với Luca, dù nó được lặp lại trong Phụ lục Máccô (16,12-13). Có một số kỹ thuật kể chuyện hay, chẳng hạn, các môn đệ hy vọng trong thất vọng rằng lẽ ra Đức Giêsu là Đấng cứu độ; Đức Giêsu giả vờ như muốn đi xa hơn. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố gây tò mò, chẳng hạn, một làng Emmau cách Giêrusalem 60 stadia (bảy dặm) không dễ xác định; chúng ta không biết Cleopas này là ai huống gì người bạn đồng hành giấu tên của ông; thật khó để tính làm sao có thể phân chia thời gian vào cuối ngày (các câu 29.33); cuối cùng Luca (c. 34) không cho chúng ta biết hoàn cảnh của việc hiện ra với Simôn (Phêrô) diễn ra trước chiều tối ngày hôm đó.[71] Thông thường, Luca cho rằng trình thuật đầu tiên về việc hiện ra sẽ xảy ra trong cuộc hành trình; và cũng như trong cuộc hành trình dài đến Giêrusalem, trong 24,27, Đức Giêsu cũng có một mặc khải quan trọng cho các môn đệ, Người viện dẫn toàn bộ Kinh Thánh để giải thích những gì Người đã làm với tư cách là Đấng Mêsia. Trong sách Công vụ, các Tông đồ sẽ làm điều này, và Luca muốn các Tông đồ sử dụng Kinh Thánh như mặc khải do Đức Giêsu ban cho. Tuy nhiên, dù tâm hồn các môn đệ bừng sáng khi Đức Giêsu giải thích cho họ ý nghĩa của Kinh Thánh, nhưng họ chỉ nhận ra Người khi Người bẻ bánh. Điều này chuẩn bị cho việc bẻ bánh (Thánh Thể) trong Cộng đoàn Kitô hữu được mô tả trong Công vụ Tông đồ[72] và (cùng với các bữa ăn sau phục sinh khác) rất có thể là nguồn gốc của niềm tin Kitô giáo vào sự hiện diện của Chúa phục sinh trong tiệc Thánh Thể.
  3. Hiện ra tại Giêrusalem và Lên trời (24,36-53). Như trong Gioan (và dường như trong Phụ lục của Mc 16,14-18), lần hiện ra đầu tiên cho các môn đệ tụ họp trong Luca (24,36-49) được diễn ra tại Giêrusalem vào buổi tối của ngày phục sinh. Trong cả Luca và Gioan (20,19-29), người ta tìm thấy những nét đặc trưng này: Đức Giêsu đứng giữa họ và phán, “Bình an cho anh em”; có đề cập đến vết đinh của Đức Giêsu (tay và chân trong Luca, tay và cạnh sườn trong Gioan); và sứ mệnh do Đức Giêsu trao bao gồm: tha thứ tội lỗi và vai trò của Thánh Thần (rõ ràng trong Gioan, được chỉ định một cách tượng trưng là “điều Cha Thầy đã hứa” trong Luca). Luca đặc biệt nhấn mạnh vào thực tại sự hiện ra của Đức Giêsu, vì Đức Giêsu ăn thức ăn và khẳng định rằng Người có thịt và xương. (Khi đề cập đến thân thể phục sinh, Phaolô nói đến thân thể có thần khí chứ không phải xác thịt và khí huyết [1 Cr 15,44.50].) Đức Giêsu cũng giải thích Kinh Thánh cho các môn đệ này – một dấu chỉ cho thấy đây là nền tảng cho bất kỳ sự hiểu biết nào về những gì Thiên Chúa đã làm trong Người. Ở đây, sự mặc khải bao gồm một sứ mệnh (xem Mt 28,18-20;[73] Ga 20,22-23), một sứ mệnh cho tất cả các dân tộc bắt đầu từ Giêrusalem mà một chương trình chi tiết hơn sẽ được đưa ra trong Cv 1,8. Đức Giêsu ủy thác cho các môn đệ sứ mệnh làm chứng về những điều đã xảy ra với Người để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. Luca đã hứa ở phần đầu của Tin mừng rằng lời tường thuật tuần tự của ông dựa trên những điều của các chứng nhân chứng kiến ​​và những nhà truyền giáo đầu tiên truyền lại; rồi sau đó, rõ ràng ông nghĩ rằng các môn đệ đã hoàn thành sứ mệnh của họ.

Cuộc hiện ra kết thúc với cảnh lên trời (24,50-53)[74] khi Đức Giêsu đi đến Bêtania, chúc phúc cho các môn đệ và được cất lên trời. Sau đó, các môn đệ hân hoan trở về Giêrusalem và Đền thờ, ngợi khen Thiên Chúa. Cảnh lên trời này, diễn ra vào đêm Chúa nhật Phục sinh, kết thúc câu chuyện Tin mừng Đức Giêsu. Tin mừng bắt đầu trong Đền thờ khi một thiên thần từ trời ngự xuống với Dacaria; bằng phép đóng khung, Tin mừng kết thúc trong Đền thờ khi Đức Giêsu lên trời.

NGUỒN VĂN VÀ ĐẶC ĐIỂM BIÊN SOẠN

Tác giả thừa nhận các nguồn: “Các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa” đã truyền lại những gì đã xảy ra, và nhiều người đã ra công soạn thảo bản tường thuật (1,1-2). Tin mừng thường hướng về Công vụ; và định hướng đó ảnh hưởng đến cách Luca xử lý các nguồn của mình. Ví dụ, trong khi Mátthêu đưa trình thuật của mình vào sứ vụ của Đức Giêsu để nâng cao kiến thức về Kitô học, chẳng hạn như qua lời tuyên xưng của các môn đệ và Phêrô về Đức Giêsu như là Con Thiên Chúa, thì Luca lại trì hoãn nói về những lời tuyên xưng như vậy cho đến khi các Tông đồ rao giảng Công vụ. Sự căng thẳng trong các cuộc hành trình của Phaolô trong Công vụ Tông đồ ảnh hưởng đến Lc 9,51 và 19,28-29 trong việc sử dụng các dấu chỉ hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem trong Mc 10,1,32; 11,1 để hình thành cái khung 10 chương (Lc 9,51-19,27), làm cho cuộc hành trình này trở thành bối cảnh cho hầu hết giáo huấn của Đức Giêsu. Đôi khi, việc tiên đoán về Công vụ cũng ảnh hưởng đến thứ tự của tài liệu, chẳng hạn như khi tổng trấn Rôma Philatô giới thiệu Đức Giêsu cho Hêrôđê để quyết định, thậm chí như trong Cv 25, tổng trấn Rôma Phéttô giao Phaolô cho (Hêrôđê) Ácríppa để quyết định. Với Mátthêu, chúng tôi sẽ nghiên cứu hai nguồn đầu tiên: Máccô và Q, trong đó người ta có thể nói một cách chắc chắn hơn, và rồi sau đó nói về tài liệu biên soạn khác.

BẢNG 4. LUCA SỬ DỤNG MÁCCÔ

Tài liệu từ Máccô trong Luca

Mc 1,1-15            = Lc 3,1-4,15

 

Mc 1,21-3,19 = Lc 4,31-44; 5,12-6,19

 

Mc 4,1-6,44         = Lc 8,4-9,17

Mc 8,27-9,40       = Lc 9,18-50

 

Mc 10,13-13-32 = Lc 18,15-43; 19,29-21,33

Mc 14,1-16,18     = Lc 22,1-24,12

Phần Luca thêm vào

 

4,16-30 (ở Nadarét)

5,1-11    (đánh bắt cá)

6,20-8,3 (thêm ít)

 

 

 

6,51-18,14 (thêm nhiều)

 

19,1-28 (Dakêu, dụ ngôn)

(a) MÁCCÔ.[75] Tài liệu lấy từ Máccô chiếm khoảng 35% trong Luca. Theo quan điểm của đa số học giả, Luca đã có bản văn của Máccô trước mặt, dù một số người đặt vấn đề, xét về mọi chi tiết, liệu hình thức văn chương của Luca có giống với Máccô mà Mátthêu đã sử dụng hay không. Quy trình của Luca là tuân theo thứ tự của Máccô và tiếp nhận dữ liệu của Máccô với khối lượng lớn. Lưu ý rằng Luca bỏ qua hai phần của Máccô liên tiếp: “Bỏ Qua Nhiều” đoạn Mc 6,45-8,26 (từ sau lần hóa bánh đầu tiên cho đến lần thứ hai) và “Bỏ Qua Ít” đoạn Mc 9,41-10,12 (những cám dỗ phạm tội, giáo huấn về ly dị). Lý do cho việc bỏ qua này không hoàn toàn rõ ràng; nhưng các yếu tố có thể là do, ngoài sở thích thần học của Luca,[76] ông còn muốn tránh lặp lại và đưa tài liệu vào bối cảnh địa lý đã được lên kế hoạch trong câu chuyện.

Mặc dù nói chung, Luca khá trung thành với Máccô, nhưng ông đã thực hiện những thay đổi giúp chúng ta có thể phát hiện ra tư tưởng và khuynh hướng của Luca. Trong phần tiếp theo, những thay đổi đặc trưng hơn do Luca thực hiện được liệt kê với một số ví dụ về từng thay đổi.

  • Luca cải thiện tiếng Hy Lạp, ngữ pháp, cú pháp và từ vựng của Máccô. Ví dụ, trong 4,31.38 và chỗ khác, Luca bỏ đi từ bị lạm dụng “ngay lập tức” trong Máccô; trong 20,22 thay đổi một từ Latinh như kensos (= thuế) của Mc 12,14; trong 20,23, thay từ “mưu mô, phản bội” chính xác hơn cho từ “sự giả hình” của Mc 12,15.
  • Luca nói ngay từ đầu ý định của mình là tra cứu cẩn thận và tuần tự (1,3); theo đó, ông tái sắp xếp tuần tự của Máccô để hoàn thành mục tiêu đó, ví dụ, Đức Giêsu bị khước từ tại Nadarét được đặt vào sứ vụ mở đầu tại Galilê chứ không phải sau một thời gian (Lc 4,16-30 so với Mc 6,1-6) để giải thích lý do tại sao sứ vụ tại Galilê của Người lấy Caphácnaum làm trung tâm; việc chữa bệnh cho mẹ vợ ông Simôn trước lúc kêu gọi Simôn và các bạn (4,38-5,11 so với Mc 1,16-31) để cho lôgíc hơn về việc Simôn sẵn sàng theo Đức Giêsu; việc Phêrô chối Đức Giêsu xảy ra trước phiên tòa Thượng Hội Đồng thay vì chèn vào giữa hai điều này cách phức tạp như Máccô. Đôi khi sự sắp xếp tuần tự của Luca cho thấy tránh lặp lại của Máccô (Luca không tường thuật việc hóa bánh lần thứ hai) trong khi Mátthêu thích lặp lại các đặc điểm và nhân vật. Tuy vậy, Luca tường thuật hai lần Đức Giêsu sai các Tông đồ/môn đệ (9,1-2; 10,1).
  • Do những chỉnh sửa tài liệu nhận được từ Máccô, Luca đôi khi tạo ra sự không trung tín. Ví dụ, dù trong Lc 5,30, các đối tác đối thoại là “những người Pharisêu và những kinh sư” trong khi 5,33 nói về “môn đệ người Pha-ri-sêu” như thể người Pharisêu không có mặt; mặc dù trong 18,32-33, Luca tiếp trích lại của Máccô lời tiên báo Đức Giêsu sẽ bị Dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và khạc nhổ, nhưng Luca (không giống như Mc 15,16-20) không bao giờ cho ứng nghiệm lời tiên báo đó; Luca đã thay đổi thứ tự của Máccô về sự chối bỏ của Phêrô và sự nhạo báng của người Do Thái dành cho Đức Giêsu nhưng lại quên điền tên riêng của Đức Giêsu vào trình tự mới, do đó, lúc đầu, Lc 22,63 đã xấu hỗ khi để “Người” bị chế nhạo và đánh đập, dường như đề cập đến Phêrô, không phải Đức Giêsu. Xem thêm ghi chú 67 ở trên.
  • Thậm chí hơn cả Mátthêu, Luca lờ đi hoặc thay đổi những đoạn trong Máccô không có lợi cho những người mà sự nghiệp sau này khiến họ đáng được tôn trọng. Ví dụ, Luca bỏ qua Mc 3,21.33.34 và (trong 4,24) thay đổi Mc 6,4 để tránh những tham chiếu gây bất lợi cho gia đình của Đức Giêsu; Luca bỏ qua Mc 8,22-26, đoạn này kịch tính hóa việc các môn đệ chậm tin, và Mc 8,33 nơi Đức Giêsu gọi Phêrô là “Satan”; trong cuộc thương khó, Luca bỏ qua sự vấp ngã đã được tiên báo về các môn đệ, việc Đức Giêsu thấy họ đang ngủ ba lần và chạy trốn hết như được thuật lại trong Mc 14, 27.40-41.51-52.
  • Suy tư nhạy bén về Kitô học, Luca tỏ ra tôn kính Đức Giêsu hơn và tránh những đoạn có thể khiến Người có vẻ xúc động, gay gắt hoặc yếu đuối, ví dụ, Luca bỏ qua Mc 1,41.43 nơi Đức Giêsu động lòng trắc ẩn hoặc nghiêm khắc; Mc 4,39, nơi Đức Giêsu nói trực tiếp với biển; Mc 10,14a, nơi Đức Giêsu phẫn nộ; Mc 11,15b, nơi Đức Giêsu lật đổ bàn của những người đổi tiền; Mc 11,20-25, nơi Đức Giêsu nguyền rủa cây vả; Mc 13,32, nơi Đức Giêsu nói rằng người Con không biết ngày hay giờ; Mc 14,33-34, nơi Đức Giêsu bối rối và linh hồn Người buồn đến chết; Mc 15,34, nơi Đức Giêsu nói về việc Thiên Chúa từ bỏ Người.
  • Luca nhấn mạnh đến sự từ bỏ của cải,[77] không chỉ trong tài liệu đặc biệt của Luca (L), như chúng ta sẽ thấy dưới đây, mà còn trong những thay đổi mà ông làm trong Máccô. Chẳng hạn, các tín hữu theo Đức Giêsu trong Luca từ bỏ mọi sự (5,28), và Nhóm Mười Hai bị cấm mang dù chỉ là một cây gậy (9,3).
  • Luca loại bỏ những tên và những chữ Aram được phiên âm của Máccô (thậm chí một số tên Mátthêu đưa vào) có lẽ vì chúng không có ý nghĩa đối với khán giả dự định. Ví dụ, lược bỏ Boanerges, Gethsemane, Golgotha, Eloi, Eloi, lama sabachthani.[78]
  • Luca có thể làm cho thông tin trong Máccô chính xác hơn, có lẽ để câu chuyện trôi chảy hơn, hiệu quả hơn hoặc rõ ràng hơn. Ví dụ, Lc 6,6 xác định rằng cảnh tiếp theo (Mc 3,1, “lại”) diễn ra “Một ngày Sabát khác”; Lc 6,6 chỉ định “tay phải” và 22,50 “tai bên phải”; Lc 21,20 làm rõ hoặc thay thế “Đồ-Ghê-Tởm-Khốc-Hại” trong Máccô.

(b) NGUỒN Q. Tài liệu lấy từ Q chỉ chiếm hơn 20% của Luca; nó thêm một giọng điệu đạo đức mạnh mẽ vào việc miêu tả chân dung Đức Giêsu. Không giống như Mátthêu quay quanh tài liệu Q để tạo thành năm bài giảng hoặc diễn từ quan trọng, Luca được cho là đã lưu truyền trình tự phần lớn tài liệu gốc Q (Bảng 2 ở trên). Đôi khi, cộng đồng Luca chèn tài liệu Q vào một đoạn vay mượn từ Máccô. Ví dụ, giáo huấn của Gioan Tẩy Giả (3,7-9, l6c-l8) trong đoạn đầu tiên miêu tả Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, hầu hết tài liệu Q, Luca chèn vào hai vị trí, nơi ông mở ra trình tự Máccô (Bảng 4 ở trên). Cụ thể là, một phần tài liệu Q nhỏ hơn trong 6,20-8,3 như là Phần Thêm Ít và một phần lớn hơn nội dung của tài liệu Q trong 9,51-18,14, Phần Thêm Nhiều (được miêu tả là một phần trong hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem). Trong cả hai trường hợp, Luca trộn nó với tài liệu khác có nguồn gốc không phải Máccô. Như chúng ta đã thấy trong phần Phân Tích Tổng Quát, để suy tư theo quan điểm thần học của riêng mình, Luca đã sửa đổi tài liệu Q theo nhiều cách. Tuy nhiên, vì chúng ta không sở hữu Q, nên thường rất khó để biết liệu Mátthêu hay Luca đã sửa đổi. Các dụ ngôn về bữa yến tiệc và các nén bạc, trong đó hai trình thuật khác nhau rất nhiều (Mt 22,2-10; 25,14-30 so với Lc 14,16-24; 19,12-27), cho thấy khó để biết chính xác Luca đã thêm những gì vào.

(c) TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT CỦA LUCA (thường được ký hiệu là L). Từ một phần ba đến 40% của Luca không dựa trên Máccô hoặc Q. Với sự chân nhận của tác giả về các nhân chứng hay thừa tác viên Lời Chúa ban đầu và của nhiều tác giả đã đảm nhận việc sưu tập các câu chuyện theo tuần tự (Lc 1,1), thì không có gì đáng ngạc nhiên khi các học giả thừa nhận những truyền thống và nguồn riêng của Luca – thậm chí còn nhiều hơn những nguồn riêng của Mátthêu. Tuy nhiên, có hai khó khăn lớn khi chúng ta xem xét tỷ lệ phần trăm Tin mừng không được tìm thấy trong Máccô hoặc Q. Thứ nhất, vì Luca là một người giỏi biên tập lại nên rất khó quyết định bao nhiêu phần trăm tài liệu tác giả tự biên, và bao nhiêu phần trăm tác giả lấy từ các truyền thống và các nguồn đã được định hình sẵn. Thứ hai, nơi tác giả tiếp nhận tài liệu: không dễ để phân biệt các truyền thống tiền Luca với các nguồn có thể tiền Luca (Trong phần Dẫn nhập này, L được hiểu là bao gồm cả hai.) Trang 232 và 255 ở trên minh họa vấn đề liên quan đến các trình thuật thời thơ ấu và thương khó. Nếu tôi có thể đưa vào quan điểm riêng của mình, dù tôi nghĩ rằng Luca biết một số truyền thống nhất định về nguồn gốc và cái chết của Đức Giêsu và về Gioan Tẩy Giả, nhưng tôi nghi ngờ không có các nguồn được sáng tác nào về Đức Maria (gia đình) và Gioan Tẩy Giả dành cho Luca hoặc một trình thuật thương khó hoàn chỉnh nào khác với Máccô. Có một số đồng thuận nhất định giữa Luca và Mátthêu trái với Máccô, nhưng tôi không thấy bằng chứng thuyết phục nào cho thấy Luca biết Tin mừng Mátthêu.[79] Có những điểm tương đồng rõ ràng giữa Luca và Gioan, nhưng tôi nghi ngờ việc Luca biết Tin mừng Gioan; một số truyền thống khá giống nhau đã truyền lại cho cả hai.[80]

Tuy nhiên, các học giả đã thừa nhận hợp lý một số nguồn cho Tin mừng (đối với nguồn cho Công vụ Tông đồ, xem trang 316 dưới đây). Ví dụ, (1) một bộ sưu tập các bài thánh ca hoặc diệu ca thời đầu (Magnificat, Benedictus, Gloria in excelsis, Nunc dimittis); (2) câu chuyện Đức Giêsu lúc mới lên mười hai tuổi – một ví dụ về thể loại văn chương lớn hơn về các câu chuyện thời thơ ấu của Đức Giêsu; (3) một gia phả Đavít có nguồn gốc phổ biến được lưu hành giữa những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp; (4) một nhóm các dụ ngôn đặc biệt, có thể bao gồm những điều sau:[81] Người Samaria nhân hậu, người bạn nài nĩ, phú hộ xây kho thóc, cây vả không sinh trái, đồng bạc bị mất, đứa con hoang đàng, Lazarô và ông phú hộ, quan tòa bất lương, và người Pharisêu và người thu thuế; (5) một nhóm các câu chuyện về phép lạ, có thể bao gồm những chuyện sau: đánh bắt cá, cho con bà góa sống lại, và chữa lành cho người phụ nữ bị tàn tật vào ngày Sabát, chữa bệnh cho người phù thủng và mười người bệnh phong. Ngoài ra, và khác với các nguồn lớn hơn, tác giả dường như có thêm các mục đề truyền thống hoặc thông tin cụ thể về Gioan Tẩy Giả (nguồn gốc gia đình), Maria mẹ của Đức Giêsu, Hêrôđê Antipa và các nữ môn đệ Galilê. Một trong các điều này có lẽ đến từ những người mà tác giả đề cập đến, chẳng hạn như kiến ​​thức về Hêrôđê (9,7-9; 13,31-32; 23,6-12) đến từ Manaen của hội thánh Antiôkia (Cv 13,1).

Khi chúng ta kết thúc phần thảo luận về các nguồn Luca này, chúng ta nên tự nhắc nhở mình, giống như chúng ta đã làm với Mátthêu (trang 208 ở trên), rằng tác giả đã làm nhiều việc hơn chỉ thu thập và sắp xếp nhiều tài liệu khác nhau. Ngay đầu tác phẩm, tác giả Luca tường thuật theo trình tự những gì ông nhận được hoặc sáng tạo ra được dệt thành một sử thi anh hùng ca bắt đầu từ Đền thờ Giêrusalem và kết thúc tại tòa án đế quốc Rôma. Sử thi này người ta có thể tự đọc mà không cần biết nguồn gốc,[82] và có lẽ đó là cách mà những khán giả đầu tiên nghe hoặc đọc. Luca là một nhà thuật truyện tài năng, chẳng hạn, thể hiện một cảm quan nghệ thuật thực sự (câu chuyện về thời thơ ấu rất cân đối), và trình bày những cảnh dịu dàng tinh tế (“tên gian phi sám hối”). Sự lựa chọn hoặc sáng tạo tài liệu L của ông bao gồm một số đoạn đáng nhớ nhất trong tất cả các Tin mừng, ví dụ, dụ ngôn về người Samaria nhân hậu và đứa con hoang đàng. Dante đã mô tả ông một cách chính xác là “một ký lục hiền dịu của Đức Kitô” – hơn bất kỳ tác giả Tin mừng nào khác, Luca đã tặng cho thế giới một Đức Giêsu để yêu mến. Nếu chúng ta kết hợp điều này với các mô-típ thần học được lưu ý trong phần Phân tích tổng quát ở trên và nên nhớ rằng, chính tác giả đó cũng đã viết Công vụ Tông đồ, thì chúng ta phải chân nhận rằng, tác giả Tin mừng thứ ba này là người định hình ý nghĩa nhất cho Kitô giáo.

QUYỀN TÁC GIẢ

Vào nửa sau của thế kỷ thứ 2 (tựa đề của P75, Irênê, Mãnh vỡ Muratoria), cuốn sách này được cho là của Luca, người bạn đồng hành của Phaolô. Ba tài liệu tham chiếu trong Tân ước (Phlm 24; Cl 4,14; 2 Tm 4,11) nói về ông là một đồng nghiệp và thầy thuốc yêu quý, trung thành với Phaolô trong lần bị cầm tù cuối cùng. Cl 4,11 muốn nói rằng tất cả những người được liệt kê trước câu đó đều là người được chịu phép cắt bì, gợi ý rằng Luca, người được nói sau câu đó không phải là người Do Thái.[83] Thông tin trong Tân ước được gia tăng đáng kể bởi giả định rằng Luca nằm trong số “chúng tôi”, tức là, một hình thức tự tham chiếu đến một số đoạn trong Công vụ Tông đồ, nơi cho thấy Phaolô không đi truyền giáo một mình (khoảng thời gian từ năm 50 đến 63 AD).[84] Ngoài Tân ước, một Lời Tựa cuối thế kỷ thứ 2 cho biết thêm rằng Luca là một người Xyri, đến từ Antiôkia, đã qua đời ở Boeotia, thuộc Hy Lạp (xem Fitzmyer, Luke 1,38-39). Các học giả gần như không đồng thuận về việc liệu có nên chấp nhận quy gán này cho Luca mang tính lịch sử hay không, để công nhận ông là tác giả của sách Luca-Công vụ.[85]

Sự phản biện chính nhằm chống lại quyền tác giả như là một người bạn đồng hành của Phaolô trong Công vụ Tông đồ là do có sự trái ngược nhau hay khác biệt lịch sử và thần học so với các thư của Phaolô; nhưng chúng ta sẽ thảo luận vấn đề này khi trình bày quyền tác giả trong Chương tiếp theo. Việc tác giả Tin mừng có phải là bạn đồng hành của Phaolô hay không cũng không có gì khác biệt lắm, vì trong cả hai trường hợp, không có lý do gì để coi ông là người đồng hành của Đức Giêsu.[86] Do đó, là một người Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai hoặc thứ ba, ông sẽ phải phụ thuộc vào các truyền thống do người khác cung cấp – như đã nêu trong các Nguồn ở trên.

Điều gì có thể được suy ra từ Tin mừng về tác giả? Nhận xét cuối cùng trong đoạn trước dường như được xác nhận trong 1,1-3, trong đó ông tự cho mình thuộc những người đã biết các biến cố được truyền lại từ những nhân chứng ban đầu và từ các thừa tác viên Lời Chúa. Trong bốn tác giả Tin mừng, Luca có khả năng viết tiếng Hy Lạp tốt nhất và dễ dàng sử dụng nhiều loại văn phong.[87] Trong sách Công vụ Tông đồ, Luca cho thấy có kiến ​​thức về các quy ước tu từ của các sử gia Hy Lạp và một số kiến ​​thức về văn chương và tư tưởng Hy Lạp. Không rõ Luca có biết tiếng Do Thái hay tiếng Aram không; nhưng chắc chắn ông biết bản LXX, như chúng ta thấy không chỉ ông trích dẫn nhiều đoạn Kinh Thánh mà còn sử dụng thành thạo văn phong bản LXX áp dụng vào các phần rất thích hợp trong tác phẩm của mình. Khả năng sử dụng Hy Lạp của ông đã khiến nhiều học giả khẳng định tác giả Tin mừng là một Dân ngoại trở lại Kitô giáo. Tuy nhiên, sự hiểu biết Cựu ước quá chi tiết đến nỗi những học giả khác cho rằng có lẽ ông có gốc gác từ Do Thái trước khi đến với Đức Kitô. Tuy nhiên, lầm lẫn về phép thánh tẩy trong Lc 2,22 (“của họ” ám chỉ lầm lẫn về việc thanh tẩy cho người cha) là điều không thể tin được đối với một người lớn lên trong một gia đình Do Thái. Một giải pháp phân minh cho hai vấn đề này là thừa nhận rằng tác giả là một Dân ngoại đã trở lại đạo hoặc một người kính sợ Chúa, tức là đã trở lại đạo hoặc bị hấp dẫn bởi đạo Do Thái vài năm trước khi ông được Phúc Âm hóa.[88]

Tin mừng tường thuật không chính xác về địa lý Paléttin (xem 4,44; 17,11 ở trên); điều đó dường như đã loại bỏ ý tưởng cho rằng tác giả quê ở Paléttin (nhưng điều đó dường như cũng đặt vấn đề liệu ông có phải là người bạn đồng hành của “chúng tôi”, người dường như sống trong thập niên 58-60 ở đó hay không). Kiến thức về hội thánh tại Antiôkia cho thấy trong Cv 11,19-15,41 (kết thúc vào khoảng năm 50 AD) đã được thêm vào để hỗ trợ cho truyền thống ngoài Tân ước rằng ông là một người ở Antiôkia[89] (hay điều đó làm sinh ra truyền thống ấy?). Nhiều người nghĩ rằng nghi thức Thánh Thể trong 1 Cr 11,23-25, nơi Phaolô nói rằng ông đã nhận được từ truyền thống, xuất phát từ thực hành của hội thánh tại Antiôkia, nơi mà Phaolô đã được sai đi trong các hành trình truyền giáo của mình. Nghi thức của Luca trong 22,19-20 không bắt nguồn từ Máccô và gần giống với công thức của Phaolô, và do đó có thể cho thấy nó có liên quan đến giáo hội tại Antiôkia. Đã có một vài nỗ lực chứng minh tác giả là một thầy thuốc, giống như Luca, bằng cách chỉ ra ngôn ngữ chuyên môn y học và những nhận thức được đưa vào tài liệu lấy từ Máccô.[90] Tuy nhiên, trong một loạt bài viết, H. J. Cadbury đã thuyết phục được hầu hết các học giả về quan điểm cho rằng những cách diễn đạt của Luca mang tính chuyên môn y khoa không hơn các tác giả có học thức khác của Hy Lạp không phải là thầy thuốc.[91] Sẽ có thêm nhiều thông tin bổ sung vào bức tranh tác giả khi chúng tôi bàn về sách Công vụ ở chương 10.

NƠI BIÊN SOẠN VÀ CỘNG ĐOÀN LIÊN QUAN

Truyền thống ngoại tại cho rằng Luca (được xác định là tác giả) đến từ Antiôkia không cho chúng ta biết Tin mừng được viết ở đâu hoặc cho ai. Truyền thống cho rằng Luca là bạn đồng hành của Phaolô làm tăng khả năng cho rằng Luca-Công vụ được gửi cho các giáo hội do Phaolô thành lập. Cụ thể hơn, một Lời Mở Đầu vào cuối thế kỷ thứ 2 thuật lại rằng Tin mừng được viết ở Hy Lạp (Achaia) và Luca đã qua đời tại đó (Fitzmyer, Luke 1.38-39).

Từ bằng chứng nội tại, tác phẩm hai tập của Luca tập trung vào sự nghiệp của Phaolô ở nửa cuối sách Công vụ Tông đồ (không liên can đến việc xác định từ “chúng tôi”). Điều đó khiến người ta cho rằng, có khả năng những người nhận đã tiếp xúc cách nào đó với lời công bố sứ điệp Tin mừng của vị Tông đồ. Tin mừng Luca khác với Mátthêu trong nhiều cách. Nếu Mátthêu được viết cho hội thánh tại Antiôkia, thì rất có thể Luca đã không viết cho cùng một hội thánh (chẳng hạn, hai câu chuyện về thời thơ ấu phong phú như vậy sẽ không được trình bày cho cùng một người trong cùng một nơi). Đôi khi Rôma được cho là nơi tác giả nhắm tới vì Công vụ Tông đồ kết thúc ở đó, nhưng Rôma trong phần cuối của sách Công vụ chủ yếu mang tính biểu tượng như là trung tâm của thế giới Dân ngoại. Ngoài ra, nếu Tin mừng được viết cho dân Rôma sau năm 70 AD, thì người ta sẽ thấy một số dư âm về cuộc đàn áp của Nêrô vào giữa thập niên 60. (Nếu Tin mừng Máccô được viết cho dân Rôma, thì liệu có cần một Tin mừng khác viết cho nơi đó không?) Với việc thu hẹp vùng này, những dòng cuối của sách Công vụ Tông đồ (28,25-28), được cho là của Phaolô, chỉ ra rằng tương lai của Tin mừng phụ thuộc vào Dân ngoại,[92] không phải người Do Thái. Điều đó sẽ là lạ lùng nếu Luca đang trình bày cho khán giả phần lớn là người Do Thái theo Kitô giáo.[93] Việc Luca đề cập đến hội đường có giọng điệu khác với của Mátthêu. Như Meier, trong Vision 17, đã nhận xét một cách hợp lý rằng: với hội thánh của Mátthêu, hội đường đã trở nên một thể chế xa lạ,[94] trong khi đối với những người đón nhận Tin mừng Luca, hội đường luôn luôn là một tổ chức xa lạ. Như chúng ta thấy, Luca đã lược bỏ những đặc ngữ tiếng Aram và địa danh của Máccô cũng như những tham chiếu mang màu sắc địa phương (mái nhà bằng bùn, Hêrôđia chẳng hạn) mà dường như khán giả của ông không thể hiểu được, và ông thay thế những điều dễ hiểu hơn đối với những người gốc Hy Lạp. (Do đó, nếu có những người theo đạo Kitô gốc Do Thái giữa những người nhận sứ điệp, thì có vẻ như họ không phải là người nói tiếng Aram.) Các đặc điểm trong cách trình bày về Đức Giêsu phản ánh thế giới Dân ngoại đã được phát hiện trong Tin mừng, chẳng hạn như phần mở đầu của một câu chuyện kể về thời thơ ấu của Đức Giêsu và tuổi trẻ mang lại cho Tin mừng phần nào khía cạnh của một tiểu sử Hy Lạp. Những bài giảng của Đức Giêsu tại một bữa tiệc được so sánh với những bài giảng của một nhà hiền triết tại một hội nghị chuyên đề (14,1-24 ). Việc phản đối việc miêu tả Đức Giêsu chịu đau khổ trong cuộc thương khó phù hợp với việc người Hy Lạp phản đối việc miêu tả chân dung với các cảm xúc.[95] Tất cả những điều này muốn nói rằng liệu Luca-Công vụ được viết cho một vùng phần lớn là Dân ngoại được Phúc âm hóa trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các môn đệ) nhờ Phaolô hay không.[96] Tất nhiên, mô tả đó có thể phù hợp với nhiều nơi. Cụ thể, truyền thống ban đầu cho rằng nó được viết tại và cho một vùng Hy Lạp, điều đó sẽ phù hợp với bằng chứng nội tại này và có thể thấy một số xác nhận trong Cv 16,9-10, miêu tả việc Phaolô băng qua Tiểu Á đến Maxêđônia theo mặc khải của Thiên Chúa truyền. Lưu ý rằng tôi đã nói về một khu vực; bởi vì thay vì nghĩ đến khán giả dự định của Luca là một hội thánh tư gia hoặc thậm chí là những người sống trong một thành phố, thì có lẽ chúng ta nên nghĩ đến những Kitô hữu có cùng hoàn cảnh trải rộng trên một vùng rộng lớn.

 MỤC ĐÍCH

Liên quan chặt chẽ đến vấn đề người nhận sứ điệp là vấn đề gây nhiều tranh cãi về mục đích của Luca-Công vụ.[97] Phần lớn dựa vào mối quan hệ giữa người Rôma và người Do Thái được mô tả trong đó. Vì Philatô trong Luca ba lần tuyên bố Đức Giêsu vô tội, phải chăng Luca đang cố thuyết phục độc giả Hy-Mã rằng người Do Thái hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc đóng đinh? Tuy nhiên, Cv 4,25-28 lên án rõ ràng tội của Philatô. Vì sách Công vụ Tông đồ kết thúc với việc Phaolô được đưa đến Rôma để thỉnh cầu hoàng đế, nên có ý kiến ​​cho rằng tác giả đã hình dung ra một bản biện hộ ngắn gọn cho Phaolô. Tuy nhiên, sau đó tại sao tác giả không báo cáo kết quả xét xử Phaolô ở Rôma? Một đề xuất khác là thông qua một số mô tả của ông về các quan chức Rôma có hiểu biết (ví dụ, của Galion trong Cv 18,14-15), tác giả đang cố gắng thuyết phục các quan chức Rôma đối xử công bằng với Kitô hữu. Tuy nhiên, ông cũng mô tả các quan chức Rôma nhu nhược bị các nhà lãnh đạo Do Thái bắt nạt (Philatô, các quan tòa tại Philíphê và Phêlích). Hơn nữa, cho rằng chính quyền Dân ngoại có khả năng đọc một tác phẩm như Luca-Công vụ là rất võ đoán. Một phản biện tương tự có thể được đưa ra đối với luận đề của O’Neill, trong cuốn Theology, cho rằng Công vụ Tông đồ tìm cách thuyết phục những người Rôma có học thức trở thành Kitô hữu, một luận đề khá phức tạp do cho rằng ngày biên soạn theo suy nghĩ riêng của ông với sách Công vụ Tông đồ là vào thập niên 115-130. Ông đặt ra niên biểu đó để so sánh giữa Công vụ Tông đồ với bài hộ giáo của thánh Justinô tử đạo.[98]

Một gợi ý hợp lý hơn là văn bản Luca có thể giúp độc giả/thính giả Kitô giáo để họ tự hiểu, đặc biệt là khi những lời vu khống được lan truyền giữa những người không tin, cho dù là người Do Thái hay Dân ngoại. Kitô hữu cần biết rằng không có gì là lật ngược cái gốc của họ, không có gì khiến họ xung đột với chính quyền Rôma, và thật là sai lầm khi đồng hóa Đức Giêsu và những người theo Người trực tiếp với các nhà cách mạng Do Thái[99], những người đã lôi kéo quân đội Rôma vào cuộc chiến ở cuối thập niên 60. Đối với mối tương quan giữa khán giả của Luca với những người Do Thái, những người không tin vào Đức Giêsu, một số học giả đã phát hiện ra một bức tranh thù địch quá mức, vì thế mà Luca đã viết để mô tả sự khước từ của người Do Thái.[100] Tuy nhiên, cách miêu tả của Luca về vai trò của những người (Do Thái) trong cuộc thương khó mang nhiều sắc thái và thuận lợi hơn so với cách miêu tả của các Tin mừng khác; và trong Công vụ Tông đồ, ông miêu tả nhiều người Do Thái đi đến tin vào Đức Giêsu. Chắc chắn sách Công vụ Tông đồ mô tả các nhà lãnh đạo Do Thái cả ở Giêrusalem và trong các hội đường hải ngoại là chống lại việc rao giảng Đức Kitô (và thực sự điều đó có thể mang tính lịch sử), nhưng sự mô tả này dường như xuất phát từ mong muốn giải thích lý do tại sao các nhà truyền giáo Kitô giáo và đặc biệt là Phaolô quay sang Dân ngoại.

Thật vậy, toàn bộ Luca-Công vụ gợi ý một nỗ lực để giải thích hiện trạng của nó. Trong ba giai đoạn của lịch sử cứu độ, Tin mừng tiếp nối Lề Luật và các Ngôn sứ vì Đức Giêsu trung thành với Ítraen – nơi Người, Thiên Chúa đã không thay đổi chương trình của Người nhưng hoàn thành nó. Công vụ theo sau như là giai đoạn thứ ba vì Chúa Thánh Thần ngự đến sau khi Đức Giêsu lên trời, điều đó làm cho sứ vụ các Tông đồ trở nên kế thừa hợp pháp lời công bố Nước Trời của Đức Giêsu. Mặc khải cho Phêrô biết Conêliô, Đức Giêsu kêu gọi Phaolô, và sự đồng ý của Phaolô, Phêrô và Giacôbê tại Giêrusalem, tất cả đều hợp pháp hóa sứ vụ của Phaolô dành cho Dân ngoại như một phần của sự tiếp nối này. Nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, một Tin mừng bắt đầu ở Giêrusalem, thủ đô của Do Thái giáo, cuối cùng đã lan đến Rôma, thủ đô của thế giới ngoại giáo. Do đó, những Dân ngoại mà sách Công vụ Tông đồ của Luca nói đến có thể yên tâm chấp nhận Đức Giêsu không phải như là một tai nạn hay một sự lầm lạc mà là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa trở về cuộc sáng tạo, một kế hoạch rốt cuộc cũng hoán cải toàn thế giới Rôma. Cũng thế, dù họ đã được phúc âm hóa nhờ những người chưa diện kiến Đức Giêsu, nhưng Tin mừng mà họ đã nhận, được đưa trở về với “các chứng nhân ​​​​và các đầy tớ thế giới.” Vì vậy, mục tiêu không phải các nhà hộ giáo chống lại đối phương mà bảo vệ các Kitô hữu đồng đạo,[101] như chính tác giả đã chỉ ra ngay từ đầu: “mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc” (Lc 1,4). Nếu tác giả là một Kitô hữu gốc Dân ngoại trình bày cho người đồng hương, thì ông đảm bảo chắc chắn “họ sẽ nghe” (Cv 28,28).

NƠI BIÊN SOẠN

Cũng chính trong Lời mở đầu cổ kính xác định nơi các khán giả của Luca sống là ở Hy Lạp, điều đó cho chúng ta biết Luca qua đời ở tuổi 84 và ông viết Tin mừng sau Mátthêu và Máccô. Nói rằng Luca sử dụng Máccô là rất hợp lý căn cứ vào ​​bằng chứng nội bộ; và nếu Máccô xác định được năm biên soạn vào khoảng năm 68-73, thì năm biên soạn của Luca trước năm 80 khó có thể xảy ra. (Vì Mátthêu và Luca dường như hoàn toàn độc lập với nhau, nên không có cách nào trích từ bằng chứng nội bộ để xác định Tin mừng nào cũ hơn.) Vì Luca thường xuyên bi quan về số phận của các nhà lãnh đạo Do Thái và Giêrusalem khiến có khả năng Giêrusalem đã bị phá hủy rồi – bị người Rôma tiêu diệt năm 70.[102]

Việc phản đối năm biên soạn sau năm 80 phần lớn bắt nguồn từ thực tế là Công vụ Tông đồ kết thúc khoảng năm 63 với việc Phaolô bị bỏ tù hai năm ở Rôma, và lập luận rằng nếu Luca viết muộn hơn thế nhiều, thì ông đã tường thuật về sự nghiệp và cái chết sau đó của Phaolô. Tuy nhiên, như chúng ta thấy trong Chương tiếp theo, sự phản đối đó có lẽ đã hiểu nhầm mục đích của sách Công vụ Tông đồ không phải để kể chuyện cuộc đời của Phaolô mà là để kịch tính hóa sự lan tỏa Kitô giáo, mà đỉnh điểm là biểu tượng của nhà truyền giáo lớn đi đến Rôma, thủ đô của đế quốc Dân ngoại. Thật vậy, mối quan hệ được Phaolô tán thành trong Cv 28,25-28 giữa việc truyền giáo cho Dân ngoại và sự thất bại của việc truyền giáo cho người Do Thái rất khác với những gì chính Phaolô đã viết trong Rm 9-11 khoảng năm 57/58, điều đó thật khó để tưởng tượng sách Công vụ Tông đồ được biên soạn vào đầu thập niên 60.

Luca-Công vụ được viết năm nào sau năm 80? Tôi cho rằng không muộn hơn năm 100.[103] Sở thích mang tính biểu tượng của Tin mừng ở Giêrusalem như là trung tâm Kitô giáo thì không phù hợp với viễn cảnh của văn học Kitô giáo thế kỷ thứ 2. Với Tiểu Á và đặc biệt là Êphêxô, tác giả Công vụ Tông đồ dường như chỉ biết đến cấu trúc hội thánh gồm các trưởng lão (Cv 14,23; 20,17). Không có dấu hiệu nào cho thấy mô hình đã phát triển về việc có một giám mục trong mỗi hội thánh được Ignatiô chứng thực rõ ràng cho khu vực đó ở thập niên trước năm 110. Tác giả Công vụ Tông đồ cũng không cho thấy bất kỳ kiến ​​thức nào về các thư của Phaolô, những bức thư được thu thập ở thế kỷ thứ 2. Trong phạm vi từ năm 80 đến 100, để bảo vệ khả năng sự thật trong truyền thống về tác giả là bạn đồng hành của Phaolô, thì năm biên soạn tốt nhất nên là năm 85, có thể xê dịch từ 5 đến 10 năm.

 CÁC VẤN ĐỀ CẦN SUY TƯ THÊM

(1) Một vấn đề văn bản đặc biệt, được gọi một cách vụng về là Những Điều Không Thêm Bớt của Tây Phương (Western NonInterpolations,) [104] ảnh hưởng đến việc giải thích Lc 22,19b-20; 24,3b.6a, 12,36b.40.51b.52a và có lẽ những câu khác. Nhóm bằng chứng bản văn Tây Phương thường có các bài đọc dài hơn so với các truyền thống viết tay khác, nhưng trong các câu này, nó có các bài đọc ngắn hơn. Theo sự hướng dẫn của các nhà phê bình văn bản nổi tiếng của thế kỷ 19 là Westcott and Hort, nhiều học giả và dịch giả đã theo sự ngắn gọn của Tây Phương và loại bỏ ra khỏi Luca những phần bài đọc dài hơn được chứng thực là tốt hơn. Một số trong đó rất quan trọng, chẳng hạn, 22,19b-20 mô tả ly rượu Thánh Thể; 24,12 mô tả Phêrô chạy đến mộ trống. Tuy nhiên, xu hướng gần đây chấp nhận chúng là bản văn đúng thật, một phần vì P75, một bản viết tay sớm nhất của Luca cho chúng ta biết có chứa chúng, xuất bản năm 1961.

(2) “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương” (2,14 ). Trong mệnh đề thứ hai có bốn ý, ba ý đầu tiên trong đó là không thể tranh luận (“dưới thế”, “bình an [thể chủ cách],” “cho người [nghĩa đen là những người, ở thể tặng cách]”). Đối với ý thứ tư và cũng là ý cuối cùng, bản tiếng Hy Lạp cổ nhất và hay nhất trong các bản viết tay, theo sau là bản Vulgata Latinh, đọc ở thể sở hữu cách là eudokia, “thiện tâm, ân huệ,” dẫn đến bản dịch Công giáo Rôma cổ điển: “và bình an dưới thế cho những người thiện tâm.” Số ít bản viết tay Hy Lạp, được biết là các dịch giả KJV đọc theo thể chủ cách, và Luther ủng hộ điều đó bởi vì nó tránh bất kỳ gợi ý nào cho rằng Chúa ban bình an tương xứng với công lao của con người, do đó bản dịch của Tin Lành cổ điển, “và bình an dưới thế, thiện tâm cho loài người.” Các học giả hiện đại, loại bỏ thể chủ cách, đã tìm cách giải quyết vấn đề thần học bằng cách viện dẫn các cụm từ tiếng Do Thái và tiếng Aram trong DSS, “một người hay con cháu thiện âm của Người;” do đó, thể sở hữu cách của từ eudokia trong Luca có thể không muốn nói là “thiện tâm của [con người]” nhưng là “ân huệ của [Thiên Chúa]; đang mở rộng bình an cho những người được Thiên Chúa thương. Để xem cuộc tranh luận đang diễn ra, xem BBM 403-5,677-679.

(3) Lời tuyên xưng của Phêrô xuất hiện trong cả bốn Tin mừng và minh họa lý thuyết về mối tương quan qua lại giữa các Tin mừng:

Mc 8,29: “Thầy là Đức Kitô“;

Mt 16,16: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (tiếp theo là việc đặt tên “Phêrô”);

Lc 9,20: “Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa“;[105]

Ga 6,69: “Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

Trong Thuyết Hai Nguồn, Mátthêu và Luca đã mở rộng thêm của Máccô theo những cách khác nhau. Trong giả thuyết của Griesbach, Máccô khi sử dụng Mátthêu và Luca đã chọn một yếu tố chung cho cả hai. Những người cho rằng Luca biết Mátthêu nghĩ Luca đã rút gọn công thức của Mátthêu, có lẽ do ông chịu ảnh hưởng của hình thức ngắn hơn của Máccô. Khả năng có một mối quan hệ đặc biệt giữa Luca và Gioan nên có thể giải thích cho việc bổ sung thêm sở hữu cách (“của Thiên Chúa”) trong cả hai. Tuy nhiên, mối quan hệ với Gioan rất phức tạp, vì Gioan cũng có những điểm tương đồng với Mátthêu. Trong Ga 1,40-42, Anrê gọi anh mình là Simôn (Phêrô) và nói với anh rằng: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia“, nhân dịp đó Đức Giêsu đặt tên cho Simôn là Phêrô; và trong Ga 11,27, Matta tuyên xưng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa.” Có phải tất cả những điều này là do Gioan biết Nhất Lãm hay bởi vì các truyền thống chung đã đưa đến tình trạng giằng co giữa Nhất Lãm và Gioan trong việc hình thành Tin mừng?

(4) Luca có những đoạn văn minh họa sự phức tạp của khái niệm Nước Thiên Chúa.[106] Có sự mâu thuẫn về việc liệu khái niệm này có liên quan đến vương quyền hoặc Nước Trời hay không, và Nước Trời đã đến và/hay vẫn đang đến trong mức độ nào, và liệu Nước này là hữu hình hay vô hình. Những hình ảnh có thể sờ mó được như cửa [chuồng chiên] và bàn tiệc và việc trục xuất ra khỏi Nước Trời được sử dụng trong 13,24.28.29; và trong 9,27: trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ không phải chết, trước khi thấy Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong 17,20-21, Đức Giêsu khẳng định rằng, Nước Trời đến hay chưa không phải là vấn đề thông qua quan sát để người ta có thể nói: “‘Ở đây này!’ hay ‘Ở kia kìa!’” Trong 11,2, các môn đệ được dạy cầu nguyện để Nước Trời mau đến. Trong 10,9, các môn đệ được lệnh phải công bố cho các thành mà họ đến: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông“; trong 11,20 Đức Giêsu nói rằng nếu Thầy dùng ngón tay của Thiên Chúa mà trừ quỷ thì “Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông”; và trong 11,21, Người nói: “Nước Thiên Chúa đang ở trong hay giữa các ông.” Trong 21,31-32 (diễn từ cánh chung) khi nhìn thấy những dấu chỉ của ngày tận thế, người ta có thể nói: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần“; và tất cả điều này sẽ xảy ra trước khi thế hệ này qua đi. Viễn cảnh thay đổi này là một sự phản ánh vấn đề về cánh chung mang tính tương lai và thực chứng xảy ra ở nơi khác trong Tân ước (xem Vấn đề II trong Chương 10 và trang 342 dưới đây).

[1] Sự thống nhất giữa hai tập sách được đa số học giả ủng hộ, dựa trên sự liên tục về văn phong, tư tưởng và kế hoạch. Talbert, trong Literary Patterns, cho thấy các mối tương quan vượt ngoài những gì nhìn thấy. Tuy nhiên, vẫn có một thách đố được đưa ra của M. C. Parsons và R. I. Pervo trong Rethinking the Unity of Luke and Acts (Minneapolis: A/F, 1993). Từ thế kỷ thứ 2 người ta đã biết đến việc tách Tin mừng Luca ra khỏi Công vụ Tông đồ và danh sách bộ Kinh Thánh quy điển đầu tiên, trong đó họ nhấn mạnh đến hai thể văn khác nhau (tiểu sử, sử ký). Tuy nhiên, việc sử dụng đại từ “chúng tôi” trong Lời Mở Đầu Tin mừng, tác giả dự báo trước việc sử dụng tương tự đại từ “chúng tôi” trong Công vụ (ghi chú 84 dưới đây) – một sự tương đồng khiến người ta nghi ngờ tác giả nghĩ rằng ông đang viết hai cuốn sách trong các thể văn khác nhau. Ngay từ thời xa xưa, người ta đã gợi ý về cuốn sách Luca thứ ba bị thất lạc đề cập đến sứ vụ tiếp theo của Phaolô sau khi ông bị cầm tù ở Rôma năm 61-63. Tuy nhiên, các lập luận chứng minh còn yếu, chẳng hạn như luận điểm mà Cv 1,1 nói về Tin mừng như là “cuốn sách đầu tiên” (trong ba cuốn) chính xác hơn chứ không phải là “cuốn sách trước đây” (trong hai cuốn).

[2] Trong suốt chương này, tôi sẽ ưu tiên cho những cuốn sách và bài viết được viết sau năm 1980; đối với giai đoạn trước, những ai muốn đọc thêm và nghiên cứu chỉ cần tham khảo các thư mục tuyệt vời trong Fitzmyer, Luke, chẳng hạn 1.259-70 về thần học.

[3] Câu 1-2 là mệnh đề phụ, v.v. 3-4 là mệnh đề chính; và mỗi mệnh đề có ba phần tương tự. Phần mở đầu có thể so sánh một phần với Lc 3,1-2; 9,51; và Cv 1,1-2 đóng vai trò như là phần mở đầu phụ.

[4] Xem phần thảo luận đáng chú ý về Lời mở đầu của H. J. Cad bury, trong Foakes Jackson, Beginning 2.489-510; cả V. K. Robbins, PRS 6 (1979), 94-108; R. J. Dillon, CBQ 43 (1981), 205-27; T. Callan, NTS 31 (1985), 576-81; L. Alexander, NovT 28 ( 1986), 48-74, và The Preface to Luke’s Gospel (SNTSMS 78; Cambridge Univ., 1993).

[5] Mặc dù một số người thắc mắc liệu danh xưng “bạn của Chúa” có phải chỉ mang tính biểu tượng đối với mọi Kitô hữu hay không, nhưng tỷ lệ đồng tình nghiêng về một người có thật và có ảnh hưởng (chúng ta không biết gì khác về họ), người đã tin vào Đức Giêsu hoặc bị thu hút bởi những gì được rao giảng về Người. Một phần, có lẽ Luca đã chọn Theôphilô làm người nhận vì tên của ông ấy cũng có thể áp dụng cho các độc giả mong muốn khác.

[6] Điều đặc biệt gây tranh cãi là lập luận của Conzelmann cho rằng ơn cứu độ đã được ban trong quá khứ và sẽ được ban một lần nữa trong tương lai, nhưng không được ban bây giờ trong thời của Giáo hội. (Một số người đã chỉnh lại điều này bằng cách gợi ý rằng hiện nay có ơn cứu độ cá nhân sau khi chết.) Fender, trong St. Luke, lập luận rằng, ở một mức độ nào đó, Chúa Thánh Thần đang ngự đến trong Công vụ thay thế cuộc tái lâm của Đức Giêsu, bởi vì với việc Lên trời, Người đã dành được chiến thắng trên Thiên Đàng. Một giải pháp hấp dẫn là Luca nghĩ về ơn cứu độ như có thể áp dụng cho những người tin vào Đức Giêsu và đã trở nên một phần của Giáo hội, tuy nhiên, Giáo hội vẫn có nhiệm vụ canh tân thế giới (Powell, What 79).

[7] Conzelmann cho rằng thời kỳ của Ítraen kết thúc ở Lc 4,13, và thời kỳ “phóng thích Satan” của Đức Giêsu kết thúc ở Lc 22,3. Sự phân chia này hoàn toàn bỏ qua câu chuyện thời thơ ấu, gán Gioan Tẩy Giả cho Ítraen và không công bằng với phần Mở đầu rõ ràng của Công vụ Tông đồ.

[8] Xem BBM 248-53,623-25; tập sách này cung cấp một thư mục toàn diện hoàn chỉnh từ năm 1992, điều này tôi sẽ không lặp lại ở đây. Kể từ đó, đặc biệt đáng chú ý M. Coleridge, The Birth of the Lukan Narrative… Lc 1-2 (JSNTSup 88; Sheffield: JSOT, 1993) – một cách tiếp cận phê bình văn chương.

[9] Đây là những cặp vợ chồng duy nhất trong Kinh thánh trở thành cha mẹ mặc dù cả ông và bà đều đã già và hiếm muộn. Dacaria trả lời thiên sứ, “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy?” (xem St 15,8) và cuối cùng bà Êlisabét vui mừng (xem St 21,6-7).

[10] Luca có lẽ đã hiểu từ “được xức dầu” trong Đanien ám chỉ Đấng được xức dầu, tức là Đức Kitô. Gioan Tẩy Giả thuộc về thời của Đức Giêsu theo cách tiên báo, và những gì được Gabrien tiên đoán về Gioan Tẩy Giả lặp lại những gì sẽ được nói về ông trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu (so sánh 1,15 với 7, 27.28.33).

[11] Điều mà Luca có ý định nói về sự thụ thai đồng trinh, Xem BBM 298-309,517-33,635-39,697-712; cũng tr. 219 trên đây.

[12] Có nhiều ý kiến ​​đồng tình về hai câu đầu hơn là về hai câu cuối cuối, điều mà một số người cho là các sáng tác của Luca. Việc các bài thánh ca được dịch ra từ tiếng Do Thái hoặc Aram là luận đề nhỏ, thường được các học giả nâng lên với ước muốn lịch sử hóa vấn đề để gán sáng tác đó cho những ai Tin mừng mô tả như đang nói về chúng. Xin xem BBM 346-66,643-55.

[13] Xem S. Farris, The Hymns of Luke’s Infancy Narratives (JSNTSup 9; Sheffield: JSOT, 1985).

[14] Tương phản với các bài thánh ca rõ ràng, phát triển hơn về Kitô học trong Pl 2,6-11; Cl 1,15-20; Ga 1,1-18. Một số học giả cho rằng bài Magnificat và Benedictus là sáng tác của người Do Thái chứ không phải của người Kitô hữu; nhưng các thì quá khứ (aorist) của chúng gợi ý rằng chúng được sáng tác bởi những người nghĩ rằng hành động quyết định của Chúa đã diễn ra, trong khi các bài thánh ca của người Do Thái thời kỳ này nhắm đến sự can thiệp của Thiên Chúa vào tương lai.

[15] Về cuộc điều tra dân số, Xem BBM 412-18,547-56,666-68. Trong 23,45, Luca giải thích bóng tối cánh chung khi Đức Giêsu chết là hiện tượng nhật thực; nhưng ở Cận Đông thường có nhật thực vào ngày 29 tháng 11, không phải vào Lễ Vượt Qua hay ngày 30 hay 33. Trong Cv 5,36-37 khoảng năm 36 AD, Luca đặt vào miệng Gamalien để nói về cuộc nổi dậy của Thêuđa xảy ra khoảng năm 44-46 và cho rằng Giuđa “vào thời kiểm tra dân số” đến sau Thêuđa, trong khi thực tế thì ông đã sống cách đó 40 năm. Những người tin mạnh mẽ vào nghĩa đen của Kinh Thánh khó có thể giải thích được tất cả những điểm không chính xác này.

[16] Danker, Luke 28-46 trình bày dài trong việc so sánh Đức Giêsu với những người được suy tôn như là những người thiện nguyện trong thế giới La Mã.

[17] Có một cuộc tranh luận về việc liệu bài ca Tiếng Hát Thiên Thần hai dòng (2,13-14) có đủ dài để được coi là một bài thánh ca hay không; nhưng Lc 19,38 có thể cho chúng ta bài thánh ca một dòng khác với bố cục có nguồn gốc dài hơn (có lẽ là ca hiệp lễ: đất với trời) khi các môn đệ hát ca ngợi khen: “Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!”

[18] 2,22-24,39 (cũng 2,41). Theo quan điểm của Luca, Đức Giêsu bổ sung thêm vào Luật chưa bị bãi bỏ, xem Fitzmyer, Luke Theologian 176-187.

[19] Trong phần Phân tích này, tôi sẽ bàn luận về tài liệu đặc biệt của Luca dài hơn (chẳng hạn như trình thuật về thời thơ ấu); khi nghiên cứu phần tài liệu Luca  giống với Máccô (truyền thống ba nguồn) và với Mátthêu (tài liệu Q), tôi sẽ tránh lặp lại thông tin được truyền đạt trong hai Chương trước. Người ta cũng có thể xem trước những thay đổi điển hình của Luca đối với Máccô được mô tả trong tiểu mục về Nguồn dưới đây.

[20] Vấn đề về nguồn Q được chứng minh một cách sâu sắc. 60 trong số 64 chữ ở đây giống hệt với những chữ trong Mt 3,7b-10; tuy nhiên người ta cần phải giải thích mà không biết Mátthêu, Luca đã đặt những từ đó theo thứ tự giống như Mátthêu đã làm giữa các tài liệu mượn từ Máccô.

[21] Các môn đệ Gioan Tẩy Giả sau Tân ước thuật lại theo quan điểm  của họ như là một phần của việc họ khước từ Đức Giêsu. Xin xem Ga 3,25-26.

[22] Xem S. F. Plymale, The Prayer Texts of Luke-Acts (New York: Lang, 1991 ); D. M. Crump, Jesus the Intercessor, Prayer and Kitôology in Luke-Acts (WUNT 2/49; Tübingen: Mohr-Siebeck, 1992) – phê bình biên soạn.

[23] Có nhiều điểm khác biệt so với gia phả của Mátthêu (đặc biệt là từ Đavít trở đi), và những người nghĩ rằng Luca có truyền thống bắt nguồn từ Maria đã cố gắng tranh luận rằng gia phả của ông là gia phả thực sự của gia đình Đức Giêsu (hoặc của Maria, bất chấp 3,23!) hoặc thậm chí để làm hòa hợp giữa hai gia phả. Linh hứng không đảm bảo về tính lịch sử hoặc tính hòa giải; hoặc nếu không như thế thì Thiên Chúa đã linh hứng cho cả hai tác giả để truyền lại cho chúng ta cùng một bản ghi chép. Trong khi bảng liệt kê của Luca có thể nghiêng chiều ít truyền thống hơn về quân chủ của Mátthêu; có rất ít khả năng là một trong hai hoàn toàn mang tính lịch sử. Xem BBM 84-94,587-89. Cả hai đều phục vụ mục đích thần học, chẳng hạn, Luca có mẫu số bảy trong khi Mátthêu có mẫu số mười bốn để chỉ ra kế hoạch của Thiên Chúa.

[24] Xem trang 177 ở trên. Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa Mátthêu và Luca là thứ tự của hai lần cám dỗ cuối cùng, tạo thành một thử thách thực sự cho việc phê bình biên soạn (trang 23 ở trên). Thứ tự của Q có giống với thứ tự của Luca không, và chính vì vậy mà Mátthêu đã thay đổi thứ tự đó để có cảnh kết thúc trên núi, phù hợp với mô-típ ngọn núi của Mt 5,1; 28,16? Hay thứ tự của Q cũng giống như thứ tự của Mátthêu, vì thế mà Luca đã thay đổi thứ tự đó để có cảnh kết thúc tại Đền Thờ Giêrusalem, nơi Tin Mừng kết thúc ở 24,52-53? Hầu hết các học giả đánh giá thứ tự của Mátthêu nguyên bản hơn.

[25] Hầu hết các học giả bắt đầu sứ vụ Galilê tại đây; nhưng những người khác, bị ảnh hưởng bởi bố cục của Máccô, bắt đầu ở 4,31. Các bản tóm tắt mang đặc điểm văn phong của Luca (đặc biệt là trong Công vụ); và Luca 4,14-15 có vai trò như là bản tóm tắt sơ bộ về loại hoạt động mà Đức Giêsu tham gia trong sứ vụ tại Galilê.

[26] R. B. Sloan, Jr., The Favourite Year oft he Lord: A Study of Jubilary Theology in the Gospel of Luke (Austin: Schola, 1977); S. H. Ringe, Jesus, Liberation, and the Biblical Jubilee (Philadelphia: Fortress, 1985).

[27] Ở đây, chúng ta bắt gặp sự tương tự đôi khi của Luca với Gioan, vì phép lạ đánh bắt cá xảy ra trong bối cảnh sau khi sống lại trong Ga 21,3-11. Brown, John 2.1089-92 và Fitzmyer, Luke 1.560-62 ủng hộ bối cảnh sau phục sinh là nguyên bản hơn. Lập luận từ quan điểm bảo thủ cho rằng nếu một sự kiện được mô tả bởi hai tác giả Tin mừng thì sẽ không có sự khác biệt, nên Bock, Luke 1 .448-49 chọn hai phép lạ khác nhau!

[28] KD. B. Gowler, Host, Guest, Enemy and Friend. Portraits of the Pharisees in Luke and Acts (New York: Lang, 1991 ) – sự kết hợp giữa phê bình xã hội và thuật truyện.

[29] Biên soạn của Luca lấy từ tài liệu của mình (L); Máccô và nguồn Q chỉ chiếm khoảng 30%, bằng với biên soạn của Mátthêu. Nó “Thêm Một Phần Nhỏ” của Luca vào Máccô, như sẽ được giải thích trong phần về Nguồn dưới đây. Để biết mức độ của tài liệu Q trong bài giảng này, Xem Bảng 2 trong Chương 6 ở trên.

[30] Danh sách liệt kê Nhóm Mười Hai của Luca (xem thêm Mười một trong Cv 1,13) dường như bắt nguồn từ một truyền thống khác với truyền thống của Mc 3,16-19 và Mt 10,2-4 (xem Chương 7 ở trên, ghi chú 7).

[31] Thật thú vị khi thấy hiệu quả của các cách sắp xếp khác nhau: Đức Giêsu nói với các môn đệ của Gioan Tẩy Giả rằng Người đã làm cho kẻ chết sống lại: trong Mátthêu ám chỉ đến con gái của Giaia (Mt 9,18-26, một cảnh đã xảy ra trước đó); trong Luca nó phải nói đến con trai của bà góa.

[32] A. Neale, trong None  but  the Sinners:  Religious  Categories  in  the Gospel of  Luke (JSNTSup 58; Sheffield: Academic, 1991) thảo luận về ý tưởng “tội nhân” trong nhiều cảnh khác nhau ở Luca, bao gồm cả cảnh này.

[33] Nhiều người nghĩ rằng hai câu chuyện đã lẫn lộn nhau trong truyền thống có từ thời Luca và Gioan: một câu chuyện về một tội nhân sám hối khóc dưới chân Đức Giêsu trong khi Người thi hành sứ vụ và câu chuyện khác nói về một người phụ nữ xức dầu thơm đắt tiền lên đầu Đức Giêsu. Những người khác khẳng định cơ bản chỉ có một câu chuyện (xem Fitzmyer, Luke 1 .684-86). Truyền thống và truyện cổ tích về các thánh đã ghép ba câu chuyện này lại với nhau và làm tình hình thêm rối rắm khi xác định Maria, em gái của Martha, với Maria Magđala, từ đó dùng nghệ thuật miêu tả Maria Magđala là một gái điếm ăn năn với mái tóc buông xõa. Xem M. R. Thompson, Mary of Magdala, Apostle and Leader (New York: Paulist, 1995).

[34] Rosalie Ryan, BTB 15 ( 1985), 56-59, chỉ ra một số học giả nữ (E. Tetlow, E. Schussler Fiorenza) cáo buộc Luca có ý thức hệ gia trưởng buộc phụ nữ phải làm các công việc nội trợ. Ryan lập luận rằng các phụ nữ này và Nhóm Mười Hai được mô tả giống nhau trong việc rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa. Ngoài ra J. Kopas, Theology Today 42 (1986), 192-202; R. J. Karris, CBQ 56 (1994), 1-20. Nhìn chung, xem B. E. Reid, Women in the Gospel of Luke (Collegeville: Liturgical, 1996).

[35] Mô tả về địa lý trong 8,26 là “đối diện miền Galilê” thường được suy đoán (cùng với việc sau này Luca bỏ qua câu chuyện về người đàn bà gốc Phênixi; ghi chú 38 dưới đây) là phản ánh địa lý thần học của Luca, giữ nguyên toàn bộ phần đầu tiên này trong sứ vụ giới hạn ở Galilê.

[36] Luca tuân theo trình tự chung lấy từ Mc 4,35-6,13, nhưng bỏ qua Mc 6,1-6a (Đức Giêsu ở Nadarét), điều này đã được sử dụng trước đó trong Lc 4,16-30.

[37] Quyền này có ý nghĩa đặc biệt trong Luca-Công vụ bởi vì cuộc đấu tranh của Phêrô với Simôn Magus (Cv 8,9-25) và cuộc gặp gỡ của Phaolô với Bagiêsu và bảy con trai của Xikêua (13,4-12; 19,13- 20). Xem S. R. Garrett, The Demise of the Devil, Magic and the Demonic in Luke’s Writings (Minneapolis: AIF, 1989).

[38] “Sự Bỏ Qua Lớn” bao gồm: đi trên mặt nước, cuộc thảo luận về những gì làm ô uế con người và việc Đức Giêsu tuyên bố tất cả các loại thực phẩm đều sạch, lời cầu xin của người phụ nữ gốc Phênixi cho con gái bà, chữa lành người điếc, cho 4000 người ăn, và chữa lành người mù theo từng giai đoạn. Xem Các Nguồn và Bảng 4 dưới đây.

[39] Kingsbury và những người khác coi đây là tước hiệu tuyên xưng trung tâm dành cho Đức Giêsu trong Tin mừng Luca. So sánh với lời tuyên xưng của Phêrô trong các Tin mừng khác được trình bày trong Vấn đề III dưới đây.

[40] Có nhiều biến thể lấy từ Máccô, cũng như những điều song song với Mátthêu; và vấn đề đã được đặt ra là liệu Luca có dựa trên một trình thuật không phải của Máccô hay không. Xem B. E. Reid, The Transfiguration (Paris: Gabalda, 1993). Luca bỏ qua lời tường thuật trong Mc 9,9-13 về cuộc đối thoại với Êlia khi Đức Giêsu từ trên núi xuống, có lẽ vì thiên sứ Gáprien đã xác nhận Gioan Tẩy Giả chính là Êlia trong Lc 1,17.

[41] Đức Giêsu rao giảng trong cuộc hành trình này báo trước ​​những cuộc hành trình rao giảng của Phaolô. H. L. Egelkraut, Jesus’ Mission to Jerusalem: A Redaction Critical Study of the Travel Narrative (Frankfurt: Lang, 1976), có những mâu thuẫn xuyên suốt hành trình, do đó tài liệu trong chuyến hành trình giải thích sự phán xét của Thiên Chúa trên Giêrusalem, đồng thời trong khi Đức Giêsu dạy các môn đệ, những người sẽ tiếp tục thiết lập một cộng đoàn đức tin. D. P. Moessner, The Lord of the Banquet: The Literary and Theological Significance of the Lukan Travel Narrative (Minneapolis: A/F, 1989), thấy một tiền đề trong cuộc hành trình của Môsê ở Đệ Nhị Luật. Ngay lập tức, nó được một câu trong Luca truyền cảm hứng: “Phần Bỏ Sót Nhỏ” lấy từ Máccô (cụ thể là 10,1), nơi Đức Giêsu rời Galilê và đi đến Giuđêa và bên kia sông Giođan. Phần tóm tắt trong Cv 10,37-39 phân biệt với sứ vụ tại Galilê: “Mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái.

[42] C.L. Blomberg, GP 3.217-61, đưa ra những sắp xếp theo kiểu đối ngẫu.

[43] Tài liệu các thủ bản được phân về việc nên đọc 72 hay 70, số 72 (6 x 12) là một con số bất thường và có lẽ đã được các ký lục ghi chép đơn giản hóa thành số 70 thông thường hơn, có lẽ do ảnh hưởng của Xh 24,1 nơi Môsê có 70 phụ tá.

[44] Điều này tương tự như câu hỏi và câu trả lời trong Mc 12,28-31 liên quan đến người Kinh sư và vấn đề về các điều răn đứng đầu.

[45] Các dụ ngôn độc nhất của Luca, cũng như sự hài hòa với thần học của Tin mừng và cách sử dụng một số kỹ thuật kể chuyện tinh thông (ví dụ, quy tắc dùng ba trong các nhân vật), rất phong phú về tính cách con người và chi tiết cũng như những hiểu biết hấp dẫn trong Thái độ của người Paléttin. Người Samari tốt bụng và đứa con hoang đàng là những câu chuyện được ưa chuộng nhất; Fitzmyer cung cấp hai trang thư mục đầy đủ về mỗi câu chuyện. Xem K. E. Bailey, Poet and Peasant and through Peasant Eyes.  A  Literary ­ Cultural Approach to the Parables in Luke (kết hợp 2 tập; Grand Rapids: Eerdmans, 1983) với cảnh báo rằng, đôi khi ông lạc quan quá về khả năng áp dụng các ví dụ lấy từ vùng Cận Đông hiện tại cho đến xứ Paléttin ngày xưa.

[46] “Mỗi ngày” thay vì “hôm nay”; “như chúng con tha tội” thay vì “như chúng con đã tha tội”; và thiếu lời cầu xin thêm vào trong Mátthêu về việc cứu khỏi Sự dữ. Xem Chương 8 ở trên, ghi chú 17.

[47] Xem C. H. Giblin, The Destruction of Jerusalem according to Luke’s Gospel (AnBib 107; Rome: PBI, 1985).

[48] W. Braun, Feasting and Social Rhetoric in Luke 14 (JSNTSup 85; Cambridge Univ., 1995). Lc 14,15-24 giống (nhưng có nhiều điểm khác biệt) dụ ngôn về tiệc cưới do nhà vua tổ chức cho con trai mình trong Mt 22,1-10. Sự cổ xưa của một hình thức khác trong Tin mừng Tôma 64 được ưa chuộng ngay cả bởi một số người không nhiệt tình với sự ưu tiên của các Tin mừng ngụy thư. Ở Tin mừng Tôma, một người chuẩn bị bữa tối và sai đầy tớ đi mời bốn vị khách, tất cả đều từ chối: Một người phải ở nhà vì thương nhân đang đến; một người vừa mua một ngôi nhà và mọi người cần ông ở đó; một người phải tổ chức một bữa tiệc cho một người bạn sắp kết hôn; một người vừa mua một ngôi làng và phải đi thu tiền thuê nhà. Khi người đầy tớ về báo cáo lại, ông chủ bảo anh đi ra ngoài đường và dẫn những người mà ông gặp. “Người buôn bán sẽ không được vào nhà Cha tôi.” Quan điểm này khác với các quan điểm của Mátthêu và Luca.

[49] Đối với các hình thức dụ ngôn trong Tin mừng Tôma 107 (con chiên béo nhất thì Đức Giêsu yêu quý nhất) và Tin mừng Chân lý 31,35-32,9 (dựa trên biểu tượng của 99), và cho rằng không có gì xưa hơn các hình thức quy điển, xem Fitzmyer, Luke 2.1074.

[50] Ngay sau đó, một nhóm phiên dịch viên cho rằng trong thực hành đương thời, người đại diện có thể cho mượn tài sản của chủ nhân một cách hợp pháp với một khoản hoa hồng và người đại diện này không làm gì gian dối khi không nhận hoa hồng. Nếu đó là ý tưởng của Luca, thì ông đã viết với một sự mù mờ bất thường; và điểm nỗ lực khôn ngoan của người quản gia không được củng cố. Hơn nữa, việc sử dụng từ adikia (“thiếu công bằng”) trong câu 8 để mô tả người quản gia dường như ám chỉ sự không trung thực ngoài sự phung phí được đề cập trong câu 1.

[51] Đây là một điểm tương đồng khác giữa Luca và Gioan: Chỉ có điều họ đề cập đến một Lazarô, và chủ đề về sự sống lại từ cõi chết có liên quan đến ông trong cả hai sách Tin mừng.

[52] Cuối cùng ở đây Luca kết thúc “Phần Thêm Vào Lớn” của mình bắt đầu sau 9,50 ( = Mc 9,39-40) để nhập lại với Máccô (tại 10,13-16). Giống như người Pharisêu coi người thu thuế là không xứng đáng với lòng thương xót của Thiên Chúa, thì các môn đệ coi trẻ nhỏ là không xứng đáng để Đức Giêsu lưu ý. Tội lỗi của người thu thuế có liên quan đến sự sửa sai trong 3,12-13 về việc không thu nhiều hơn số đã được ấn định.

[53] Thật kỳ lạ, Luca đã bỏ qua yếu tố trong Mc 10,33 nói rằng Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế cả và kinh sư (mặc dù thông tin tương tự đã được đưa vào trong lời tiên báo về cuộc khổ nạn đầu tiên của Luca và việc đó thực sự xảy ra trong trình thuật về cuộc khổ nạn của Luca) và rằng họ sẽ kết án tử hình cho Người (mặc dù Lc 24,20 quy tội giết người cho các thượng tế cả và các thủ lãnh “của chúng ta”).

[54] Trong 18,22-23, Đức Giêsu yêu cầu một môn đệ rất giàu bố thí tất cả những gì mình có cho người nghèo. Tinh thần hy sinh hay phần trăm tài sản mới là vấn đề quan trọng?

[55] Chúng ta chưa bao giờ nghe nói về bảy đầy tớ khác. Mátthêu có nguyên gốc hơn khi chỉ có ba người đầy tớ, hay ông đã cắt bớt trình thuật, làm những điều không cần thiết?

[56] Bối cảnh của Lc 19,12.14, 15a.27 có thể được gợi ý bởi lịch sử của Áckêlau, con trai của Hêrôđê Đại đế. Sau cái chết của cha mình, ông đến Rôma, được Hoàng đế Augustô phong làm vua. Trong khi ông rời Paléttin, bạo loạn đã nổ ra chống lại sự cai trị của ông; và sau đó, khi trở lại, với tư cách làm vua, ông tàn ác với dân của mình.

[57] B. R. Kinman, Jesus’s Entry into Jerusalem in the Context of Lukan Theology and the Politics of His Day (Leiden: Brill, 1995).

[58] Tính lịch sử của biến cố, đặc biệt trong kiểu văn chải chuốt của Luca, đang trong vòng tranh luận. Nếu người ta cho rằng một hành động tiên tri đơn giản hơn đã được kịch tính hóa, thì vẫn còn một cuộc tranh luận xem liệu điều này xảy ra sớm trong sứ vụ (như trong Ga 2,13-17) hoặc ngay trước khi Đức Giêsu chịu chết. Trong cả hai trình thuật, Đức Giêsu đang ở Giêrusalem khi Lễ Vượt Qua đến hoặc sẵn sàng.

[59] Có nhiều cách giải thích khác nhau, nhiều cách giải thích trong đó hoàn toàn xa lạ với bản văn (ví dụ, giải thích theo khả năng của mình), được A. G. Wright thảo luận trong CBQ 44 (1982), 256-265.

[60] Tuy nhiên, quyết định về cấu trúc phụ thuộc vào việc liệu người ta có đánh giá rằng Luca đã tách ngày quang lâm ra khỏi các biến cố của lịch sử đương đại hay không. Xin xem Y. Fusco, trong O’Collins, Luke 72-92.

[61] Xem ở trên để biết vấn đề liệu Lc 7,36-50 có phải là một biến thể của sự xức dầu trong Mc 14,3-9 hay không.

[62] Điều này khá phức tạp do vấn đề văn bản, bởi vì trong một số chứng cứ văn bản Tây Phương (Codex D, Latinh Cổ) 22, 19b-20, có chứa đoạn về ly thứ hai, bị thất lạc; xem Vấn đề I dưới đây. Giải pháp tốt nhất là nhận ra rằng việc rút gọn là tượng trưng cho sự sửa đổi của người ghi chép để loại bỏ những gì có vẻ như trùng lặp.

[63] x. Ga 6,51, “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

[64] Bằng cách đưa ra lời tiên báo về sự phản bội của Giuđa (xem phần “kẻ phản bội” được nói trong 6,16) sau khi ông tham dự Tiệc Thánh Thể. Có phải Luca cảnh báo độc giả của mình một cách sư phạm rằng việc tham dự Tiệc Thánh Thể không tự động bảo đảm cho hành vi đúng đắn?

[65] Tại sao họ có hai thanh gươm ở đây và một người trong họ có một thanh gươm khi Đức Giêsu bị bắt thì không rõ ràng (BDM 1.268-71 ), nhưng điều này hầu như không biến họ thành những kẻ làm cách mạng! Để nghiên cứu chi tiết về Lc 22,24-30, xin xem P. K. Nelson, Leadership and Discipleship (SBLDS 138, Atlanta: Scholars, 1994).

[66] Vấn đề đã được đặt ra là liệu người ta có nên nói về một phiên tòa trong Luca vì lời tường thuật của ông không có nhân chứng hay không: không đề cập đến thượng tế như một người thẩm vấn, không bị buộc tội phạm thượng, và không có án tử hình. Tuy nhiên, trong toàn bộ bức tranh của Luca, “phiên tòa” không phải là không phù hợp. Ở cuối tiến trình thủ tục (22,71), các thành viên trong Thượng Hội Đồng nói: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa?” Lc 24,20 nói rằng các thượng tế cả đã kết án tử hình cho Người (krima). Cv 13,27-28 nói về các thủ lãnh Giêrusalem đã kết án (krinein) Người.

[67] Việc bỏ sót này muốn nói rằng Luca không đề cập đến những người lính cho đến 23,36, trong trình thuật đóng đinh Người vào thập giá; và điều đó đã dẫn đến lời buộc tội (sai lầm) khi Luca miêu tả những người Do Thái tham gia đóng đinh Đức Giêsu. Xem tr. 39 ở trên và BDM 1.856-59.

[68] Ông thường được gọi là “tên trộm lành”; nhưng Luca gọi ông là “kẻ phạm tội” mà không nói rõ tội ác của ông, và mặc dù ông nhận mình bị trừng phạt thích đáng, nhưng ông không bao giờ bày tỏ sự thống hối. (Xem Lc 15,20 ở trên.) Có phải ngẫu nhiên mà kẻ phạm tội này là người duy nhất trong Tin mừng này hoặc bất kỳ Tin mừng nào gọi Đức Giêsu đơn giản là “Giêsu” mà không có từ bổ nghĩa nào khác không?

[69] Ở đó, Luca khai triển chân dung của Giuse Arimathê để giải thích rằng mặc dù ông là thành viên của Thượng Hội Đồng, nhưng ông đã không đồng ý với quyết định chống lại Đức Giêsu.

[70] R. J. Dillon, From Eyewitne es to Ministers of the Word:  . . .  Luke 24 (AnBib 82; Rome: PBI, 1978).

[71] Có sự chứng minh cho điều này trong 1 Cr 15,5, liệt kê việc Đức Giêsu hiện ra đầu tiên với Kêpha.

[72] Sự kết hợp giữa việc đọc Kinh thánh và bẻ bánh cuối cùng sẽ trở thành yếu tố cơ bản trong việc thờ phượng của Kitô hữu và do đó là nguồn nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu. Về Luca-Công vụ, xem A. A. Just, Jr., The Ongoing Feast, Table Fellowship and Eschatology at Emmaus (Collegeville: Liturgical, 1993).

[73] Trong Mátthêu sứ mệnh sẽ thành công vì ở đó Đức Giêsu phục sinh, Đấng được ban mọi quyền năng trên trời dưới đất, sẽ ở cùng Nhóm Mười Một mọi ngày cho đến tận thế; trong Luca, nó sẽ thành công vì Chúa Thánh Thần đã được hứa sẽ trao ban quyền năng cho Nhóm Mười Một.

[74] Văn bản Tây Phương (xem Vấn đề I dưới đây) bỏ qua việc “Người được đưa lên trời” – theo đánh giá của tôi, sự bỏ sót này là lỗi của người sao chép (vì mắt ông đã lướt qua các từ Hy Lạp) hoặc một sự cắt xén để tránh lặp lại hai lần thăng thiên trong Luca-Công vụ, pace Ehrman, Orthodox 227-232.

[75] Có thể so sánh với 80% Máccô được chép lại trong Mátthêu, chỉ có khoảng 65% được chép lại trong Luca, dài hơn một chút so với Mátthêu.

[76] M. Pettem, NTS 42 (1996), 35-54, cho rằng Luca không đồng ý với luận đề trong Mc 7,18-19 (“Sự Bỏ Sót Lớn”) rằng chính Đức Giêsu đã chống lại Luật về thức ăn; xem Cv 10.

[77] W. E. Pilgrim, Good News to the Poor:  Wealth and Poverty in Luke-Acts (Minneapolis: Augsburg, 1981); L. T. Johnson, Sharing Possessions (Pladelphia: Fortress. 1981 ); D. P. Seccombe, Possessions and the Poor in Luke-Acts (Linz: Plöchl, 1982).

[78] Liên quan đến điều này sẽ là việc Luca bỏ qua hoặc sửa đổi màu sắc địa phương của Máccô. Ví dụ, những người trong bữa ăn Lễ Vượt Qua chấm cùng một đĩa (Mc 14,20), và việc Luca đính chính những tuyên bố đáng ngờ của Máccô. Ví dụ, trong ngày lễ, Philatô thường thả bất kỳ tù nhân nào mà đám đông Do Thái yêu cầu (Mc 15,6).

[79] BBM 618-19; Fitzmyer, Luke 1,73-75. Những nỗ lực chính để thiết lập sự phụ thuộc của Luca vào Mátthêu, đó chính là Drury, Tradition; Goulder, Luke; và Franklin, Luke.

[80] BGJ l .xlvi-xlvii; BDM 1,86-92; Fitzmyer, Luke 1,87-88. Những người thừa nhận sự lệ thuộc thường hành động theo hướng khác: Gioan đã dựa vào Luca (trang 365 dưới đây).

[81] Các dụ ngôn và phép lạ chỉ có ở Luca là chìa khóa dẫn đến các nguồn dụ ngôn và phép lạ đã được thảo luận ở trên. Cứ cho rằng Luca đã dựa trên những nguồn đó, thì rất có thể ông đã biên soạn một số dụ ngôn và/hoặc những câu chuyện về phép lạ để bắt chước những điều trong các nguồn đó.

[82] Tannehill, Narrative, rất hữu ích về điểm này.

[83] Cái tên Loukas, là dạng rút gọn trong tiếng Hy Lạp của một tên Latinh (Lucius?), không cho chúng ta biết ông là Dân Ngoại hay người Do Thái.

[84] Cụm từ “chúng ta” trong 16,10-17 (“Hành Trình Truyền Giáo Thứ Hai,” từ Trôa đến Philípphê); 20,5-15; 2 1,1-18 (kết thúc “Hành Trình Truyền Giáo Thứ Ba,” từ Philípphê đến Giêrusalem); 27,1-28,16 (Tù nhân Phaolô bị điệu đến Rôma).

[85] Fitzmyer, Luke Theologian 1-22, và Franklin, Luke ủng hộ tranh luận mạnh mẽ. Một quan điểm thiểu số cho rằng Luca, người bạn đồng hành của Phaolô, sau Tông đồ Công vụ, cũng viết các Thư Mục Vụ, do đó thông tin về địa lý và tiểu sử của chúng tạo thành phần kết thúc đột ngột của Tông đồ Công vụ. Xem J. D. Quinn trong Talbert, Perspectives 62-1 5; S. G. Wilson, Luke and the Pastoral Epistles (London: SPCK, 1979), và ghi chú 1 ở trên về lý thuyết ba tập.

[86] Cuối thế kỷ thứ 4, Epiphanius (Panarion 51.11.6) tuyên bố rằng Luca là một trong 72 môn đệ (Lc 10,1). Tuy nhiên, gần hai thế kỷ trước đó, Tertullian (Adv. Marcion 4.2.1-2) đã coi Luca như là một “vị tông đồ”, khác biệt rõ ràng với các nhân chứng Tông đồ.

[87] Ví dụ công thức nhập đề bắt chước trong Lời Mở Đầu của ông, văn phong bản Bảy Mươi trong trình thuật thời thơ ấu, sự bóng bẩy cổ điển trong lời tuyên bố ở Areopagus của Phaolô ở Athêna (Cv 17,16-31), và mẫu rao giảng của Stêphanô khác với mẫu của Phêrô và Phaolô.  Người ta cho rằng văn phong của Luca trở nên ít Kinh Thánh hơn và mang tính Hy Lạp hơn khi trình thuật chuyển từ Tin mừng (tập trung ở Paléttin) sang Công vụ (trên đường đến Rôma).

[88] Đoạn đầu tiên về “chúng tôi” (Cv 16,10-17) được kéo dài đến 16,20, người bạn đồng hành “chúng tôi” được mô tả là người Do Thái.

[89] Có một đoạn văn “chúng tôi” có giá trị đáng ngờ xuất hiện trong Codex Bezae của Cv 11,28, một cảnh diễn ra ở hội thánh Antiôkia vào khoảng năm 44 AD. Fitzmyer, Luke 1.43-4 7, sẽ thêm khả năng Luca là người bản xứ dân Xyri ở Antiôkia (tức là người Sêmít, dân ngoại).

[90] chẳng hạn, Lc 4,38 thêm tính từ “cao” vào cơn sốt trong Mc 1,30; Lc 8,43 làm dịu đi lời chỉ trích gay gắt của các thầy thuốc trong Mc 5,26. W. K. Hobart, The Medical Language of St. Luke (Dublin: Hodges, Figgis, 1882) là người đề xuất tuyệt vời. Ông không thành thạo lắm trong việc phê bình Kinh Thánh (ví dụ, 80% danh sách 400 từ của ông được tìm thấy trong bản LXX); nhưng luận đề đã giành được sự ủng hộ từ các học giả nổi tiếng, W. M. Ramsay, Luke the Physician and Other Studies (New York: Doran, 1908), và Harnack, Luke.

[91] Xem Cadbury, Style 50-51; JBL 45 (1926), 190-206; 52 (1933), 55-65.

[92] Tyson, trong Images, nghĩ rằng độc giả được hình dung là các Dân ngoại được đạo Do Thái lôi kéo (những người kính sợ Chúa) và mục đích của Luca viết ra là để khiến họ chấp nhận Kitô giáo hơn đạo Do Thái. Tôi cho rằng những người Dân ngoại như vậy có thể là một thành phần quan trọng trong số những người nhận, nhưng không phải tất cả. Giọng điệu của sách Luca-Công vụ nghiêng về hướng này có lẽ một phần là do việc trình bày cho Theophilus (Lc 1,3; Cv 1,1), ông có lẽ là một Dân ngoại có thiện cảm với đạo Do Thái. Tên gọi làm chứng cho cả người Do Thái và Dân ngoại.

[93] Jervell, Luke, và Tiede, Prophecy, tranh luận với các Kitô hữu gốc Do Thái. Theo Tiede, họ đã lo lắng trước việc Đền thờ bị phá hủy, vì vậy Luca phải giải thích rằng điều này là do Ítraen không lưu tâm đến lời các Ngôn sứ và Đức Giêsu. Tuy nhiên, các tín hữu Dân ngoại trở lại, những người đã được dạy về giá trị của giao ước trong Cựu ước, có thể cũng lo lắng không kém về những gì đã xảy ra với Giêrusalem.

[94] E. A. LaVerdiere và W. G. Thompson, TS 37 (1976), 567-97 đưa ra một so sánh cực kỳ thú vị về các cộng đoàn khác nhau do Mátthêu và Luca đề cập.

[95] J. H. Neyrey, Biblica 61 (1980), 153-71.

[96] Việc Tin Mừng nhấn mạnh đến người nghèo và phê phán người giàu, và sự lý tưởng hóa trong Công vụ tự nguyện chia sẻ của cải muốn nói rằng cộng đoàn có tỷ lệ tầng lớp thấp cổ bé miệng nhiều hơn trong xã hội. Xem H. Moxnes, The Economy of the Kingdom: Social Conflict and Economic Relations in Luke’s Gospel (Philadelphia: Fortress, 1988); cũng L. T. Gioanson, The Literary Function of Possessions in Luke-Acts. (SBLDS 39; Missoula, MT, Scholars, 1977).

[97] Bock, Luke 1.14, liệt kê mười một gợi ý mà tôi sẽ chỉ trình bày những gợi ý nổi bật nhất. C. H. Talbert, Luke and the Gnostics: An Examine of the Lucan Purpose (Nashville: Abingdon, 1966), đã không theo đuổi nhiều về luận đề của mình, điều Luca đã viết để chống lại người theo thuyết ngộ đạo (xin xem Fitzmyer, Luke 1.11), nhưng nhấn mạnh nhân tính và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu và thẩm quyền hợp pháp của Người.

[98] H.F.D. Sparks, JTS NS 14 (1963) 457-66, đưa ra lời phê bình về ấn bản đầu tiên cuốn sách của O’Neill.

[99] Cassidy, trong tác phẩm Jesus, thấy tiềm năng làm cách mạng trong việc đảo ngược các giá trị trong kinh Magnificat và các mối phúc; các học giả khác thích nói về một cuộc cách mạng bất bạo động hoặc thậm chí chủ nghĩa hòa bình; J. M. Ford, My Enemy Is My Guest: Jesus and Violence in Luke (Maryknoll: Orbis, 1984).

[100] Có rất nhiều bài viết về chủ đề này, R. L. Brawley, Luke-Acts and the Jewishs, Confllict, Apology, and Conciliation (SBLMS 33; Atlanta, Scholars, 1987); J. T. Sanders, The Jews in Luke­Acts (Philadelphia: Fortress, 1987); F. J. Matera, JSNT 39 (1990), 77-93 (sắc thái hữu ích); J. B. Tyson, ed., Luke-Acts and the Jewish People: Eight Critical Perspectives (Minneapolis: Augsburg, 1988); J. B. Tyson, Images of Judaism in Luke-Acts (Columbia, SC: Univ. of South Carolina, 1992- thư mục rất hay); và J. A. Weatherly, Jewish Responsibility for the Death of Jesus in Luke­Acts (JSNTSup 106; Sheffield: Acadmic, 1994).

[101] Squires, trong tác phẩm Plan, chỉ ra cách độc giả trong thế giới Hy Lạp có thể tìm thấy những điểm tương đồng trong văn chương Hy-Mã nhấn mạnh đến sự quan phòng.

[102] Lc 11, 49-51; 13,34-35; 19,41-44; 21 ,20-24; 23,28-31. Có một cuộc tranh luận liệu 19,43-44 có chính xác đến nỗi nó phải được viết ra sau khi thành phố bị phá hủy không; 19,46 bỏ qua mô tả song song của Máccô rằng Đền thờ là nhà cầu nguyện “cho mọi dân tộc”, có lẽ vì Đền thờ đã bị phá hủy khi Luca viết; 21,20 thay thế một bức tranh về Giêrusalem bị quân đội bao vây thay cho biểu tượng “Đồ-Ghê-Tởm-Khốc-Hại” của Mc 13,14; 21,23 bỏ qua sự chạy trốn vào mùa Đông của Máccô (vì Luca biết rằng Giêrusalem đã bị phá hủy vào tháng 8 hoặc tháng 9?). Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng việc không có một Tin mừng cụ thể, rõ ràng nào (hoặc, thực sự một trang Tân ước nào) đề cập đến sự phá hủy Đền Thờ như đã xảy ra vẫn còn là một vấn đề, vì lẽ ra nó phải có một tác động lớn trên các Kitô hữu (Chương 7 trên, ghi chú 93).

[103] Có một ít người đề cập đến ngày biên soạn của Luca-Công vụ vào thế kỷ thứ 2 (đôi khi muộn nhất là vào năm 150 AD), được viết ra để bác bỏ các phong trào không chính thống của thời kỳ đó. Ví dụ, O’Neill, Theology; J. T. Townsend, trong Talbert, Luke-Acts 47-62.

[104] Xem K. Snodgrass, JBL 91 (1972), 369-79; G. E. Rice, trong Talbert, Luke-Acts 1-16; A. W. Zwiep, NTS 42 (1996), 219-44.

[105] Chủ đề về Đấng Mêsia tái xuất mạnh mẽ trong Công vụ; xem M. L. Strauss, The Davidic Messiah in Luke-Acts (JSNTSup 110; Sheffield: Academic, 1995).

[106] Rất hữu ích ở đây là Fitzmyer, Luke, với bản dịch chính xác các động từ trong các đoạn về Nước Trời và nhiều cách giải thích chủ đề Nước Trời (ví dụ, 1.154-57; 2.1159).

CÙNG CHUYÊN MỤC

Mục Lục