Thông điệp: Dilexit Nos của ĐTC Phanxicô về Thánh Tâm Chúa

Rate this post

ENCICLICAL LETTER: DILEXIT NOS OF THE HOLY FATHER FRANCIS
ON THE HUMAN AND DIVINE LOVE OF THE HEART OF JESUS CHRIST

1. “HE LOVED US”, Saint Paul says of Christ (cf. Rom 8,37), in order to make us realize that nothing can ever “separate us” from that love (Rom 8,39). Paul could say this with certainty because Jesus himself had told his disciples, “I have loved you” (Jn 15,9, 12). Even now, the Lord says to us, “I have called you friends” (Jn 15,15). His open heart has gone before us and waits for us, unconditionally, asking only to offer us his love and friendship. For “he loved us first” (cf. 1 Jn 4,10). Because of Jesus, “we have come to know and believe in the love that God has for us” (1 Jn 4,16). 

 

Thông điệp: DILEXIT NOS của ĐTC Phanxicô
VỀ TÌNH YÊU CỦA THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU KITÔ, ĐẤNG VỪA LÀ THIÊN CHÚA VỪA LÀ CON NGƯỜI

Nguồn: Dilexit nos (24 October 2024) | Francis

Bản dịch của  Lm. Bênađô Trần Nghiêm, O.Cist

Thánh Phaolô nói về Chúa Kitô, “Đấng đã yêu mến chúng ta” (x. Rm 8,37) để làm cho chúng ta nhận biết rằng không có gì có thể “tách chúng ta” ra khỏi tình yêu đó (Rm 8,39). Thánh Phaolô có thể nói điều này một cách xác tín bởi vì chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người: “Thầy cũng yêu mến anh em” (Ga 15,9.12). Thậm chí ngay bây giờ, Chúa cũng nói với chúng ta: “Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,15). Trái tim rộng mở của Người đã đi trước chúng ta và chờ đợi chúng ta một cách vô điều kiện, chỉ để xin dâng hiến tình yêu và tình bạn cho chúng ta, vì “Người đã yêu thương chúng ta trước” (x. 1 Ga 4,10). Nhờ Chúa Giêsu, “chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó” (1 Ga 4,16).

CHAPTER ONE

THE IMPORTANCE OF THE HEART

2. The symbol of the heart has often been used to express the love of Jesus Christ. Some have questioned whether this symbol is still meaningful today. Yet living as we do in an age of superficiality, rushing frenetically from one thing to another without really knowing why, and ending up as insatiable consumers and slaves to the mechanisms of a market unconcerned about the deeper meaning of our lives, all of us need to rediscover the importance of the heart.[1]

CHƯƠNG I:
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÁI TIM

Biểu tượng trái tim thường được sử dụng để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Một số người đặt vấn đề, liệu biểu tượng này có còn ý nghĩa cho ngày hôm nay hay không. Tuy nhiên, sống như chúng ta đang sống hiện nay là trong một thời đại sống hời hợt, lao đi một cách điên cuồng từ đối tượng này sang đối tượng khác mà không thực sự cần biết lý do, và cuối cùng trở thành những kẻ tiêu thụ vô độ và làm nô lệ cho cơ chế thị trường, nhưng không quan tâm đến ý nghĩa sâu xa của cuộc sống. Vì thế, tất cả chúng ta đều cần phải khám phá lại tầm quan trọng của con tim.

WHAT DO WE MEAN BY “THE HEART”?

3. In classical Greek, the word kardíadenotes the inmost part of human beings, animals and plants. For Homer, it indicates not only the centre of the body, but also the human soul and spirit. In the Iliad, thoughts and feelings proceed from the heart and are closely bound one to another.[2]The heart appears as the locus of desire and the place where important decisions take shape. [3]  In Plato, the heart serves, as it were, to unite the rational and instinctive aspects of the person, since the impulses of both the higher faculties and the passions were thought to pass through the veins that converge in the heart. [4]  From ancient times, then, there has been an appreciation of the fact that human beings are not simply a sum of different skills, but a unity of body and soul with a coordinating centre that provides a backdrop of meaning and direction to all that a person experiences.

CHÚNG TA MUỐN NÓI GÌ KHI NÓI VỀ “TRÁI TIM”?

Trong tiếng Hy Lạp cổ, chữ kardía biểu thị một phần sâu xa nhất của cơ thể con người, con vật và cây cỏ. Đối với Hômê, trái tim biểu thị không chỉ là trung tâm của thân thể mà còn là trung tâm của linh hồn và tinh thần con người nữa. Trong sử thi Iliát, tư tưởng và cảm xúc xuất phát từ trái tim và chúng gắn kết chặt chẽ với nhau. [2] Trái tim xuất hiện như là nơi ham muốn và là nơi hình thành những quyết định quan trọng.[3] Theo Platon, trái tim có chức năng hợp nhất các khía cạnh lý trí và bản năng của con người, vì các xung lực các tài năng cao hơn và các đam mê được cho là đi qua các tĩnh mạch hội tụ trong trái tim.[4] Do đó, từ xa xưa, người ta đã chân nhận rằng con người không chỉ đơn giản là tổng hợp các kỹ năng khác nhau, mà còn là sự thống nhất giữa thể xác và tâm hồn với một trung tâm điều phối cung cấp bối cảnh ý nghĩa và định hướng cho tất cả những điều mà một người trải nghiệm.

4. The Bible tells us that, “the Word of God is living and active… it is able to judge the thoughts and intentions of the heart” (Heb4,12). In this way, it speaks to us of the heart as a core that lies hidden beneath all outward appearances, even beneath the superficial thoughts that can lead us astray. The disciples of Emmaus, on their mysterious journey in the company of the risen Christ, experienced a moment of anguish, confusion, despair and disappointment. Yet, beyond and in spite of this, something was happening deep within them: “Were not our hearts burning within us while he was talking to us on the road?” (Lk 24,32).
Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu … lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Hr 4,12). Với cách này, lời đó nói với chúng ta về trái tim như cái cốt lõi ẩn giấu bên dưới vỏ bọc bên ngoài, ngay cả bên trong những tư tưởng hời hợt có thể khiến chúng ta lạc lối. Hai môn đệ trên đường Emmau, một hành trình huyền nhiệm, song hành với Chúa Kitô phục sinh, đã trải qua giây phút đau khổ, bối rối, thất vọng và tuyệt vọng. Tuy nhiên, dù có những khoảnh khắc này, nhưng có điều gì đó vẫn đang diễn ra sâu thẳm bên trong họ: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32).

5. The heart is also the locus of sincerity, where deceit and disguise have no place. It usually indicates our true intentions, what we really think, believe and desire, the “secrets” that we tell no one: in a word, the naked truth about ourselves. It is the part of us that is neither appearance or illusion, but is instead authentic, real, entirely “who we are”. That is why Samson, who kept from Delilah the secret of his strength, was asked by her, “How can you say, ‘I love you’, when your heart is not with me?” (Judg16,15). Only when Samson opened his heart to her, did she realize “that he had told her his whole secret” (Judg16,18).

Trái tim cũng là nơi chứa đựng sự chân thành, nơi mà sự lừa dối và ngụy trang không có chỗ đứng. Nó thường biểu thị những ý định thực sự của chúng ta, những gì chúng ta thực sự suy nghĩ, tin tưởng và ham muốn, những “bí mật” mà chúng ta không tâm sự với ai: lời nói, sự thật trần trụi về bản thân chúng ta. Nó thuộc thành phần của chúng ta, không phải là vẻ bề ngoài hay ảo ảnh, mà đó là cái chân thực, thực tại, hoàn toàn nói lên “chúng ta là ai”. Đó là lý do tại sao ông Samson, người đã giấu kín bí mật về sức mạnh của mình với Đalila, đã được cô hỏi: “Làm sao anh nói là anh yêu em, trong khi anh không thật lòng với em?” (TL 16,15). Chỉ khi ông Samson mở lòng với cô, cô mới nhận ra rằng “ông đã thổ lộ hết tâm can với nàng” (TL 16,18).

6. This interior reality of each person is frequently concealed behind a great deal of “foliage”, which makes it difficult for us not only to understand ourselves, but even more to know others: “The heart is devious above all else; it is perverse, who can understand it?” (Jer17,9). We can understand, then, the advice of the Book of Proverbs: “Keep your heart with all vigilance, for from it flow the springs of life; put away from you crooked speech” (4,23-24). Mere appearances, dishonesty and deception harm and pervert the heart. Despite our every attempt to appear as something we are not, our heart is the ultimate judge, not of what we show or hide from others, but of who we truly are. It is the basis for any sound life project; nothing worthwhile can be undertaken apart from the heart. False appearances and untruths ultimately leave us empty-handed.

Thực tại nội tâm này của mỗi người thường được giấu kín đằng sau nhiều “lớp lá”, khiến chúng ta không chỉ khó hiểu chính mình mà còn khó hiểu tha nhân hơn: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được?” (Gr 17,9). Vì vậy, chúng ta có thể hiểu lời khuyên của Sách Châm ngôn: “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ, vì từ đó mà sự sống phát sinh. Miệng lọc lừa, con đẩy cho xa, môi thâm độc, con xua cho khuất” (4,23-24). Vẻ bề ngoài, sự bất lương và sự lừa dối làm tổn hại và hư hỏng con tim. Dù chúng ta tìm mọi cách tỏ ra như không có chuyện gì, nhưng con tim vẫn là thẩm phán cuối cùng, không phải về những gì chúng ta thể hiện hay che giấu đối với tha nhân, mà về con người thật của chúng ta. Trái tim là nền tảng cho mọi dự án cuộc sống lành mạnh; không có gì xứng đáng đảm bảo hơn con tim. Vẻ bên ngoài và sự giả dối rốt cuộc khiến chúng ta trắng tay.

7. As an illustration of this, I would repeat a story I have already told on another occasion. “For the carnival, when we were children, my grandmother would make a pastry using a very thin batter. When she dropped the strips of batter into the oil, they would expand, but then, when we bit into them, they were empty inside. In the dialect we spoke, those cookies were called ‘lies’… My grandmother explained why: ‘Like lies, they look big, but are empty inside; they are false, unreal’”.[5]

Để minh họa cho điều này, tôi xin kể lại một câu chuyện tôi đã kể ở một dịp khác. “Trong lễ hội hóa trang, khi chúng tôi còn nhỏ, bà nội tôi thường làm bánh ngọt bằng một dải bột rất mỏng. Khi bà thả các dải bột vào dầu, chúng sẽ nở ra, nhưng khi chúng tôi cắn vào thì bên trong chúng trống rỗng. Trong phương ngữ chúng tôi, những chiếc bánh đó có tên là ‘dối trá’… Bà tôi giải thích lý do: ‘Giống như những lời nói dối, chúng trông có vẻ chắc chắn nhưng bên trong lại trống rỗng; chúng là giả, không có thật’”.[5]

8. Instead of running after superficial satisfactions and playing a role for the benefit of others, we would do better to think about the really important questions in life. Who am I, really? What am I looking for? What direction do I want to give to my life, my decisions and my actions? Why and for what purpose am I in this world? How do I want to look back on my life once it ends? What meaning do I want to give to all my experiences? Who do I want to be for others? Who am I for God? All these questions lead us back to the heart.

Thay vì chạy theo những thỏa mãn hời hợt bên ngoài và trong vai vì lợi ích tha nhân, thì tốt hơn chúng ta nên suy nghĩ về những vấn đề thực sự quan trọng trong cuộc sống. Tôi thực sự là ai? Tôi đang tìm kiếm cái gì? Tôi muốn đưa ra hướng đi nào cho cuộc sống, cho những quyết định và hành động của mình? Tại sao và với mục đích nào mà tôi lại hiện hữu trên thế gian này? Khi cuộc đời kết thúc, tôi muốn nhìn lại nó như thế nào? Tôi muốn gán ý nghĩa nào cho tất cả những chuyện tôi đã trải qua? Đối với tha nhân, tôi là ai? Đối với Chúa, tôi là ai? Tất cả những câu hỏi này đưa chúng ta trở về lại với con tim.

QUAY VỀ VỚI CON TIM

9. In this “liquid” world of ours, we need to start speaking once more about the heart and thinking about this place where every person, of every class and condition, creates a synthesis, where they encounter the radical source of their strengths, convictions, passions and decisions. Yet, we find ourselves immersed in societies of serial consumers who live from day to day, dominated by the hectic pace and bombarded by technology, lacking in the patience needed to engage in the processes that an interior life by its very nature requires. In contemporary society, people “risk losing their centre, the centre of their very selves”. [6] “Indeed, the men and women of our time often find themselves confused and torn apart, almost bereft of an inner principle that can create unity and harmony in their lives and actions. Models of behaviour that, sadly, are now widespread exaggerate our rational-technological dimension or, on the contrary, that of our instincts”. [7] No room is left for the heart.

Trong thế giới “lỏng lẻo” này của chúng ta, chúng ta cần phải bắt đầu nói lại về con tim và suy nghĩ về thế giới này, nơi mà mỗi người, thuộc mọi tầng lớp và hoàn cảnh khác nhau, đang tạo ra một tổng hợp, nơi họ cảm nghiệm được nguồn lực căn bản của sức mạnh, niềm tin, đam mê và những quyết định. Tuy nhiên, chúng ta chìm vào những nhóm người tiêu thụ xếp hàng nối tiếp nhau hằng ngày, những người sống trong môi trường có nhịp độ sống cuồng sống vội và bị công nghệ thúc đẩy dồn dập, và thiếu kiên nhẫn cần thiết để tham gia vào quy trình mà một người nội tâm tự nó đòi hỏi. Trong xã hội hiện đại, con người “có nguy cơ đánh mất căn cốt của chính bản thân mình”.[6] “Thật vậy, người nam và người nữ trong thời đại chúng ta thường cảm thấy bối rối và giằng xé, gần như đánh mất nguyên tắc nội tâm, điều có thể tạo ra sự hiệp nhất và hài hòa trong đời sống và hành động của họ. Đáng buồn thay, những mô hình hành vi hiện đang được phổ biến rộng rãi đã phóng đại chiều kích công nghệ trí tuệ của chúng ta hoặc trái lại, phóng đại chiều kích bản năng của chúng ta”.[7] Không còn chỗ cho con tim.

10. The issues raised by today’s liquid society are much discussed, but this depreciation of the deep core of our humanity – the heart – has a much longer history. We find it already present in Hellenic and pre-Christian rationalism, in post-Christian idealism and in materialism in its various guises. The heart has been ignored in anthropology, and the great philosophical tradition finds it a foreign notion, preferring other concepts such as reason, will or freedom. The very meaning of the term is imprecise and hard to situate within our human experience. Perhaps this is due to the difficulty of treating it as a “clear and distinct idea”, or because it entails the question of self-understanding, where the deepest part of us is also that which is least known. Even encountering others does not necessarily prove to be a way of encountering ourselves, inasmuch as our thought patterns are dominated by an unhealthy individualism. Many people feel safer constructing their systems of thought in the more readily controllable domain of intelligence and will. The failure to make room for the heart, as distinct from our human powers and passions viewed in isolation from one another, has resulted in a stunting of the idea of a personal centre, in which love, in the end, is the one reality that can unify all the others.

Các vấn đề mà xã hội lỏng lẻo ngày nay đặt ra đã được thảo luận nhiều, nhưng sự coi thường điều cốt lõi sâu xa của nhân loại chúng ta – trái tim – đã có từ rất lâu rồi. Chúng ta thấy nó đã hiện diện trong thuyết duy lý thời Hy Lạp và thời tiền Kitô giáo, trong thuyết duy tâm thời hậu Kitô giáo và trong chủ nghĩa duy vật dưới nhiều chiêu bài khác nhau. Trái tim đã bị bỏ qua trong nhân học, và truyền thống triết học lớn coi nó là một ý niệm xa lạ, thích các khái niệm khác chẳng hạn như lý trí, ý chí hay tự do hơn. Nghĩa căn cốt của thuật ngữ này không chính xác và khó xác định trong cảm nghiệm của con người. Có lẽ điều này xảy ra là vì khó xác định được nó như một “ý tưởng rõ ràng và phân biệt”, hoặc bởi vì nó kèm theo vấn đề về sự tự nhận thức, nơi phần sâu nhất của chúng ta, và cũng là phần ít được biết đến nhất. Ngay cả việc gặp gỡ tha nhân cũng không nhất thiết chứng tỏ đó là một cách gặp gỡ chính mình, dù lối suy nghĩ của chúng ta bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân không lành mạnh. Nhiều người cảm thấy an toàn hơn khi xây dựng hệ thống tư duy của họ trong lĩnh vực trí tuệ và ý chí dễ kiểm soát hơn. Ý tưởng về một trung tâm cá nhân, trong đó tình yêu sau cùng là một thực tại duy nhất có thể hợp nhất tất cả mọi thành phần khác, đã bị cản trở do không thể nhường chỗ cho trái tim, khác với sức mạnh và niềm đam mê của con người dường như bị coi là cô lập với nhau.

11. If we devalue the heart, we also devalue what it means to speak from the heart, to act with the heart, to cultivate and heal the heart. If we fail to appreciate the specificity of the heart, we miss the messages that the mind alone cannot communicate; we miss out on the richness of our encounters with others; we miss out on poetry. We also lose track of history and our own past, since our real personal history is built with the heart. At the end of our lives, that alone will matter.

Nếu chúng ta hạ thấp tầm quan trọng của con tim, chúng ta cũng hạ giá những điều xuất phát từ con tim, những gì con tim hành động, nuôi dưỡng và chữa lành. Chúng ta đánh mất chất thơ, sự tương tác sâu sắc với người khác và những thông điệp mà trí óc không thể truyền tải nếu chúng ta không nhận ra sự độc đáo của con tim. Vì lịch sử cá nhân của chúng ta được hình thành do con tim của chúng ta nên chúng ta cũng đánh mất lịch sử và quá khứ của chính mình. Đó là tất cả những gì sẽ quan trọng khi chúng ta sắp chết.

12. It must be said, then, that we have a heart, a heart that coexists with other hearts that help to make it a “Thou”. Since we cannot develop this theme at length, we will take a character from one of Dostoevsky’s novels, Nikolai Stavrogin. [8] Romano Guardini argues that Stavrogin is the very embodiment of evil, because his chief trait is his heartlessness: “Stavrogin has no heart, hence his mind is cold and empty and his body sunken in bestial sloth and sensuality. He has no heart, hence he can draw close to no one and no one can ever truly draw close to him. For only the heart creates intimacy, true closeness between two persons. Only the heart is able to welcome and offer hospitality. Intimacy is the proper activity and the domain of the heart. Stavrogin is always infinitely distant, even from himself, because a man can enter into himself only with the heart, not with the mind. It is not in a man’s power to enter into his own interiority with the mind. Hence, if the heart is not alive, man remains a stranger to himself”. [9]

Do đó, phải nói rằng chúng ta có một trái tim, một trái tim cùng tồn tại với những trái tim khác, giúp nó trở thành “Bạn”. Vì chúng tôi không thể trình bày chủ đề này một cách dài dòng nên chúng tôi sẽ lấy một trong các nhân vật của tiểu thuyết của Dostoevsky, đó là anh Nikolai Stavrogin.[8] Romano Guardini cho rằng anh Stavrogin chính là hiện thân của cái ác, vì đặc điểm chính của anh ta là sự vô tâm: “Stavrogin không có trái tim, do đó tâm trí anh lạnh lùng và trống rỗng và thân xác anh chìm đắm trong lười biếng và lạc thú. Anh không có trái tim, do đó anh không thể gần gũi với ai và không ai có thể thực sự gần gũi với anh ta. Vì chỉ có trái tim mới thể hiện sự thân mật, gần gũi thực sự giữa hai người. Chỉ có trái tim mới có thể đón chào và thể hiện lòng hiếu khách. Sự thân mật là hoạt động thích hợp và là lĩnh vực của trái tim. Anh Stavrogin luôn tỏ ra xa cách muôn trùng, thậm chí với chính anh, bởi vì một người chỉ có thể đi vào nội tâm của chính mình bằng trái tim chứ không phải bằng lý trí. Con người không thể sử dụng trí tuệ của mình để đi vào nội tâm của chính mình. Vì vậy, nếu trái tim không còn sống động, thì con người vẫn là người xa lạ với chính mình”.[9]

13. All our actions need to be put under the “political rule” of the heart. In this way, our aggressiveness and obsessive desires will find rest in the greater good that the heart proposes and in the power of the heart to resist evil. The mind and the will are put at the service of the greater good by sensing and savouring truths, rather than seeking to master them as the sciences tend to do. The will desires the greater good that the heart recognizes, while the imagination and emotions are themselves guided by the beating of the heart.

Mọi hành động của chúng ta cần phải đặt dưới “sự quản trị” của trái tim. Hiểu theo nghĩa này, những điều thiện cao cả hơn mà trái tim gợi ra và khả năng chống lại cái ác của nó sẽ ngăn chặn được sự hung hăng và những ham muốn thúc bách của chúng ta. Lý trí và ý chí được dựng nên để làm những điều thiện cao cả hơn nhờ cảm nhận và thưởng thức các chân lý, thay vì tìm cách làm chủ chúng như các ngành khoa học thường làm. Ý chí mong muốn làm những điều thiện cao cả mà con tim nhận biết, còn nhịp đập của con tim đóng vai trò định hướng cho trí tưởng tượng và cảm xúc.

14. It could be said, then, that I am my heart, for my heart is what sets me apart, shapes my spiritual identity and puts me in communion with other people. The algorithms operating in the digital world show that our thoughts and will are much more “uniform” than we had previously thought. They are easily predictable and thus capable of being manipulated. That is not the case with the heart.

Như vậy, có thể nói rằng tôi chính là trái tim của tôi, vì trái tim tôi là thứ làm cho tôi khác người khác; nó định hình căn tính thiêng liêng của tôi và giúp tôi hiệp thông với tha nhân. Các thuật toán vận hành trong thế giới số cho thấy tư tưởng và ý chí của chúng ta “đồng nhất” hơn rất nhiều so với những gì chúng ta từng nghĩ. Chúng dễ dàng dự đoán được và do đó có khả năng bị thao túng. Điều đó không xuất phát từ trái tim.

15. The word “heart” proves its value for philosophy and theology in their efforts to reach an integral synthesis. Nor can its meaning be exhausted by biology, psychology, anthropology or any other science. It is one of those primordial words that “describe realities belonging to man precisely in so far as he is one whole (as a corporeo-spiritual person)”. [10] It follows that biologists are not being more “realistic” when they discuss the heart, since they see only one aspect of it; the whole is not less real, but even more real. Nor can abstract language ever acquire the same concrete and integrative meaning. The word “heart” evokes the inmost core of our person, and thus it enables us to understand ourselves in our integrity and not merely under one isolated aspect.

Trong nỗ lực đạt tới một tổng hợp toàn diện, triết học và thần học chứng minh giá trị của từ “trái tim”. Hơn nữa, không có ngành khoa học nào – sinh học, tâm lý học, nhân chủng học hay bất kỳ ngành nào khác – có thể nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là một trong những từ nguyên thủy “mô tả những thực tại thuộc về con người một cách chính xác theo nghĩa con người là một toàn thể (như là một con người gồm thể xác-tinh thần)”.[10] Theo đó, các nhà sinh vật học cũng không “thực tế” hơn khi họ thảo luận về trái tim, vì họ chỉ nhìn thấy một khía cạnh của nó; cái toàn thể không hề ít chân thực mà thậm chí còn chân thực hơn. Ngôn ngữ trừu tượng cũng chưa từng có được ý nghĩa cụ thể và thống nhất như vậy. Từ “trái tim” gợi nhớ điều cốt lõi sâu thẳm nhất của con người chúng ta, và do đó nó giúp chúng ta tự nhận thức cái toàn vẹn của chúng ta chứ không phải đơn thuần ở khía cạnh biệt lập.

16. This unique power of the heart also helps us to understand why, when we grasp a reality with our heart, we know it better and more fully. This inevitably leads us to the love of which the heart is capable, for “the inmost core of reality is love”. [11] For Heidegger, as interpreted by one contemporary thinker, philosophy does not begin with a simple concept or certainty, but with a shock: “Thought must be provoked before it begins to work with concepts or while it works with them. Without deep emotion, thought cannot begin. The first mental image would thus be goose bumps. What first stirs one to think and question is deep emotion. Philosophy always takes place in a basic mood ( Stimmung)”. [12] That is where the heart comes in, since it “houses the states of mind and functions as a ‘keeper of the state of mind’. The ‘heart’ listens in a non-metaphoric way to ‘the silent voice’ of being, allowing itself to be tempered and determined by it”. [13]

Quyền lực duy nhất này của trái tim cũng giúp chúng ta hiểu tại sao và khi nào chúng ta nắm bắt được một thực tại bằng trái tim, lúc chúng ta biết nó rõ hơn và đầy đủ hơn. Điều này chắc chắn dẫn chúng ta đến tình yêu mà trái tim có thể có được, vì “cốt lõi sâu xa nhất của thực tại chính là tình yêu”.[11] Với Heidegger, trong vai một nhà tư tưởng đương thời giải thích, triết học không khởi đầu bằng một khái niệm đơn giản hay một điều chắc chắn, mà bằng một cú sốc: “Tư duy phải được kích thích trước khi nó bắt đầu làm việc với các khái niệm hoặc trong khi nó làm việc với chúng. Nếu không có cảm xúc sâu sắc, thì tư duy không thể bắt đầu. Do đó, ý niệm trong tâm trí ban đầu làm nổi da gà. Những điều ban đầu khiến người ta phải suy tư và đặt vấn đề là cảm xúc sâu sắc. Triết học luôn diễn ra trong tâm trạng nền tảng (Stimmung)”.[12] Đó là nơi trái tim xuất hiện, vì nó là “nơi cư ngụ của các trạng thái tâm hồn và hoạt động như một ‘kẻ bảo vệ trạng thái tâm hồn’. ‘Trái tim’ lắng nghe ‘tiếng nói thầm lặng’ của hiện hữu một cách phi ẩn dụ, để giúp nó kiềm chế và đi đến quyết định”.[13]

THE HEART UNITES THE FRAGMENTS

17. At the same time, the heart makes all authentic bonding possible, since a relationship not shaped by the heart is incapable of overcoming the fragmentation caused by individualism. Two monads may approach one another, but they will never truly connect. A society dominated by narcissism and self-centredness will increasingly become “heartless”. This will lead in turn to the “loss of desire”, since as other persons disappear from the horizon we find ourselves trapped within walls of our own making, no longer capable of healthy relationships. [14] As a result, we also become incapable of openness to God. As Heidegger puts it, to be open to the divine we need to build a “guest house”. [15]

TRÁI TIM HỢP NHẤT NHỮNG ĐỔ VỠ

Đồng thời, trái tim làm cho mọi mối tương quan đích thực trở nên lạc quan, vì một mối tương quan mà không được trái tim hình thành nên thì sẽ không thể nào vượt qua được những đổ vỡ do chủ nghĩa cá nhân gây ra. Hai đơn nguyên tử có thể tiếp cận nhau nhưng chúng sẽ không bao giờ thực sự liên kết với nhau. Một xã hội bị lòng tự ái và tính ích kỷ điều khiển sẽ ngày càng trở nên “vô tâm”. Điều này sẽ dẫn đến việc “không còn ham muốn”, vì khi tha nhân biến mất khỏi chân trời của mình, chúng ta sẽ thấy mình bị mắc kẹt trong những bức tường do chính mình xây nên, và không còn có thể tìm thấy mối tương quan lành mạnh nào.[14] Kết quả là chúng ta cũng trở nên không có khả năng mở lòng ra với Thiên Chúa. Như Heidegger đã nói, để mở lòng ra với Thiên Chúa, chúng ta cần phải xây một “nhà khách”.[15]

18. We see, then, that in the heart of each person there is a mysterious connection between self-knowledge and openness to others, between the encounter with one’s personal uniqueness and the willingness to give oneself to others. We become ourselves only to the extent that we acquire the ability to acknowledge others, while only those who can acknowledge and accept themselves are then able to encounter others.

Do đó, chúng ta thấy rằng trong trái tim mỗi người có một mối liên hệ huyền nhiệm giữa sự nhận thức chính mình và cởi mở với tha nhân, cũng như giữa việc cảm nhận sự độc đáo nơi chính mình và việc sẵn sàng hiến thân cho tha nhân. Chúng ta chỉ trở thành chính mình khi chúng ta có khả năng thừa nhận người khác, và chỉ những ai có khả năng thừa nhận và chấp nhận bản thân mới có thể gặp gỡ người khác.

19. The heart is also capable of unifying and harmonizing our personal history, which may seem hopelessly fragmented, yet is the place where everything can make sense. The Gospel tells us this in speaking of Our Lady, who saw things with the heart. She was able to dialogue with the things she experienced by pondering them in her heart, treasuring their memory and viewing them in a greater perspective. The best expression of how the heart thinks is found in the two passages in Saint Luke’s Gospel that speak to us of how Mary “treasured (synetérei) all these things and pondered (symbállousa) them in her heart” (cf. Lk2,19 and 51). The Greek verb symbállein, “ponder”, evokes the image of putting two things together (“symbols”) in one’s mind and reflecting on them, in a dialogue with oneself. In Luke 2,51, the verb used is dietérei, which has the sense of “keep”. What Mary “kept” was not only her memory of what she had seen and heard, but also those aspects of it that she did not yet understand; these nonetheless remained present and alive in her memory, waiting to be “put together” in her heart.

Trái tim cũng có khả năng thống nhất và hòa quyện lịch sử cá nhân của chúng ta, vốn chúng có vẻ như hoàn toàn rời rạc, nhưng lại chính là nơi làm cho mọi thứ có ý nghĩa. Tin Mừng cho chúng ta biết điều này khi nói về Đức Mẹ, Đấng đã nhìn mọi vật bằng trái tim. Mẹ có thể suy đi nghĩ lại những điều Mẹ vừa trải qua bằng cách tự vấn mọi sự trong lòng, ghi nhớ các kỷ niệm và nhìn chúng từ một góc độ rộng lớn hơn. Cách bày tỏ hay nhất về cách trái tim suy tư được tìm thấy trong hai đoạn Tin Mừng mà thánh Luca kể cho chúng ta biết về cách Đức Maria “hằng ghi nhớ (synetérei) mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại (symbállousa) trong lòng” (x. Lc 2,19 và 51). Động từ Hy Lạp symbállein, “tự hỏi”, gợi lên hình ảnh đặt hai sự vật lại với nhau (“các biểu tượng”) trong tâm trí và suy gẫm về chúng, trong cuộc đối thoại với chính mình. Trong Lc 2,51, ông dùng động dietérei, có nghĩa là “lưu giữ lại”. Những gì Mẹ Maria “lưu giữ lại” không chỉ là kỷ niệm về những điều Mẹ đã thấy và đã nghe, mà còn là những khía cạnh mà Mẹ chưa hiểu; tuy nhiên, những điều này vẫn hiện diện và sống động trong ký ức của Mẹ, chờ để được “đặt lại với nhau” trong trái tim Mẹ.

20. In this age of artificial intelligence, we cannot forget that poetry and love are necessary to save our humanity. No algorithm will ever be able to capture, for example, the nostalgia that all of us feel, whatever our age, and wherever we live, when we recall how we first used a fork to seal the edges of the pies that we helped our mothers or grandmothers to make at home. It was a moment of culinary apprenticeship, somewhere between child-play and adulthood, when we first felt responsible for working and helping one another. Along with the fork, I could also mention thousands of other little things that are a precious part of everyone’s life: a smile we elicited by telling a joke, a picture we sketched in the light of a window, the first game of soccer we played with a rag ball, the worms we collected in a shoebox, a flower we pressed in the pages of a book, our concern for a fledgling bird fallen from its nest, a wish we made in plucking a daisy. All these little things, ordinary in themselves yet extraordinary for us, can never be captured by algorithms. The fork, the joke, the window, the ball, the shoebox, the book, the bird, the flower: all of these live on as precious memories “kept” deep in our heart.

Trong thời đại dùng trí tuệ nhân tạo này, chúng ta không thể quên rằng chất thơ và tình yêu là những điều cần thiết để cứu nhân loại. Chẳng hạn, sẽ không có thuật toán nào có thể ghi lại được nỗi nhớ mà tất cả chúng ta đều cảm thấy, dù chúng ta ở độ tuổi nào và sống ở đâu, lúc chúng ta nhớ lại lần đầu dán mép bánh nướng, chúng ta đã giúp mẹ hoặc bà nướng bánh ở nhà bằng một chiếc nĩa. Đó là khoảnh khắc học nghề nấu nướng, ở đâu đó giữa thời thơ ấu và tuổi trưởng thành, khi chúng ta lần đầu cảm thấy có trách nhiệm làm việc và giúp đỡ lẫn nhau. Cùng với chuyện chiếc nĩa, tôi cũng có thể kể đến hàng nghìn điều nhỏ nhặt khác nhưng lại là một phần quý báu trong cuộc sống của mỗi người: một nụ cười mà chúng ta có được khi kể chuyện cười, một bức tranh chúng ta phác họa dưới ánh sáng cửa sổ, một quả bóng giẻ rách mà lần đầu tiên chúng ta chơi, những con sâu chúng ta thu nhặt được trong hộp để giày, một bông hoa chúng ta ép vào trang sách, mối quan tâm của chúng ta đối với một con chim non rơi khỏi tổ, một điều ước chúng ta đã thực hiện khi ngắt một bông hoa cúc. Tất cả những điều nhỏ nhặt này, bản thân chúng rất bình thường nhưng lại phi thường đối với chúng ta, không bao giờ có thể ghi lại được bằng các thuật toán. Cái nĩa, câu chuyện cười, cửa sổ, quả bóng, hộp để giày, cuốn sách, con chim, bông hoa: tất cả những thứ đó đều sống mãi như những kỷ niệm quý giá “được lưu giữ” sâu trong trái tim chúng ta.

21. This profound core, present in every man and woman, is not that of the soul, but of the entire person in his or her unique psychosomatic identity. Everything finds its unity in the heart, which can be the dwelling-place of love in all its spiritual, psychic and even physical dimensions. In a word, if love reigns in our heart, we become, in a complete and luminous way, the persons we are meant to be, for every human being is created above all else for love. In the deepest fibre of our being, we were made to love and to be loved.

Điều căn cốt sâu xa này, hiện diện nơi mỗi người nam-nữ, không phải là cốt lõi của linh hồn mà là của toàn bộ con người trong căn tính tâm thể độc đáo của họ. Mọi sự đều thấy có sự thống nhất trong trái tim, trái tim có thể là nơi cư ngụ của tình yêu trong mọi chiều kích thuộc tâm thần, tâm linh và thậm chí cả thể lý. Tắt một lời, nếu tình yêu ngự trị trong trái tim chúng ta, chúng ta sẽ trở thành những người mà chúng ta mong muốn một cách trọn vẹn và sáng ngời, bởi vì mỗi người trước hết và trên hết được tạo dựng để yêu. Trong sâu thẳm nhất của con người, chúng ta được dựng nên để yêu và được yêu.

22. For this reason, when we witness the outbreak of new wars, with the complicity, tolerance or indifference of other countries, or petty power struggles over partisan interests, we may be tempted to conclude that our world is losing its heart. We need only to see and listen to the elderly women – from both sides – who are at the mercy of these devastating conflicts. It is heart-breaking to see them mourning for their murdered grandchildren, or longing to die themselves after losing the homes where they spent their entire lives. Those women, who were often pillars of strength and resilience amid life’s difficulties and hardships, now, at the end of their days, are experiencing, in place of a well-earned rest, only anguish, fear and outrage. Casting the blame on others does not resolve these shameful and tragic situations. To see these elderly women weep, and not feel that this is something intolerable, is a sign of a world that has grown heartless.

Vì lý do này, khi chúng ta chứng kiến ​​sự bùng nổ của những cuộc chiến tranh mới, với sự đồng lõa, khoan dung hoặc thờ ơ của các quốc gia khác, hoặc những cuộc tranh giành quyền lực nhỏ nhặt vì lợi ích phe nhóm, chúng ta có lẽ bị cám dỗ kết luận rằng thế giới chúng ta đang mất tâm lòng. Chúng ta chỉ cần nhìn và lắng nghe những người phụ nữ lớn tuổi – của cả hai phe – những nạn nhân phải chịu đựng những cuộc xung đột tàn khốc này. Thật đau lòng khi thấy họ khóc thương những đứa cháu bị sát hại, hay mong được chết sau khi mất đi ngôi nhà mà cả cuộc đời họ đã sống trong đó. Những người phụ nữ đó, vốn thường là rường cột của sức mạnh và sự kiên cường giữa những khó khăn, vất vả của cuộc sống. Thế mà giờ đây, vào cuối đời mình, thay vì được nghỉ ngơi xứng đáng thì phải trải qua nỗi thống khổ, sợ hãi và phẫn nộ. Đổ lỗi cho tha nhân thì không giải quyết được những tình huống đáng xấu hổ và bi thảm này. Chứng kiến ​​những người phụ nữ lớn tuổi này khóc mà không cảm thấy có một điều gì đó không thể chịu đựng được, thì đó là dấu chỉ của một thế giới ngày càng trở nên vô tâm.

23. Whenever a person thinks, questions and reflects on his or her true identity, strives to understand the deeper questions of life and to seek God, or experiences the thrill of catching a glimpse of truth, it leads to the realization that our fulfilment as human beings is found in love. In loving, we sense that we come to know the purpose and goal of our existence in this world. Everything comes together in a state of coherence and harmony. It follows that, in contemplating the meaning of our lives, perhaps the most decisive question we can ask is, “Do I have a heart?”

Bất cứ khi nào một người suy nghĩ, đặt vấn đề và suy ngẫm về căn tính thực sự của mình, cố gắng tìm hiểu những vấn đề sâu sắc hơn của cuộc sống và tìm kiếm Thiên Chúa, hoặc cảm thấy phấn khích khi thoáng thấy chân lý, điều đó sẽ dẫn chúng ta đến việc nhận ra rằng sự thỏa mãn của chúng ta trong vai trò làm người được tìm thấy trong tình yêu. Khi yêu, chúng ta cảm nhận được rằng chúng ta đi đến nhận biết được mục đích và mục tiêu hiện hữu của mình trên thế gian này. Mọi thứ kết hợp với nhau trong trạng thái mạch lạc và hài hòa. Theo đó, khi chiêm niệm về ý nghĩa cuộc đời, có lẽ câu hỏi mang tính quyết định nhất mà chúng ta có thể hỏi là: “Tôi có trái tim không?”

FIRE

24. All that we have said has implications for the spiritual life. For example, the theology underlying the Spiritual Exercises of Saint Ignatius Loyola is based on “affection” ( affectus). The structure of the Exercises assumes a firm and heartfelt desire to “rearrange” one’s life, a desire that in turn provides the strength and the wherewithal to achieve that goal. The rules and the compositions of place that Ignatius furnishes are in the service of something much more important, namely, the mystery of the human heart. Michel de Certeau shows how the “movements” of which Ignatius speaks are the “inbreaking” of God’s desire and the desire of our own heart amid the orderly progression of the meditations. Something unexpected and hitherto unknown starts to speak in our heart, breaking through our superficial knowledge and calling it into question. This is the start of a new process of “setting our life in order”, beginning with the heart. It is not about intellectual concepts that need to be put into practice in our daily lives, as if affectivity and practice were merely the effects of – and dependent upon – the data of knowledge. [16]

NGỌN LỬA

Tất cả những điều chúng tôi vừa trình bày đều ám chỉ đến đời sống tâm linh. Chẳng hạn, thần học làm nền tảng cho Linh Thao của thánh Ignatiô Loyola dựa trên “tình cảm” (affectus). Cấu trúc của Linh thao dựa trên ước muốn mạnh mẽ và chân thành để “sắp xếp lại” cuộc sống của một người, từ đó mang lại cho người đó sức mạnh và nguồn lực để hoàn thành mục tiêu. Các quy tắc và sự bố trí nơi chốn mà Thánh Ignatiô cung cấp nhằm phục vụ cho một điều quan trọng hơn nhiều, đó là điều bí ẩn của trái tim con người. Michel de Certeau chứng minh rằng “các chuyển động” mà thánh Ignatiô nói đến là “sự xâm nhập” vào ước muốn của cả Thiên Chúa lẫn tâm lòng chúng ta trong tiến trình suy niệm có thứ tự. Trái tim bắt đầu nói với chúng ta theo một cách đáng ngạc nhiên và chưa từng có, thách đố sự hiểu biết hời hợt của chúng ta. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của một tiến trình mới bắt đầu từ trái tim: “sắp xếp cuộc sống của chúng ta cho có trật tự”. Mặc dù cảm tính và thực hành chỉ là kết quả của – và phụ thuộc vào – dữ liệu kiến ​​thức, nhưng nó không phải là những khái niệm thuộc trí cần được áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta.[16]

25. Where the thinking of the philosopher halts, there the heart of the believer presses on in love and adoration, in pleading for forgiveness and in willingness to serve in whatever place the Lord allows us to choose, in order to follow in his footsteps. At that point, we realize that in God’s eyes we are a “Thou”, and for that very reason we can be an “I”. Indeed, only the Lord offers to treat each one of us as a “Thou”, always and forever. Accepting his friendship is a matter of the heart; it is what constitutes us as persons in the fullest sense of that word.

Nơi nào các triết gia không thể suy tưởng tới, nơi đó trái tim của người tín hữu sẽ tiếp cận bằng tình yêu và tôn thờ, khi xin ơn tha thứ và sẵn sàng phục vụ bất cứ nơi đâu Chúa cho phép, để bước theo vết chân Người. Vào lúc đó, chúng ta nhận ra rằng trong mắt Chúa, chúng ta là một người “Bạn”, và chính vì lý do đó mà chúng ta có thể là “Tôi”. Thật vậy, chỉ có Chúa mới có thể đối xử với mỗi người chúng ta như một người “Bạn”, luôn luôn và mãi mãi. Chấp nhận tình bạn của Người chính là vấn đề của trái tim; nó là thứ tạo nên chúng ta trong vai trò là những con người theo nghĩa đầy đủ nhất của từ đó.

26. Saint Bonaventure tells us that in the end we should not pray for light, but for “raging fire”. [17] He teaches that, “faith is in the intellect, in such a way as to provoke affection. In this sense, for example, the knowledge that Christ died for us does not remain knowledge, but necessarily becomes affection, love”. [18] Along the same lines, Saint John Henry Newman took as his motto the phrase Cor ad cor loquitur, since, beyond all our thoughts and ideas, the Lord saves us by speaking to our hearts from his Sacred Heart. This realization led him, the distinguished intellectual, to recognize that his deepest encounter with himself and with the Lord came not from his reading or reflection, but from his prayerful dialogue, heart to heart, with Christ, alive and present. It was in the Eucharist that Newman encountered the living heart of Jesus, capable of setting us free, giving meaning to each moment of our lives, and bestowing true peace: “O most Sacred, most loving Heart of Jesus, Thou art concealed in the Holy Eucharist, and Thou beatest for us still… I worship Thee then with all my best love and awe, with my fervent affection, with my most subdued, most resolved will. O my God, when Thou dost condescend to suffer me to receive Thee, to eat and drink Thee, and Thou for a while takest up Thy abode within me, O make my heart beat with Thy Heart. Purify it of all that is earthly, all that is proud and sensual, all that is hard and cruel, of all perversity, of all disorder, of all deadness. So fill it with Thee, that neither the events of the day nor the circumstances of the time may have power to ruffle it, but that in Thy love and Thy fear it may have peace”. [19]

Thánh Bonaventura nói với chúng ta rằng cuối cùng chúng ta không nên xin ánh sáng mà xin “ngọn lửa bùng cháy.”[17] Ngài dạy rằng, “đức tin hiện hữu trong tâm trí, theo nghĩa gợi lên cảm giác yêu mến. Chẳng hạn, theo nghĩa này, việc nhận biết Chúa Kitô đã chịu chết vì chúng ta không còn là kiến thức nữa, nhưng chắc chắn sẽ trở thành tình cảm và tình yêu.”[18] Tương tự, thánh Gioan Henry Newman đã chọn khẩu hiệu cho mình: Cor ad cor loquitur [con tim nói với con tim], vì Chúa cứu độ chúng ta bằng cách nói với con tim chúng ta từ sâu thẳm Thánh Tâm Người, điều này vượt trên mọi hiểu biết của chúng ta. Nhận thức này đã khiến ngài, một trí thức nổi tiếng, nhận ra rằng cuộc gặp gỡ sâu sắc nhất của ngài với chính mình và với Chúa không đến từ việc đọc sách hay suy tư, mà từ cuộc đối thoại cầu nguyện, lòng kề lòng, với Chúa Kitô, Đấng đang sống và hiện diện. Chính trong Bí tích Thánh Thể mà thánh Newman đã gặp gỡ con tim sống động của Chúa Giêsu, có khả năng giải phóng chúng ta, mang lại ý nghĩa cho từng khoảnh khắc của cuộc đời chúng ta và phú ban bình an đích thực: “Ôi Trái Tim Cực Thánh, Đầy Yêu Thương của Chúa Giêsu, Đấng ẩn mình trong bí tích Thánh Thể Thánh Thể, và trái tim Người vẫn đập liên hồi vì chúng con… Vì vậy, con xin tôn thờ Người bằng tất cả tình yêu và lòng kính sợ nhất của con, với tình cảm nồng nàn, cùng với ý chí khiêm nhường và kiên quyết nhất của con. Ôi lạy Thiên Chúa của con, khi Người hạ mình cho phép con đón rước Người, ăn-uống Người và Người tạm ngự vào lòng con, xin hãy làm cho trái tim con cùng nhịp đập với Trái Tim Chúa. Xin hãy thanh tẩy tim con sạch mọi ô nhơ của trần gian, sạch mọi điều kiêu căng và nhục dục, mọi sự cứng nhắc và tàn nhẫn, mọi sai trái, mọi sự hỗn loạn và chết chóc. Cuối cùng, hãy lấp đầy tim con bằng chính Người, để không một biến cố nào trong ngày, cũng như không có hoàn cảnh trong thời đại có thể làm tim con xao động, nhưng nhờ tình yêu và lòng kính sợ Người, trái tim con mới được bình an.”[19]

27. Before the heart of Jesus, living and present, our mind, enlightened by the Spirit, grows in the understanding of his words and our will is moved to put them into practice. This could easily remain on the level of a kind of self-reliant moralism. Hearing and tasting the Lord, and paying him due honour, however, is a matter of the heart. Only the heart is capable of setting our other powers and passions, and our entire person, in a stance of reverence and loving obedience before the Lord.

Trước Thánh Tâm sống động và hiện diện của Chúa Giêsu, lý trí chúng ta, được Chúa Thánh Thần soi sáng, ngày càng hiểu sâu hơn Lời Người và ý chí của chúng ta được thôi thúc để thực hành Lời dạy đó. Điều này có thể dễ dàng dẫn đến một loại chủ nghĩa đạo đức tự lực. Tuy nhiên, việc lắng nghe, cảm nếm và tôn vinh Người đúng mức là vai trò của trái tim. Toàn bộ con người chúng ta, bao gồm cả những đam mê và năng lực khác nhau, chỉ có thể được đưa vào đúng vị trí yêu thương vâng phục và tôn kính trước mặt Chúa chỉ bằng con tim của chúng ta.

THE WORLD CAN CHANGE, BEGINNING WITH THE HEART

28. It is only by starting from the heart that our communities will succeed in uniting and reconciling differing minds and wills, so that the Spirit can guide us in unity as brothers and sisters. Reconciliation and peace are also born of the heart. The heart of Christ is “ecstasy”, openness, gift and encounter. In that heart, we learn to relate to one another in wholesome and happy ways, and to build up in this world God’s kingdom of love and justice. Our hearts, united with the heart of Christ, are capable of working this social miracle.

THẾ GIỚI CÓ THỂ THAY ĐỔI BẮT ĐẦU BẰNG TRÁI TIM

Chỉ khi bắt đầu từ trái tim, các cộng đoàn của chúng ta mới thành công trong việc hợp nhất và hòa giải những tâm hồn và ý chí khác biệt nhau, để Chúa Thánh Thần có thể hướng dẫn chúng ta trong sự hiệp nhất như là những anh chị em của nhau. Hòa giải và hòa bình cũng được sinh ra từ trái tim. Trái tim Chúa Kitô là sự “ngây ngất”, là sự cởi mở, là món quà và là nơi gặp gỡ. Trong trái tim đó, chúng ta học cách liên hệ với nhau một cách lành mạnh và hạnh phúc, để xây dựng nên vương quốc tình yêu và công lý của Thiên Chúa trên mặt đất này. Trái tim chúng ta, khi hiệp nhất với trái tim của Chúa Kitô, có khả năng làm nên một phép lạ này về mặt xã hội.

29. Taking the heart seriously, then, has consequences for society as a whole. The Second Vatican Council teaches that, “every one of us needs a change of heart; we must set our gaze on the whole world and look to those tasks we can all perform together in order to bring about the betterment of our race”. [20] For “the imbalances affecting the world today are in fact a symptom of a deeper imbalance rooted in the human heart”. [21] In pondering the tragedies afflicting our world, the Council urges us to return to the heart. It explains that human beings “by their interior life, transcend the entire material universe; they experience this deep interiority when they enter into their own heart, where God, who probes the heart, awaits them, and where they decide their own destiny in the sight of God”. [22]

Vì vậy, sẽ có những tác động đến toàn xã hội khi vấn đề trái tim được coi trọng. Công đồng Vatican II dạy rằng: “Tất cả mỗi người chúng ta cần thay đổi tâm hồn; chúng ta càn phải hướng tầm nhìn ra toàn thế giới và xem xét các nhiệm vụ mà tất cả chúng ta có thể cùng nhau đảm nhận nhằm làm cho nhân loại tiến triển tốt đẹp hơn.”[20] Vì “thực tế, những sự mất quân bình đang ảnh hưởng trên thế giới ngày nay là một triệu chứng mất cân bình sâu sắc hơn bắt nguồn từ trái tim con người.”[21] Khi suy ngẫm về những bi kịch đang gây đau khổ cho thế giới của chúng ta, Công đồng kêu gọi chúng ta hãy quay về với lòng mình. Điều đó muốn nói rằng con người “nhờ có nội tâm, con người vượt trên vũ trụ vật chất; con người cảm nghiệm được nội tâm sâu sắc này khi họ tìm về với chính lòng mình, ở đó, Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn, đang chờ đợi họ, và cũng nơi đó, chính con người tự định đoạt vận mệnh riêng của mình trước mặt Thiên Chúa.”[22]

30. This in no way implies an undue reliance on our own abilities. Let us never forget that our hearts are not self-sufficient, but frail and wounded. They possess an ontological dignity, yet at the same time must seek an ever more dignified life. [23] The Second Vatican Council points out that “the ferment of the Gospel has aroused and continues to arouse in human hearts an unquenchable thirst for human dignity”. [24] Yet to live in accordance with this dignity, it is not enough to know the Gospel or to carry out mechanically its demands. We need the help of God’s love. Let us turn, then, to the heart of Christ, that core of his being, which is a blazing furnace of divine and human love and the most sublime fulfilment to which humanity can aspire. There, in that heart, we truly come at last to know ourselves and we learn how to love.

Điều này không hề có hàm ý phụ thuộc quá mức vào khả năng của chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng trái tim của chúng ta không tự chủ được, trái lại còn yếu đuối và dễ bị tổn thương. Tự bản thể, con tim tự nó có phẩm giá, nhưng chúng cũng cần phải cố gắng đạt đến cuộc sống có phẩm giá hơn trước kia.[23] Công đồng Vatican II chỉ ra rằng “Chất men Tin Mừng đã và đang làm dậy lên trong trong trái tim con người một cơn khát không thể nguôi ngoai về phẩm giá con người”.[24] Tuy nhiên, để sống phù hợp với phẩm giá này, việc biết Tin Mừng hay thực hiện những đòi hỏi của Tin Mừng một cách máy móc là vẫn chưa đủ. Chúng ta cần tình yêu Thiên Chúa trợ giúp. Vì vậy, chúng ta cần phải hướng về trái tim Chúa Kitô, cốt lõi của hữu thể của Người, là lò lửa rực cháy của tình yêu Thiên Chúa làm người, đồng thời là sự viên mãn cao cả nhất mà nhân loại có thể khao khát. Ở đó, trong trái tim đó, cuối cùng chúng ta thực sự hiểu được chính mình và học cách yêu thương.

31. In the end, that Sacred Heart is the unifying principle of all reality, since “Christ is the heart of the world, and the paschal mystery of his death and resurrection is the centre of history, which, because of him, is a history of salvation”. [25] All creatures “are moving forward with us and through us towards a common point of arrival, which is God, in that transcendent fullness where the risen Christ embraces and illumines all things”. [26] In the presence of the heart of Christ, I once more ask the Lord to have mercy on this suffering world in which he chose to dwell as one of us. May he pour out the treasures of his light and love, so that our world, which presses forward despite wars, socio-economic disparities and uses of technology that threaten our humanity, may regain the most important and necessary thing of all: its heart.

Vì “Chúa Kitô là trung tâm (trái tim) của thế giới, và mầu nhiệm vượt qua trong cái chết và phục sinh của Người là trung tâm của lịch sử, mà vì Người là lịch sử cứu độ, nên Thánh Tâm cuối cùng là yếu tố đóng vai trò hợp nhất mọi thực tại.[25] Trong sự viên mãn siêu việt đó, nơi Chúa Kitô phục sinh ấp ủ và soi sáng mọi sự, mọi tạo vật “đang tiến về phía trước với chúng ta và qua chúng ta hướng đến một mục đích chung, đó chính là Thiên Chúa.”[26] Trước sự hiện diện của trái tim Chúa Kitô, một lần nữa tôi cầu xin Chúa thương xót thế giới đau khổ này, thế giới mà Người đã chọn sống như một người trong chúng ta. Xin Người tuôn đổ kho tàng ánh sáng và tình yêu của Người để thế giới chúng ta, đang tiến về phía trước bất chấp chiến tranh, bất bình đẳng kinh tế xã hội và những tiến bộ công nghệ đang gây nguy hiểm cho nhân loại, có thể lấy lại được điều cần thiết và quan trọng nhất, đó chính là trái tim.

CHƯƠNG HAI:
HÀNH ĐỘNG VÀ LỜI NÓI CỦA TÌNH YÊU

32. The heart of Christ, as the symbol of the deepest and most personal source of his love for us, is the very core of the initial preaching of the Gospel. It stands at the origin of our faith, as the wellspring that refreshes and enlivens our Christian beliefs.

Trái tim Chúa Kitô, biểu tượng cho nguồn mạch sâu xa nhất và riêng tư nhất của tình yêu của Người dành cho chúng ta, là cốt lõi của việc rao giảng Tin Mừng đầu tiên. Nó hiện hữu trong nguồn gốc của đức tin chúng ta, như nguồn suối làm tươi mới và sinh động niềm tin người Kitô hữu chúng ta.

ACTIONS THAT REFLECT THE HEART

33. Christ showed the depth of his love for us not by lengthy explanations but by concrete actions. By examining his interactions with others, we can come to realize how he treats each one of us, even though at times this may be difficult to see. Let us now turn to the place where our faith can encounter this truth: the word of God.

HÀNH ĐỘNG PHẢN ÁNH TẤM LÒNG

Chúa Kitô bày tỏ tình yêu sâu thẳm của Người dành cho chúng ta không phải bằng những lời giải thích dài dòng mà bằng những hành động cụ thể. Bằng cách xem lại sự gặp gỡ của Người với tha nhân, chúng ta có thể nhận ra cách thế Người đối xử với mỗi người trong chúng ta, dù đôi khi điều này có lẽ khó thấy được. Giờ đây chúng ta hãy hướng tới nơi mà đức tin của chúng ta có thể chạm tới chân lý này, đó là Lời Chúa.

34. The Gospel tells us that Jesus “came to his own” (cf. Jn1,11). Those words refer to us, for the Lord does not treat us as strangers but as a possession that he watches over and cherishes. He treats us truly as “his own”. This does not mean that we are his slaves, something that he himself denies: “I do not call you servants” (Jn15,15). Rather, it refers to the sense of mutual belonging typical of friends. Jesus came to meet us, bridging all distances; he became as close to us as the simplest, everyday realities of our lives. Indeed, he has another name, “Emmanuel”, which means “God with us”, God as part of our lives, God as living in our midst. The Son of God became incarnate and “emptied himself, taking the form of a slave” (Phil 2,7).

Tin Mừng cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu “đã đến nhà mình” (x. Ga 1,11). Các lời đó đề cập đến chúng ta, vì Chúa không đối xử với chúng ta như những người xa lạ mà là tài sản để Người bảo vệ và yêu thương. Người đối xử với chúng ta thực sự như “của riêng Người”. Điều này không có nghĩa là chúng ta là nô lệ của Người, điều mà chính Người đã phủ nhận: “Thầy không gọi các con là tôi tớ” (Ga 15,15). Đúng hơn, nó đề cập đến tình cảm gắn bó hỗ tương thuộc về nhau tiêu biểu cho tình bạn. Chúa Giêsu đến gặp gỡ chúng ta, kết nối mọi khoảng cách; Người trở nên gần gũi với chúng ta như những chuyện thực tế đơn sơ hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Thật vậy, Người còn có một danh hiệu khác là “Emmanuel”, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Thiên Chúa trở thành một phần trong cuộc sống của chúng ta và Thiên Chúa sống giữa chúng ta. Con Thiên Chúa đã nhập thể và “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7).

35. This becomes clear when we see Jesus at work. He seeks people out, approaches them, ever open to an encounter with them. We see it when he stops to converse with the Samaritan woman at the well where she went to draw water (cf. Jn4:5-7). We see it when, in the darkness of night, he meets Nicodemus, who feared to be seen in his presence (cf. Jn3,1-2). We marvel when he allows his feet to be washed by a prostitute (cf. Lk 7,36-50), when he says to the woman caught in adultery, “Neither do I condemn you” (Jn 8,11), or again when he chides the disciples for their indifference and quietly asks the blind man on the roadside, “What do you want me to do for you?” (Mk 10,51). Christ shows that God is closeness, compassion and tender love.

Điều này trở nên rõ ràng khi chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu đang làm việc. Người tìm đến với mọi người, tiếp cận, và luôn sẵn sàng trò chuyện với họ. Chúng ta thấy điều đó khi Người dừng lại trò chuyện với người phụ nữ Samaria ở cái giếng nơi bà đến múc nước (x. Ga 4,5-7). Chúng ta thấy điều đó khi vào ban đêm, Người gặp Nicôđêmô, vì ông sợ mọi người nhìn thấy (x. Ga 3,1-2). Chúng ta ngạc nhiên khi Người cho phép một kỹ nữ rửa chân cho mình (x. Lc 7,36-50); khi Người nói với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: “Tôi cũng không lên án chị đâu” (Ga 8,11); hoặc một lần khi Người khiển trách các môn đệ vì sự thờ ơ của họ và nhỏ nhẹ hỏi người mù bên vệ đường: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,51). Chúa Kitô cho thấy Thiên Chúa là Đấng gần gũi, xót thương và trìu mến.

36. Whenever Jesus healed someone, he preferred to do it, not from a distance but in close proximity: “He stretched out his hand and touched him” ( Mt8,3). “He touched her hand” ( Mt8,15). “He touched their eyes” ( Mt 9,29). Once he even stopped to cure a deaf man with his own saliva (cf. Mk 7,33), as a mother would do, so that people would not think of him as removed from their lives. “The Lord knows the fine science of the caress. In his compassion, God does not love us with words; he comes forth to meet us and, by his closeness, he shows us the depth of his tender love”. [27]

Bất cứ khi nào Chúa Giêsu chữa lành cho một ai, Người thích làm điều đó, không phải từ xa mà là ở gần gũi: “Người giơ tay đụng vào anh” (Mt 8,3). “Người đụng vào tay bà” (Mt 8,15). “Người sờ vào mắt họ” (Mt 9,29). Có lần Người thậm chí còn dừng lại để chữa lành một người điếc bằng chính nước bọt của mình (x. Mc 7,33), như một người mẹ thường làm, để người ta không nghĩ rằng Người tránh xa cuộc sống của họ. “Chúa biết kỹ thuật chăm sóc một cách tinh tế. Với lòng thương xót, Thiên Chúa không yêu thương chúng ta bằng đầu môi chót lưỡi; Người đến gặp gỡ chúng ta và bằng sự gần gũi của mình, Người cho chúng ta thấy chiều sâu tình yêu dịu dàng của Người”.[27]

37. If we find it hard to trust others because we have been hurt by lies, injuries and disappointments, the Lord whispers in our ear: “Take heart, son!” (Mt9,2), “Take heart, daughter!” (Mt9,22). He encourages us to overcome our fear and to realize that, with him at our side, we have nothing to lose. To Peter, in his fright, “Jesus immediately reached out his hand and caught him”, saying, “You of little faith, why did you doubt?” (Mt 14,31). Nor should you be afraid. Let him draw near and sit at your side. There may be many people we distrust, but not him. Do not hesitate because of your sins. Keep in mind that many sinners “came and sat with him” (Mt 9,10), yet Jesus was scandalized by none of them. It was the religious élite that complained and treated him as “a glutton and a drunkard, a friend of tax collectors and sinners” (Mt 11,19). When the Pharisees criticized him for his closeness to people deemed base or sinful, Jesus replied, “I desire mercy, not sacrifice” (Mt 9,13).

Nếu chúng ta thấy thiếu tin tưởng người khác vì chúng ta bị tổn thương bởi sự lừa dối, tổn thương và thất vọng, thì Chúa thì thầm vào tai chúng ta: “Này con, cứ yên tâm” (Mt 9,2), “Này con, cứ yên tâm” (Mt 9,22). Người khuyến khích chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi và nhận ra rằng, có Người ở bên, chúng ta chẳng mất cái gì. Đối với thánh Phêrô, trong cơn sợ hãi, “Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” (Mt 14,31). Các con cũng không nên sợ hãi. Hãy để Người đến gần và ngồi bên cạnh các con. Có lẽ có nhiều người chúng ta không tin tưởng, nhưng không phải Người. Đừng ngại vì tội lỗi của các con. Hãy nhớ rằng có nhiều kẻ tội lỗi “đến ngồi với Người” (Mt 9,10). Tuy nhiên, Chúa Giêsu không hề bị người nào trong họ xúc phạm. Chính các lãnh đạo tôn giáo đã than phiền về điều đó và coi Người như một “tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Mt 11,19). Khi những người Pharisêu chỉ trích Người vì sự gần gũi của Người với những người bị coi là hèn kém hoặc tội lỗi, Chúa Giêsu đã trả lời: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.” (Mt 9,13).

38. That same Jesus is now waiting for you to give him the chance to bring light to your life, to raise you up and to fill you with his strength. Before his death, he assured his disciples, “I will not leave you orphaned; I am coming to you. In a little while the world will no longer see me, but you will see me” (Jn14,18-19). Jesus always finds a way to be present in your life, so that you can encounter him.

Cũng chính Chúa Giêsu đó đang chờ đợi các con tạo cho Người cơ hội mang lại ánh sáng cho cuộc đời các con, nâng đỡ các con và đổ tràn sức mạnh của Người cho các con. Trước khi chịu nạn chịu chết, Người khẳng định với các môn đệ rằng: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy.” (Ga 14,18-19). Chúa Giêsu luôn tìm cách hiện diện trong cuộc đời các con, để các con có thể gặp gỡ được Người.

JESUS’ GAZE

39. The Gospel tells us that a rich man came up to Jesus, full of idealism yet lacking in the strength needed to change his life. Jesus then “looked at him” (Mk10,21). Can you imagine that moment, that encounter between his eyes and those of Jesus? If Jesus calls you and summons you for a mission, he first looks at you, plumbs the depths of your heart and, knowing everything about you, fixes his gaze upon you. So it was when, “as he walked by the Sea of Galilee, he saw two brothers… and as he went from there, he saw two other brothers” (Mt4,18, 21).

ÁNH MẮT CỦA CHÚA GIÊSU

Tin Mừng cho chúng ta biết, có một người giàu đến gặp Chúa Giêsu, đầy lý tưởng nhưng lại thiếu sức mạnh cần có để thay đổi cuộc đời mình. Sau đó Chúa Giêsu “đưa mắt nhìn anh ta” (Mc 10,21). Các con có thể tưởng tượng thấy khoảnh khắc đó, sự tiếp xúc trực tiếp giữa đôi mắt của anh ta và đôi mắt của Chúa Giêsu không? Nếu Chúa Giêsu kêu gọi các con và triệu tập các con để sai đi truyền giáo, trước tiên Người nhìn các con, thăm dò lòng các con và biết mọi sự về các con, Người chăm chú nhìn các con. Đó là khi “Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia… Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác” (Mt 4,18-21).

40. Many a page of the Gospel illustrates how attentive Jesus was to individuals and above all to their problems and needs. We are told that, “when he saw the crowds, he had compassion for them, because they were harassed and helpless” (Mt9,36). Whenever we feel that everyone ignores us, that no one cares what becomes of us, that we are of no importance to anyone, he remains concerned for us. To Nathanael, standing apart and busy about his own affairs, he could say, “I saw you under the fig tree before Philip called you” (Jn1,48).

Nhiều trang Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu đã quan tâm như thế nào đến từng cá nhân và trên hết là những nỗi khổ và nhu cầu của họ. Chúng ta được biết “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Người vẫn quan tâm đến chúng ta nếu chúng ta cảm thấy mình không quan trọng đối với mọi người, không ai quan tâm đến chúng ta hoặc đến những gì xảy ra với chúng ta. Với Nathanaen, ông đang ở một mình và bận rộn với công việc riêng của ông, Người đã nói với ông: “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi” (Ga 1,48).

41. Precisely out of concern for us, Jesus knows every one of our good intentions and small acts of charity. The Gospel tells us that once he “saw a poor widow put in two small copper coins” in the Temple treasury (Lk21,2) and immediately brought it to the attention of his disciples. Jesus thus appreciates the good that he sees in us. When the centurion approached him with complete confidence, “Jesus listened to him and was amazed” (Mt8,10). How reassuring it is to know that, even if others are not aware of our good intentions or actions, Jesus sees them and regards them highly.

Chính vì quan tâm đến chúng ta, Chúa Giêsu biết các dự định tốt lành cũng như những hành động bác ái khiêm tốn của chúng ta. Tin Mừng cho chúng ta biết, có lần Người “thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm” ở kho bạc Đền Thờ (Lc 21,2) và ngay lập tức Người chỉ cho các môn đệ thấy. Do đó, Chúa Giêsu đánh giá cao những điều tốt đẹp Người thấy nơi chúng ta. Khi viên đội trưởng đến gần Người bằng một xác tín mạnh mẽ: Đức Giê-su lắng nghe ông ta và rất ngạc nhiên (x. Mt 8,10). Thật an ủi biết bao khi biết rằng Chúa Giêsu nhìn thấy và trân trọng những việc làm và ý định tốt lành của chúng ta, dù không ai quan tâm đến những điều đó.

42. In his humanity, Jesus learned this from Mary, his mother. Our Lady carefully pondered the things she had experienced; she “treasured them… in her heart” (Lk2,19, 51) and, with Saint Joseph, she taught Jesus from his earliest years to be attentive in this same way.

Trong bản tính con người của mình, Chúa Giêsu đã học được điều này từ Đức Maria, mẹ Người. Đức Mẹ đã suy đi gẫm lại trong lòng về những điều Mẹ đã trải qua; Mẹ “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy… trong lòng” (Lc 2,19.51) và, cùng với Thánh Giuse, Mẹ đã dạy Chúa Giêsu từ thuở thơ ấu phải lưu tâm đến những điều ấy.

JESUS’ WORDS

43. Although the Scriptures preserve Jesus’ words, ever alive and timely, there are moments when he speaks to us inwardly, calls us and leads us to a better place. That better place is his heart. There he invites us to find fresh strength and peace: “Come to me, all who are weary and are carrying heavy burdens, and I will give you rest” (Mt11,28). In this sense, he could say to his disciples, “Abide in me” (Jn15,4).

LỜI CHÚA GIÊSU

Mặc dù Kinh Thánh ghi lại các lời nói của Chúa Giêsu cách sống động và hợp với mọi thời, nhưng có những lúc Người nói với chúng ta thầm kín bên trong, kêu gọi chúng ta và dẫn chúng ta đến một nơi tốt đẹp hơn. Nơi tốt đẹp hơn đó chính là trái tim của Người. Ở đó, Người mời gọi chúng ta tìm thấy năng lượng tươi mới và sự bình an: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,28). Theo nghĩa này, Người có thể nói với các môn đệ của mình: “Hãy ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).

44. Jesus’ words show that his holiness did not exclude deep emotions. On various occasions, he demonstrated a love that was both passionate and compassionate. He could be deeply moved and grieved, even to the point of shedding tears. It is clear that Jesus was not indifferent to the daily cares and concerns of people, such as their weariness or hunger: “I have compassion for this crowd… they have nothing to eat… they will faint on the way, and some of them have come from a great distance” (Mk8,2-3).

Những lời của Chúa Giêsu cho thấy sự thánh thiện của Người không loại bỏ những cảm xúc sâu sắc. Trong nhiều dịp khác, Người đã thể hiện một tình yêu vừa nồng nàn vừa giàu lòng trắc ẩn. Người đã vô cùng xúc động và đau buồn, thậm chí đến mức rơi nước mắt. Rõ ràng Chúa Giêsu đã không lãnh đạm với những ưu tư và lo lắng hàng ngày của con người, chẳng hạn như sự mệt mỏi hay đói khát của họ: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì … không có gì ăn!…họ sẽ bị xỉu dọc đường. Trong số đó, lại có những người ở xa đến” (Mc 8,2-3).

45. The Gospel makes no secret of Jesus’ love for Jerusalem: “As he came near and saw the city, he wept over it” (Lk19,41). He then voiced the deepest desire of his heart, “If you had only recognized on this day the things that make for peace” (Lk 19,42). The evangelists, while at times showing him in his power and glory, also portray his profound emotions in the face of death and the grief felt by his friends. Before recounting how Jesus, standing before the tomb of Lazarus, “began to weep” (Jn11,35), the Gospel observes that, “Jesus loved Martha and her sister and Lazarus” (Jn 11,5) and that, seeing Mary and those who were with her weeping, “he was greatly disturbed in spirit and deeply moved” (Jn 11,33). The Gospel account leaves no doubt that his tears were genuine, the sign of inner turmoil. Nor do the Gospels attempt to conceal Jesus’ anguish over his impending violent death at the hands of those whom he had loved so greatly: he “began to be distressed and agitated” (Mk 14,33), even to the point of crying out, “I am deeply grieved, even to death” (Mk 14,34). This inner turmoil finds its most powerful expression in his cry from the cross: “My God, my God, why have you forsaken me?” (Mk 15,34).

Tin Mừng không che giấu tình thương của Chúa Giêsu dành cho thành thánh Giêrusalem: “Khi đến gần Giê-ru-sa-lem và trông thấy thành, Đức Giê-su khóc thương” (Lc 19,41). Rồi Người nói lên ước ao sâu sắc nhất trong lòng mình: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi!” (Lc 19,42). Các tác giả Tin Mừng đôi khi cho thấy quyền năng và vinh quang của Người, nhưng cũng miêu tả những cảm xúc sâu đậm của Người khi đối diện với cái chết và nỗi đau buồn của các bạn hữu. Trước khi kể lại chuyện Chúa Giêsu “liền khóc” như thế nào khi đứng trước mộ Ladarô (Ga 11,35), Tin Mừng thấy rằng: “Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.” (Ga 11,5) và khi nhìn thấy Maria và những người ở cùng cô đang khóc, “Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến” (Ga 11,33). Lời tường thuật trong Tin Mừng không để lại điều gì đáng nghi ngờ vì những giọt nước mắt của Người là thật, dấu hiệu của sự rối loạn nội tâm. Các Tin Mừng cũng không cố gắng che giấu nỗi thống khổ của Chúa Giêsu trước cái chết tàn bạo sắp xảy ra dưới bàn tay của những kẻ Người vô cùng yêu mến: “Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến” (Mc 14,33), đến mức phải kêu lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14,34). Sự rối loạn nội tâm này được thể hiện mạnh mẽ nhất trong tiếng kêu của Người trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34).

GHI CHÚ

[1] Nhiều bài suy niệm trong chương đầu tiên này được lấy cảm hứng từ những bài viết chưa được xuất bản của cố linh mục Diego Fares, S.J. Xin Chúa ban cho ngài được nghỉ yên muôn đời.

[2] X. HOMER, Iliad, XXI, 441.

[3] X. Iliad, X, 244.

[4] X. PLATO, Timaeus, 65 c-d; 70.

[5] Bài giảng trong Thánh Lễ Sáng tại Nhà Nguyện Thánh Matta, 14-10-2016: L’Osservatore Romano, 15-10-2016, tr. 8.

[6] Thánh Gioan Phaolô II, Angelus, 02-07-2000: L’Osservatore Romano, ngày 3 đến 4-07-2000, tr. 4.

[7] ID., Giáo lý, 8-6-1994: L’Osservatore Romano, 9-6-1994, tr. 5.

[8] The Demons (1873).

[9] Romano Guardini, Religiöse Gestalten in Dostojewskijs Werk, Mainz/Paderborn, 1989, tr. 236tt.

[10] KARL RAHNER, “Some Theses for a Theology of Devotion to the Sacred Heart”, in Theological Investigations, vol. III, Baltimore-London, 1967, tr. 332.

[11]  Ibid., tr. 333.

[12] Byung-Chul Han, Heideggers Herz. Zum Begriff der Stimmung bei Martin Heidegger, München, 1996, tr. 39.

[13] Ibid., tr. 60; x. tr. 176.

[14] X. ID., Agonie des Eros, Berlin, 2012.

[15] X. Martin Heidegger, Erläuterungen zu Hölderlins Dichtung, Frankfürt a. M., 1981, tr. 120.

[16] X. MICHEL DE CERTEAU, L’espace du désir ou le «fondement» des Exercises Spirituels: Christus 77 (1973), ptr. 118-128.

[17] Itinerarium Mentis in Deum, VII, 6.

[18] ID., Proemium in I Sent., q. 3.

[19] Thánh Gioan Henry Newman, Meditations and Devotions, London, 1912, Part III [XVI] , phần 3, tr. 573-574.

[20] Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, 82.

[21] Ibid., 10

[22] Ibid., 14.

[23] X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Declaration Dignitas Infinita (2 April 2024), 8. X. L’Osservatore Romano, 8 April 2024.

[24] Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, 26.

[25] Thánh Gioan Phaolô II, Angelus, 28 tháng 6 1998: L’Osservatore Romano, 30 tháng 6-1 tháng 7 1998, tr. 7.

[26] Thông điệp Laudato Si’ (24 May 2015), 83: AAS 107 (2015), 880.

[27] Bài giảng trong Thánh Lễ Sáng tại Nhà Nguyện Thánh Matta, 07-06-2013: L’Osservatore Romano, 08-06-2013, tr. 8.

CÙNG CHUYÊN MỤC

← Mục Lục